Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Sáng nay từ bỏ Trà Vinh sang Đồng Tháp để đi tham quang Phước Kiến Tự ở thành phố Cao Lãnh nổi tiếng ngoài các tượng phật và các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo, còn có một ao rất rộng chứa hàng trăm lá sen to và có hình dáng tựa  như chiếc nón quai thao của những cô gái làng quan họ ở Bắc Ninh. Chắc chắn nguồn gốc nó phải  đến từ  xứ  Ba Tây  thường đựợc gọi là  Victoria amazonica hay là hoa súng to ở vùng Amazone. Theo sách thực vật học  thì phải mất gần 50 năm mới trồng được nó ở Âu Châu sau khi mang nó về  vào năm 1800. Như  vậy chùa nầy có  lá  súng  to (chớ không phải sen) cũng mới đây thôi. Cũng như chùa Mía ở ngoại ô thành phố Hà Nội, muốn đi vào chùa phải đi ngang nơi tụ tập nhiều người  ngồi  buôn bán  dọc theo lề đường để đi vào chùa. Cũng  nhờ đó  chùa nầy trở  thành một điểm tham không thể bỏ qua  ở  vùng Đồng Tháp và cũng đem nguồn lợi  không ít cho cư dân địa phương. 

Đến đây phải ăn chè hột sen rất ngon. Còn muốn chụp hình thì phải  trả tiền  thêm nhưng phải theo cách  chỉ  dẫn đi đến lá súng với một  lối  đi chỉ  định  không phải lá súng nào cũng được.  Thêm vào đó nước ao hồ mang tính acide và giàu azote. Vã lại một lá súng trưởng thành có thể chở được một ngưởi nặng từ 60 đến 70 kí lô mà thôi. Tại sao có thể vì mặt sau của  súng  có  nhiều  đường gân to tỏa ra từ trung tâm ra  đến  mép. Ngoài ra còn có một số nhánh từ  đường gân chính khiến  tạo ra thành một mạng lưới phức tạp và vững mạnh như một bộ xương để hỗ trợ và chịu đựng nỗi trọng lượng quan trọng đấy.

Ce matin, après avoir visité Trà Vinh, nos sommes allés à la province Đồng Tháp pour visiter une pagode nommée Phước Kiến Tự qui est très connue à Cao Lãnh pour ses statues de Bouddha et ses œuvres d’art bouddhique. Cette pagode possède un étang très vaste contenant des centaines de grandes feuilles de lotus semblables aux chapeaux plats à mentonnière garnis de cordons en soie et réservés pour les filles du village de Bắc Ninh. Son origine doit venir sûrement du Brésil. Il est fréquemment appelé sous le nom de Victoria amazonica ou nénuphar géant d’Amazonie. Selon le dictionnaire des plantes, il faut perdre presque 50 ans pour réussir à le faire pousser en Europe après l’avoir ramené en 1800. Donc cette pagode réussit à avoir les feuilles de nénuphar géant à une date récente. Analogue à la pagode Mía de la banlieue de la capitale Hanoï, son entrée est bondée des marchands ambulants. C’est grâce à l’existence de ce nénuphar géant que la pagode devient un lieu touristique incontournable permettant de procurer  aux gens locaux des avantages financiers non négligeables. De passage dans ce lieu, il faut goûter la délicieuse soupe aux graines de lotus.

Pour ceux qui s’intéressent aux photos de souvenir, outre le prix à payer, il faut suivre strictement les indications afin de pouvoir se mettre seulement sur la feuille de nénuphar qu’on a désignée par avance. L’eau de la mare contient de l’acide azoté. De plus, la grande feuille de nénuphar peut porter une personne de 60 à 70 kilos car son dos est garni de nervures robustes partant du centre vers le bord. Il existe également à partir de la nervure principale plusieurs branches formant un réseau solide et complexe ressemblant à une ossature puissante pour le soutien.

This morning, after visiting Trà Vinh, we went to Đồng Tháp province to visit a pagoda called Phước Kiến Tự, which is very famous in Cao Lãnh for its Buddha statues and Buddhist artworks. This pagoda has a very large pond containing hundreds of large lotus leaves resembling flat hats with chin straps adorned with silk cords, reserved for the girls of the Bắc Ninh village. Its origin likely comes from Brazil. It is often called by the name Victoria amazonica or giant Amazon water lily. According to the plant dictionary, it takes almost 50 years to successfully grow it in Europe after bringing it back in 1800. So this pagoda has recently succeeded in having giant water lily leaves. Similar to the Mía pagoda in the suburbs of the capital Hanoi, its entrance is crowded with street vendors. Thanks to the existence of this giant water lily, the pagoda has become a must-visit tourist spot, providing locals with significant financial benefits. When passing through this place, one must taste the delicious lotus seed soup.

For those interested in souvenir photos, besides the fee to pay, one must strictly follow the instructions in order to stand only on the designated water lily leaf assigned in advance. The pond water contains nitric acid. Moreover, the large water lily leaf can support a person weighing 60 to 70 kilograms because its back is equipped with robust ribs extending from the center to the edge. There are also several branches originating from the main rib, forming a solid and complex network resembling a strong framework for support.

Galerie des photos

[Return RELIGION]

 

 

 

Pagode Từ Hiếu (Huế)

 

 


Pagode de la piété filiale

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nằm trên núi Dương Xuân thuộc làng Thủy Xuân và  cách trung tâm thành phố Huế 5 cây số , chùa Từ  Hiếu tọa lạc trong một khu rừng thông tuyệt  vời ở phía bắc lăng vua Tự Đức. Để tưởng nhớ mẹ của ông, ngôi chùa này được xây dựng vào năm 1843 bởi hòa thượng Nhất Định. Được biết đến với cái tên Từ Hiếu để biểu thị sự tận tâm  của ông và lòng hiếu thảo đối với mẹ. Nhưng đó cũng là ngôi chùa của các hoạn quan ở Tử Cấm Thành Huế.

Perchée sur le mont Dương Xuân dans le village de Thủy Xuân et située à 5km du centre-ville de Huế , la pagode Từ hiếu se trouve dans une belle pinède au nord du mausolée de l’empereur Tự Đức. En l’honneur de sa mère, cette pagode  fut édifiée en 1843 par le moine Nhất Đinh. Elle étai connue sous le nom de Từ Hiếu pour signifier le dévouement et la piété  de ce dernier à sa mère. Mais c’était aussi la pagode des eunuques de la cité pourpre interdite de Huế.

Perched on Mount Dương Xuân in the village of Thủy Xuân and located 5km from the center of Huế, the Từ Hiếu pagoda is situated in a beautiful pine forest north of Emperor Tự Đức’s mausoleum. In honor of his mother, this pagoda was built in 1843 by the monk Nhất Đinh. It was known as Từ Hiếu to signify his devotion and filial piety to his mother. But it was also the pagoda of the eunuchs of the Forbidden Purple City of Huế.

[Return Huế]

Phước Minh Cung (Temple de Guan Yu, Trà Vinh)

Phước Minh Cung

Quan Công là người hội đủ các đức tính trung dũng, tình nghĩa, độ lượng và công minh chính trực và cũng  là nhân vật nổi tiếng ở thời Tam Quốc hậu Hán. Chính vì vậy khi ông qua đời, người ta đã tôn thờ ông như một vị thánh. Bởi vậy nơi nào có người Hoa cư trú thường thấy họ hay thờ Quan Công. Ở Trà Vinh nơi thờ ông hay được gọi là Phước Minh Cung.

Étant un personnage réussissant à avoir toutes les vertus de courage, de loyauté, de générosité et de justice, Guan Yu est aussi  l’un des généraux célèbres chinois de l’époque des Trois Royaumes et de la fin des Han. C’est pour cela que  les Chinois le vénèrent comme un Saint lors de sa mort. Partout où la présence des Chinois est importante, on y trouve toujours un temple dédié à ce général. À Trà Vinh, le temple est connu sous le nom de Phước Minh Cung.

PAGODE VAM RAY (Tra Vinh)

Chùa Vàm Ray

Được tọa lạc ở ấp Vàm Ray, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, ngôi chùa nầy không những  mang tính chất kiến trúc đậm chất của người Khơ Me ở Nam Bộ mà còn giữ phong cách của đế chế Angkor. Chùa còn là một ngôi chùa lớn nhất trong số 143 chùa Khơ Me  được liệt kê ở Trà Vinh. Chùa có 4 cổng vào và theo truyền thống cùa người Khơ Me thì cổng chính và toà nhà chính điện phải quay về hướng Đông biểu  tượng cho con đường tu hành của   Phật tử từ Tây sang Đông.  Chính cũng nơi nầy về hướng Đông Nam của chính điện, du khách sẽ thấy được  tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn có chiều dài 54 thước. Còn bên trong chính điện thì được trang trí lộng lẫy với những bức tranh tường nhiều màu sắc, đậm chất văn hóa Khơ Me, kể lại cuộc đời của Đức Phật và giáo lý của Phật giáo.

Étant située dans le hameau de Vam Ray, district de Trà Cú, province de Trà Vinh, cette pagode porte non seulement le caractère architectural du peuple khmer du Sud Vietnam mais aussi le style de l’empire d’Angkor. La pagode est également la plus grande parmi les 143 pagodes recensées dans la province de Trà Vinh. Elle dispose de 4 portes d’entrée. Selon la tradition khmère, la porte principale et le bâtiment principal doivent être orientés vers l’est. C’est le chemin  pris par les pratiquants  bouddhistes  de l’ouest vers l’est.  C’est aussi ici que vers le sud-est du hall principal, les visiteurs verront la statue allongée de 54 mètres du Bouddha Shakyamuni, illustrant son accession au Nirvana. Quant à l’intérieur du bâtiment principal, on voit défiler des peintures murales colorées et imprégnées de la culture khmère, relatant ainsi la vie de Bouddha et les enseignements du bouddhisme.

Thiền viện Trúc Lâm (Trà Vinh)

Institut bouddhique de la secte Forêt des Bambous

Đây là ngôi thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm duy nhất trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, nằm cách xa thành phố  khoảng chừng 50 cây số. Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh được xây dựng trên khuôn viên rộng 7 ha, trong khu du lịch sinh thái từng ngập mặn ven biển, mặt tiền nhìn ra biển Đông bao la.

C’est le monastère unique zen de la secte Forêt des bambous de la province de Trà Vinh. Il est  situé à  peu près de 50 kilomètres du centre-ville. Ce monastère zen a été construit sur un terrain de 7 hectares, dans une zone écotouristique autrefois salée tout le long de la côte et  faisant face à l’immense mer de l’Est.

Pagode de la grotte (Chùa Hang)

Pagode de la Grotte (Chùa Hang)

 

Version française

Lúc đầu nơi có một cây đa cổ thụ nằm trước bến sông nên khi chùa nầy dựng lên vào năm 1637 thì dân cư  gọi nó là  Kompông Chrây có nghĩa là « bến cây đa ». Sau nầy cổng chùa được thiết  kế lại với hình dáng của một cái hang nên  từ đó mới mang tên là chùa hang. Chùa nầy nằm trong một khuôn viên có diện tích là 6ha với một chính điện chùa tọa lạc  trên nền cao có 3 thước, có nhiều bậc cấp dẫn lên, được trang trí lộng lẫy với nhiều hoa văn và họa tiết.  Ở các đầu cột đều có tượng vũ nữ Kẽn naarr dang đôi tay chống đỡ mái chùa. Tượng Phật Thích Ca  to lớn đặt trên cao ở trong chính điện , phía dưới là những tượng Phật Thích Ca nhỏ hơn trong nhiều tư thế khác nhau.  Những tác phẩm điêu khắc cổ được trông thấy ở chùa rất đa dạng và phong phú. Đến Trà Vinh mà không đến chùa Hang là một điều đáng tiếc.

Version française

Au début, il y avait un vieux banian se trouvant devant l’embarcadère de la rivière. Lorsque cette pagode fut construite en l’an 1637, les gens l’appelèrent Kompong Chray, ce qui signifie «embarcadère du banian». Plus tard, la porte d’entrée de la pagode fut remodifiée en prenant  la forme d’une grotte. C’est pourquoi elle a été appelée désormais sous le nom de « pagode de la grotte ». Celle-ci est située sur un terrain d’une superficie de 6 hectares avec un bâtiment principal édifié sur une plate-forme de 3 mètres de haut, avec de nombreuses marches montantes, magnifiquement décoré de nombreux motifs à son intérieur. Aux extrémités des colonnes de l’édifice principal, on voit des statues de la danseuse Ken Narr, soutenir la toiture.
À  l’intérieur de cet édifice,  la grande statue du Bouddha Shakyamuni est arrangée de manière qu’elle soit placée  en haut de toutes les autres statues plus petites du même Bouddha  dans de nombreuses positions différentes. Les sculptures anciennes trouvées dans cette pagode sont très variées et riches. C’est dommage pour le touriste de ne pas visiter la pagode de la grotte lors de son passage à la ville Trà Vinh.

 

Pagode AngKorborajaborey (Chùa Âng)

Pagode AngKorborajaborey

 

Version française

Toạ lạc ở  bên cạnh quốc lộ 53 của tình Trà Vinh, chùa  Angkorajaborey hay là chùa Âng mà người Việt thường gọi, là một ngôi chùa cổ có lâu đời có cà ngàn năm tuổi từ năm 990. Nó nằm cách xa thành phố Trà Vinh khoảng chừng 5 cây số nằm trong một khuôn viên thắng cảnh Ao Bà Ôm với một diện tích khoảng chừng 4 ha và đối diện với Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khơ Me của tỉnh. Đây cũng là một ngôi chùa tiêu biểu trong hệ thống 141 chùa Khơ Me ở Trà Vinh.  Chùa được công nhận là di tích kiến trúc tôn giáo của nguời Khơ Me ở Nam Bộ vào năm 1994.

Version française

Située à côté de l’autoroute 53 de la province de Trà Vinh, la pagode Angkorajaborey ou pagode Âng comme l’appellent souvent les Vietnamiens, est une ancienne pagode vieille de plus de mille ans depuis 990. Elle est située à environ 5 kilomètres de la ville de Trà Vinh, dans la zone pittoresque de l’étang Ba Om possédant une superficie d’environ 4 hectares et elle est en face du musée de la culture ethnique khmère de la province. C’est aussi une pagode  typique du d’un système des 141 pagodes khmères de Trà Vinh. Elle a été reconnue comme  un vestige  architectural religieux du peuple khmer vivant au Sud Vietnam en l’an 1994.

Les pagodes khmères du delta du Mékong

Version française

Dựa trên truyền thuyết về vương triều Chân Lạp: một thầy tu ẩn sĩ Bà-la-môn có nguồn gốc từ mặt trời tên là Kambu Svayambhuva đã được thần Shiva ban phép kết hôn với một tiên nữ có nguồn gốc từ mặt trăng, một nàng Mera xinh đẹp, nhà nghiên cứu văn khắc bản nỗi tiếng Georges Cœdes đưa ra giả thuyết rằng chữ Khmer đến từ  K(ambu) và Merâ vi vậy  sinh ra một dòng dõi những nhà  vua hoặc là các con cháu của Kambujadesha có nghĩa là « đất nước của con cháu Kambu » để giải thích tên của người Khơ Me. Cũng nhờ sự khám phá  chữ Kambujadesha trong một văn bản ở thánh đường Po Nagar (Nha Trang) vào năm 817 mà dưới thời Pháp thuộc chữ Kambuja được phát âm từ đó ra  thành Cambodia (Cao Miên). Bởi vây khi mình đến tham quan các chùa ở Trà Vinh, mình gặp các em trẻ, mình hỏi các em có phải người Miên không ? Chúng trả lời một cách không lưỡng lự : chúng em là người Khơ Me Krom là những ngươì Khơ Me sống ở dưới (Khmers En Bas) khác với người Khơ Me Campuchia tức là những Khơ Me sống ở đồng bằng sông Cửu Long tức là vùng Tây Nam Bộ  đôi khi họ chiếm lên tỷ lệ dân số hơn 30% như các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh. Chữ Miên không được dùng vì  có hàm ý miệt thị cũng như  chữ Mít (Annamite) đối người dân Việt.

Các chùa ở Trà Vinh đều là những chùa Phật giáo Nam Tông (thường gọi là phái Tiểu Thừa). Chủ yếu các chùa nầy truyền bá kinh văn Pali  tức là những văn bản ghi lại nguyên vẹn những lời giảng của Đức Phật trong suốt cuộc đời truyền bá giáo pháp của mình.  Có nhiều bộ phái khác nhau từ lúc đầu nhưng chỉ còn duy nhất hệ phái Thượng tọa bộ (Theravāda) là đại biểu cho hệ Phật giáo Nam truyền. Người Khơ Me họ có tập tục lúc còn trẻ (12 hoặc 13  tuổi) là đi vào chùa tu đề học giáo lý, học chữ Pali và trả hiếu cho cha mẹ nhưng cũng để thành người.  Thời gian tu tập kéo dài ít nhất là  3 tháng nhưng có thể kéo dài hơn  tùy theo nhân duyên và ý nguyện của  mỗi  người. Phải cạo đầu, phải thay quần bằng chiếc xa rông và thay áo bằng chiếc áo trắng (Pênexo)  khoác lên vai từ trái sang phải để từ bỏ trần tục. Để tránh sự tốn kém chi phí nhiều, tất cả những việc nầy đều đựợc tập hợp chung với nhiều người cùng một ngày được gọi là lễ thế phát với sự tham gia của tất cả gia đình.  Dù có xuất tu đi nữa,  những đứa trẻ nầy  được cộng đồng thừa nhận là người trưởng thành, có kiến thức để xây dựng một cuộc sống  hướng thiện và hửu ích cho xã hội. Đến tham quan các chùa ở Trà Vinh mới nhận thấy kiến trúc của các chùa ở nơi nầy nhất là chùa Âng, một chùa cổ xưa có cả nghìn năm lịch sử nó không khác chi kiến trúc mình có dịp thấy trước đây ở Bangkok (Thái Lan) với các tượng thần gác cửa  vân vân…

Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ Pháp Bernard Groslier thì người dân Thái phải đợi ít nhất hai thế  kỷ vể sau để mới  tiếp  thu được bài vở của chủ nhân họ là người  Khơ Me  trước khi mới có thể  thay  thế và vượt qua mặt chủ của họ. Người Thái lập quốc từ thế kỷ 14 sau khi đế chế Angkor bị suy tàn. Như vậy kiến trúc chùa chiền thành vua của người Thái mà mình thấy hoành tráng xinh đẹp đấy là bản sao của  kiến trúc cũa người Khơ Me và người  Dvaravati nhưng họ có đầu óc thẩm mỹ nên nhờ đó mà hoàn hảo hơn. Tổng thể một ngôi chùa Khơ Me gồm: cổng chùa, tường rào, ngôi chính điện, tháp đựng cốt, tăng xá, nhà hội và  an xá. Trong ngôi chính điện  Đức Phật Thích Ca được bài trí với kích thước lớn tọa lạc trên tòa sen.  Các bức tranh Phật  được trang trí trong chùa Khơ Me chủ yếu kể lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca từ lúc mới sinh cho đến khi tu thành đạo hạnh. Trên trần của chính điện cũng hay thường vẽ những bức họa  nhắc  lại các cảnh giao đấu giữa các Tiên nữ và Chằn (nhân vật biểu trưng cho cái ác), cảnh tiên làm lễ, cảnh dâng hoa vân vân…

 Còn ở ngoài chính điện thường thấy các vị thần mang chân dung người, mình mặc giáp trụ, tay cầm pháp khí để canh giữ nơi cửa chùa hay xung quanh chánh điện. Đấy là  các tượng Yeak hay chằn,  giúp ta có  được tâm sáng hướng về Đức Phật. Có thể nói cũng như ở chùa Việt trước cỗng thường thấy ông Ác ông Thiện vậy. Các tượng chằn hay có mặt dữ dằn hung ác nhưng không phải kẻ làm ác mà chế ngự được cái ác, nó lúc nào cũng có thể nỗi dậy ở trong  lòng con người nên cần có sự hiện diện của con chim K’rut  bắt nguồn từ con vật linh thiêng  Garuda trong thần thoại  Ấn Độ với  đạo Bà La Môn. Nó ở trên cao để theo dõi và thống chế Yeak đấy. Còn  con lân tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ hay thường thấy kề bên các tượng chằn. Nhờ có trí tuệ mà nó mới  đem lại  sự sáng suốt  trong việc nhận định để   tìm ra  chân lý nên mới diệt trừ được  ác nghiệp  và giúp con người  mới được giải thoát.  Nói tóm lại các chùa Phật Giáo Nam Tông Khơ Me ở Nam Bộ  có một kiến trúc  độc  đáo chịu nhiều ảnh hưởng Bà La Môn giáo.

Version française

En se basant sur une légende dynastique de Chen La: un  prêtre brahmane d’origine solaire nommé Kambu Svayambhuva  recevant  du dieu Shiva, lui-même une nymphe d’origine lunaire en mariage, la belle Mera, le célèbre épigraphe Georges Cœdes a émis l’hypothèse que le mot khmer viendrait  probablement de K(ambu) et Merâ donnant ainsi naissance à une lignée de rois ou celle des descendants de Kambujadesha et ayant pour signification « pays de la descendance de Kambu » dans le but d’expliquer  le nom des Khmers.  C’est pour cela qu’au moment de ma rencontre avec les enfants dans la pagode, je leur demande: Êtes-vous Cambodgiens ?  Ils me répondent  sans hésitation: Nous sommes des Khmers Krom (des Khmers  vivant en bas) différents de ceux vivant en haut (des Cambodgiens),  des Khmers vivant dans le delta du Mékong. Ces derniers occupent parfois jusqu’à 30% de la population locale. C’est le cas des provinces Sóc Trăng, Trà Vinh.

Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)

Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)

Version française
Version anglaise
Pictures gallery

Có một thời  thịnh vượng, Tokyo còn được gọi là Edo.  Muốn đến cố đô Kyoto lữ khách phải  đi  bộ  hay đi ngựa nhiều ngày với con đường ngoạn mục Tokaido  dài có 500 cây số.Tuyến đường nầy  có nhiều  lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sử sẽ  để lại cho lữ khách những kỷ niệm khó quên  như đèo Nakayama, đền Ise, chùa Thanh Thủy (Kiyomieu-dera), chùa  gác vàng Kinka kuji của tướng quân Yoshimitsu Ashikaga  vân vân …  Chính vì thế tuyến đường nầy trở  nên một nguồn cảm hứng không ít cho nhiều  họa sỹ  mà trong đó có Hiroshige mà chúng ta được biết  qua  bộ  tranh màu của ông được in trên  các mộc bản  của thế giới nổi trôi,  thường gọi là ukiyo-e (phù thế hội).  Thời ki hoàng kim  của ukiyo-e là từ khoảng những năm 1790 cho đến năm 1850. Sáng nay tụi nầy được anh HDV dẫn  đến cố đô  Kyoto. Cũng tuyến đường nầy nhưng  được thay thế bằng con  đường sắt với tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen và được dừng lại ở nhà ga Kakegawa để lấy  xe bus đi tham quan vườn hoa nổi tiếng của Nhật Hammatsu của tỉnh Shizuoka. Trạm ga nào cũng sạch sẽ luôn ở  trên tàu cao tốc cũng vậy trong một không gian yên lặng.

Rất tiếc trời rất u ám nên chụp ảnh không vừa ý chi cho mấy khi đến tham quan công viên  Hammatsu. Nơi nầy có rất nhiều cây bonsai hình dáng khác nhau trông lạ mắt lắm đấy nhưng cũng không kém  phần lãng mạn như  ở các  công viên Paris. Sau đó tụi này lấy xe  bus đến cố đô Kyoto nơi ở của Nhật hoàng  vào buổi chiều. Ở đây đường xá cũng sạch  sẽ nhưng thời gian có vẻ chậm lại nhịp sống hằng ngày   tựa như ở cố đô Huế  của nước ta  vậy.

Version française

À une  époque florissante, Tokyo était également connue sous le nom d’Edo. Pour se rendre à l’ancienne capitale de Kyoto, les voyageurs devaient marcher  à pied ou à cheval plusieurs jours sur la spectaculaire route du Tokaido, longue de cinq cent  kilomètres. Celle-ci  comptait de nombreuses auberges, temples shintoïstes ou bouddhistes et des sites historiques qui leur ont laissé des souvenirs inoubliables tels que le col Nakayama, le temple Ise, la pagode Kiyomieu-dera ou le pavillon d’or Kinkaku-ji  du shôgun Yoshimitsu Ashikaga  etc. C’était  pourquoi cet itinéraire devenait ainsi  une source d’inspiration pour de nombreux artistes, dont Hiroshige que l’on connaît grâce à ses peintures  en couleurs imprimées sur planches de bois du monde flottant, souvent appelées ukiyo-e. L’âge d’or de l’ukiyo-e s’était déroulé entre 1790 et 1850 environ. Ce matin, le guide nous a emmenés dans l’ancienne capitale de Kyoto. Ce même itinéraire a été remplacé par le  chemin de fer avec le train à grande vitesse TGV Tokaido Shinkansen. Nous devions  descendre  à la gare de Kakegawa pour prendre un bus afin de pouvoir  visiter le célèbre parc floral Hammatsu de la préfecture de Shizuoka. Nous constations la propreté  partout,  y  compris dans le train à grande vitesse dans un espace silencieux.

À  cause du mauvais temps, il était impossible pour moi de faire des photos comme il le fallait  lors ma visite au parc floral. Celui-ci possédait de nombreux bonsaïs de formes différentes. Cela  m’étonna tellement mais il  n’était  pas moins romantique que les jardins  de Paris. Puis nous allions prendre le bus dans l’après-midi pour rendre visite à l’ancienne capitale de Kyoto, où résidait l’empereur du Japon. Ici, les rues sont propres mais  le temps semble ralentir le rythme de vie au quotidien  comme celui trouvé dans l’ancienne capitale Huế de notre pays.

Version anglaise

At a flourishing time, Tokyo was also known as Edo. To reach the former capital Kyoto, travelers had to walk or ride horses for several days along the spectacular Tokaido route, which is five hundred kilometers long. This route included numerous inns, Shinto or Buddhist temples, and historical sites that left them unforgettable memories such as the Nakayama Pass, the Ise Temple, the Kiyomizu-dera Pagoda, or the Kinkaku-ji Golden Pavilion of Shogun Yoshimitsu Ashikaga, etc. This is why this itinerary became a source of inspiration for many artists, including Hiroshige, who is known for his color paintings printed on woodblocks of the floating world, often called ukiyo-e. The golden age of ukiyo-e took place roughly between 1790 and 1850. This morning, the guide took us to the former capital Kyoto. This same route has been replaced by the railway with the high-speed TGV Tokaido Shinkansen train. We had to get off at Kakegawa station to take a bus in order to visit the famous Hamamatsu flower park in Shizuoka Prefecture. We noticed cleanliness everywhere, including on the high-speed train in a quiet space.

Because of the bad weather, it was impossible for me to take photos properly during my visit to the floral park. It had many bonsais of different shapes. This surprised me so much, but it was no less romantic than the gardens of Paris. Then we were going to take the bus in the afternoon to visit the former capital of Kyoto, where the emperor of Japan resided. Here, the streets are clean, but time seems to slow down the daily pace of life, similar to what is found in the former capital Huế of our country.

Pictures gallery

[RETURN JAPAN]

 

Con Lân (La licorne)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Con Lân (La licorne)

Lân là con linh vật  đứng hàng thứ nhì  trong bốn con vật có sức mạnh siêu phàm hay tứ linh (long, lân, qui, phụng). Trong văn hóa Việt nam, chúng ta thường bị lầm lẫn giữa  con kỳ lân với con nghê. Đặc điểm để phân biệt giữa nghê và lân là ở bộ móng, nghê mang móng vuốt còn kỳ lân mang móng guốc. Lân thường xuất hiện ở đình, chùa, đền, miếu hay những công trình kiến trúc nghệ thuật. Theo nhà nghiên cứu việt Đinh Hồng Hải thì Lân có nguồn gốc Trung Hoa, một linh vật tưởng tượng ngoại nhập. Thật sự khi gọi kỳ lân, tức là nói đến một cặp: con đực gọi là kỳ và lân là con cái. Khi du nhập vào văn hóa việt  thì  người  Việt quên đi « con kỳ » mà chỉ  kêu là  lân thôi.  Chỉ có những vị quân vương hiền minh mới xứng đáng được trông thấy nó. Ở Sân Đại Triều Nghi trước Điện Thái Hòa của Tử Cấm  Thành  (Huế)  có hai con lân được đặt ở hai góc sân mang ý nghĩa thời thái bình mà còn biểu tượng nhắc nhở đến  sự uy  nghiêm giữa chốn triều đình. Lân còn là con vật tiêu biểu báo điềm lành. Nó  còn có khả  năng  nhận ra  được người hiền lành và kẻ gian trá. Người dân Việt  thường biết nó qua múa lân sư được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu hay khánh thành cửa hàng mới vì loại thú nầy tượng trưng cho thịnh vượng và hạnh phúc. Còn trong đạo Phật, nó là hiện thân của bát nhã tức là trí tuệ tối cao  hay gíác ngộ.

Version française
La licorne  figure au deuxième rang parmi les quatre animaux sacrés aux pouvoirs surnaturels (dragon, licorne, tortue et phénix). Dans la culture vietnamienne, on  est habitué à confondre souvent la licorne avec le chien-lion (con nghê). La caractéristique permettant de faire la distinction entre  ce dernier et la licorne  se retrouve dans les ongles.  Le chien-lion possède des griffes tandis que  la licorne a des sabots. Les licornes sont visibles  souvent dans les maisons communales, les pagodes, les temples, les sanctuaires ou les œuvres d’art architecturales. Selon le chercheur vietnamien Đinh Hồng Hải, la licorne (ou Lân)  est d’origine chinoise. Il s’agit d’une mascotte imaginaire importée de l’étranger. En fait, lorsqu’on évoque la licorne, on se réfère souvent à un couple d’animaux : le mâle est connu sous le nom « kỳ » tandis que la femelle s’appelle « lân ». Au moment de l’introduction de la licorne dans la culture vietnamienne, on n’a gardé que la femelle (Lân). Seuls les monarques sages sont dignes de pouvoir la voir. Dans l’esplanade des Grands Saluts devant le somptueux palais de la suprême harmonie (Điện Thái Hoà) de la Cité pourpre  interdite (Huế), il y a deux licornes placées dans deux coins différents  pour marquer non seulement  la période de paix mais aussi le caractère hiératique de la cour impériale. La licorne est un animal de bon augure. Elle est capable de discerner la probité  et la malhonnêteté chez un  homme. Les Vietnamiens ont l’habitude de la connaître grâce à la danse de la licorne à l’occasion des fêtes importantes (Le Nouvel An,  la fête de la mi- automne, l’inauguration de la nouvelle boutique etc.) car elle est le symbole de la prospérité et du bonheur. Quant au bouddhisme, la licorne est l’incarnation de l’esprit intuitif de la Prajna (l’intelligence suprême ou l’illumination).

Version anglaise

The unicorn ranks second among the four sacred animals with supernatural powers (dragon, unicorn, turtle, and phoenix). In Vietnamese culture, people often confuse the unicorn with the lion-dog (con nghê). The distinguishing characteristic between the latter and the unicorn lies in the nails. The lion-dog has claws, while the unicorn has hooves. Unicorns are often seen in communal houses, pagodas, temples, shrines, or architectural artworks. According to the Vietnamese researcher Đinh Hồng Hải, the unicorn (or Lân) is of Chinese origin. It is an imaginary mascot imported from abroad. In fact, when referring to the unicorn, it often denotes a pair of animals: the male is known as « kỳ » while the female is called « lân. » At the time of the unicorn’s introduction into Vietnamese culture, only the female (Lân) was retained. Only wise monarchs are worthy of seeing it. In the esplanade of the Great Salutes in front of the magnificent Palace of Supreme Harmony (Điện Thái Hoà) of the Forbidden Purple City (Huế), there are two unicorns placed in two different corners to mark not only the period of peace but also the hieratic character of the imperial court. The unicorn is an animal of good omen.

She is capable of discerning honesty and dishonesty in a man. The Vietnamese are accustomed to knowing her through the unicorn dance on important occasions (New Year, the Mid-Autumn Festival, the inauguration of a new shop, etc.) because she is a symbol of prosperity and happiness.

As for Buddhism, the unicorn is the incarnation of the intuitive spirit of Prajna (supreme intelligence or enlightenment).

 

Galerie des photos

 
[Return RELIGION]