Paris à Las Vegas (Ba Lê ở Las Vegas)

Dans sa splendeur

 

Version française

En 1990 étant de passage à Las Vegas, il n’y avait pas encore la tour Eiffel. Maintenant de retour à Las Vegas, c’était triste de ne pas avoir une photo sur la tour Eiffel (Las Vegas). Etant fier d’être toujours parisien, c’était intolérable de ne pas faire la photo. C’est pour cela que j’étais accompagné par mon ami intime d’aller chercher la tour Eiffel le long de l’avenue principale de Las Vegas. Épuisé, je dis à mon ami: Si on ne trouve pas la tour Eiffel au delà du pont, on va retourner à l’hôtel. À l’approche du pont, la tour Eiffel apparut dans toute sa splendeur, ce qui me donna une joie indescriptible. C’est une chance pour moi de la retrouver au bon moment sans oublier la gentillesse de mon ami de vouloir me plaire malgré sa fatigue. L’avenue principale était inondée de gens avec une chaleur suffocante à 23 h du soir. Je remercie infiniment mon ami à cause de la tour d’Eiffel. Hi Hi…

paris_las_vegas

Version vietnamienne

Hồi moa đi Las Vegas năm 1990 thì tour Eiffel chưa có nay trở lại Las Vegas mà không có tấm ảnh Tour Eiffel ở Las Vegas kỳ nầy thì rất buồn vì bao nhiêu năm mình ở Paris còn nhiều hơn ở bên nhà mà không có tấm ảnh tour Eiffel ở Las Vegas thì hổ thẹn lắm nhất là lúc nào cũng tự cho mình là parisien. Anh bạn thâm tình đi bộ dẫn dắt không ít nhất là nguyên ngày ngồi xe nên đi gần hết đường chánh mà tour Eiffel vẫn không có moa mới nói: Thôi đến cầu không có đi về. Gần đến cầu tháp Eiffel nó hiện ra đẹp lộng lẫy khiến moa vui không xiết nói chụp xong tháp Eiffel đi về. Đấy là duyên của moa công thêm cái tính trọng bạn của anh bạn nên moa mới có các tấm ảnh ở Eiffel. Có ít 7, 8 cây số đi bộ đông người nhất là trời rất nóng. Merci anh bạn thương bạn vô cùng cũng vì tháp Eiffel. Hi hi.

 

La pagode du Maître (Chùa Thầy)

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

 Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số, chùa Thầy  tọa lạc  ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, xã Sài Sơn và được xây dựng từ thời nhà Đinh. Chùa nầy là một trong ba chủa nổi tiếng nhất ở đất Hà Thành mà còn là chủa có liên quan mật thiết đến quãng đời sau cùng của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ông  thuộc thế hệ thứ 12 của  dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và còn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng Mật Tông qua những pháp thuật.  Ông là  thủy tổ múa rối nước. Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo, sáng tạo nên trò múa rối nầy  và truyền dạy cho dân chúng. Chính ở giữa hồ Long Trì mà ngày lễ hội thường  thấy ở thủy đình có trò múa rối nước.

 

Từ Đạo Hạnh không những  là một thiền sư rất uyên thâm hiểu biết mà còn là một danh nhân văn hóa. Chính vì vậy công lao của ông đóng góp với  đất nước và dân gian rất lớn  duới triều Lý cho nên ông được dân gian biết ơn sùng kính  thường gọi ông là Thầy, là Thánh hay Phật. Cuộc đời của ông cũng không thiếu màu sắc huyền thoại từ việc  hóa thân thành con trai của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, chính là vua  Lý Thần Tông sau này  đến  cái chết của ông được dân chúng thần thánh hóa trở thành cái chết đẹp và để trở thành người khác với cuộc sống mới   qua bài kệ thi tịch  của ông:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ sư kỉ độ tác kim sư.

Dịch nghĩa

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

 Ông trở thành  là người mở đầu cho dân gian  một tín ngưỡng thờ Thánh Tổ hòa trộn vào Phật giáo qua mô hình  « Tiền Phật – Hậu Thánh« . Đây cũng  là  một thể thức tôn sùng từ đó ở chùa của người dân Việt  dành cho những người có công đức hay  gần gũi và bảo trợ  dân gian. 

(*) Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội. 
Version française

Loin du centre-ville de Hanoïi de 20 km, la pagode du Maître est située au pied de la montagne Sài Sơn dans la commune du district Quốc Oai. Celle-ci fut édifiée à l’époque de la dynastie des Đinh.  Elle est  l’une des trois  pagodes  célèbres de la capitale Hanoï mais elle est liée intimement aussi à la durée de vie restante du moine zhen Từ Đạo Hạnh. Celui-ci appartint à cette époque à la douzième génération de l’école   Vinitaruci  et il fut considéré comme le représentant du bouddhisme tantrique à travers ses pouvoirs magiques. Il est aussi le créateur du spectacle des marionnettes sur l’eau. Étant passionné pour les danses et les  chansons  traditionnelles, il a appris au peuple  le théâtre populaire  ainsi que la façon de se distraire avec  les marionnettes sur l’eau.  C’est au milieu de l’étang du Dragon que se déroule fréquemment le spectacle des marionnettes sur l’eau à l’occasion des festivités locales. 

Từ Đạo Hạnh était non seulement  un moine ayant  une profonde connaissance mais aussi un illustre personnage culturel.  C’est pour cela que ses contributions étaient énormes   pour le peuple et le pays si bien que tout le monde  exprimait sa gratitude en l’appelant souvent « Maître », « Saint » ou « Bodhisattva ». Il ne manque pas la coloration mythique dans la vie de ce moine zhen. De son incarnation dans le personnage du roi Lý Thần Tông, fils de Lý Dương Hoán jusqu’à sa mort que le peuple a mystifiée en lui donnant une belle mort et une réincarnation avec une nouvelle vie à travers son  kê (une sorte de stance bouddhique): 

Le retour de l’automne n’accompagne pas celui des hirondelles,
Je désapprouve les gens continuant à s’accrocher à  leur vie avec tristesse et douleur  devant la mort
Il est déconseillé à mes disciples de  montrer trop d’attachements émotionnels à cause de moi,
Étant l’ancien maître,  j’ai incarné tant de fois pour devenir le maître d’aujourd’hui.(*)

Il  est le premier à introduire au peuple le culte des personnages déifiés dans le bouddhisme  à travers le modèle « Devant Bouddha-Derrière les Saints ou les personnages déifiés« . C’est une forme de vénération adoptée à cette époque  par les Vietnamiens pour exprimer leur gratitude envers tous ceux qui avaient la vertu et le mérite de les protéger dans le quotidien.

(*) Source : Ly Tran Poésie et littérature (Volume I), Maison d’édition des sciences sociales.

Version anglaise

Far from the city center of Hanoi by 20 km, the Master’s Pagoda is located at the foot of Sài Sơn mountain in the commune of Quốc Oai district. It was built during the Đinh dynasty. It is one of the three famous pagodas of the capital Hanoi but is also closely linked to the remaining lifespan of the monk zhen Từ Đạo Hạnh. He belonged at that time to the twelfth generation of the Vinitaruci school and was considered the representative of tantric Buddhism through his magical powers. He is also the creator of the water puppet show. Passionate about traditional dances and songs, he taught the people popular theater as well as how to entertain themselves with water puppets. The water puppet show frequently takes place in the middle of the Dragon pond during local festivities.

Từ Đạo Hạnh was not only a monk with profound knowledge but also an illustrious cultural figure. That is why his contributions were enormous for the people and the country, so much so that everyone expressed their gratitude by often calling him « Master, » « Saint, » or « Bodhisattva. » The mythical coloring is not lacking in the life of this venerable monk. From his incarnation as King Lý Thần Tông, son of Lý Dương Hoán, until his death, which the people mystified by giving him a beautiful death and a reincarnation with a new life through his kê (a type of Buddhist stance):

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

The return of autumn does not accompany that of the swallows,
I disapprove of people continuing to cling to their lives with sadness and pain before death.
My disciples are advised not to show too much emotional attachment because of me,
Being the former master, I have incarnated so many times to become today’s master.(*)

He was the first to introduce to the people the worship of deified figures in Buddhism through the model « In front Buddha – Behind Saints or deified figures. » This was a form of veneration adopted at that time by the Vietnamese to express their gratitude toward all those who had the virtue and merit to protect them in daily life.

(*) Source: Ly Tran Poetry and Literature (Volume I), Social Sciences Publishing House.

Pictures Gallery

pagode_thay

[Return RELIGION] 

Cathédrale Saint Joseph (Nhà thờ Lớn Hànội)

Version française
Version anglaise
Picture Gallery

Dựa theo mẫu nhà thờ Đức Bà Paris, nhà thờ Saint Joseph được thiết kế bỡi giám mục Paul-François Puginier theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ  Âu Châu và được xây dựng  vào năm 1884 trên khu đất mà trước đó có  chùa Báo Thiên, một chùa nổi tiếng đã có từ thời nhà Lý (thế kỷ 11) . Nhà thờ nầy thường đươc gọi là nhà thờ lớn vì ngoài kích thước hoành tráng  với  chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m có đến 5 chuông còn  được xem là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ nầy được hoàn thành vào năm 1886 sau bốn năm xây cất. Chi phí tốn kém nhờ hai đợt xổ số (đợt một năm 1883, đợt hai năm 1886). Tuy rằng bề ngoài của nhà thờ có vẻ đen tối vì ô nhiễm, nhà thờ nầy vẫn được xem là một di tích lich sữ thời kỳ Pháp thuộc và là điểm tham quan cực kỳ quan trọng đối với người du khách nước ngoài khi đến Hànội.

Basée sur le modèle de Notre Dame de Paris, l’église Saint Joseph dont les plans ont été dessinés par l’évêque  Paul-François Puginier est   du style néo-gothique. Elle fut construite  en 1884  sur l’emplacement de la pagode Báo Thiên, un édifice bouddhique très connu à l’époque de la dynastie des Lý (XIème siècle).  Cette église est fréquemment appelée « grande église » car outre ses dimensions imposantes avec sa longueur de 64,5 mètres, sa largeur de  20,5 mètres  et ses deux clochers carrés hauts de 31 mètres et  équipés de 5 cloches, elle est encore  l’église-mère de l’archidiocèse d’Hanoï. Sa réalisation fut terminée en 1886 après 4 années de construction avec l’argent alimenté par le système de loterie (organisé en 1883 et en 1886). Malgré son aspect extérieur assombri par la pollution, cette église est un vestige historique de l’époque coloniale française et devient actuellement l’un des sites  extrêmement importants pour les touristes étrangers lors de leur passage à Hanoï.

English version

Based on the model of Notre Dame de Paris, Saint Joseph Church, whose plans were drawn by Bishop Paul-François Puginier, is in the neo-Gothic style. It was built in 1884 on the site of the Báo Thiên pagoda, a very well-known Buddhist building during the Lý dynasty (11th century). This church is often called the « great church » because, in addition to its imposing dimensions with a length of 64.5 meters, a width of 20.5 meters, and two square bell towers 31 meters high equipped with 5 bells, it is also the mother church of the Archdiocese of Hanoi. Its construction was completed in 1886 after 4 years of building, funded by a lottery system (organized in 1883 and 1886). Despite its exterior darkened by pollution, this church is a historical relic of the French colonial era and has become one of the extremely important sites for foreign tourists during their visit to Hanoi.
 
Eglise Saint Joseph

[RETURN]

Voyage 2017: Vatican (Ý Đại Lợi)

Toà thánh Vatican

Version française

Version anglaise

Đây là một  quốc gia nhỏ nhất thế giới với tổng diện tích 0,44km2 và  nằm giữa thủ đô Rome của Ý Đại Lợi. Tuy vậy, Vatican có tầm ảnh hưởng quan trọng trên thế giới vì đây là trung tâm công giáo đã có thời kỳ hoàng đế Constantin (thế kỷ thứ tư) với hàng tỷ tín đồ trên thế giới hiện nay. Đến đây mà không xem được nhà nguyện Sistina thì rất uổng vì nơi nầy có những kiệt tác của các nhà họa sĩ trứ danh của thời phục hưng  như Michel Ange,  Sandro Botticelli vân vân và cũng không nên quên lên chót vòm của thánh đường  Saint Pierre để nhìn xuống xem quảng trường nhưng mất ít nhất hai ngày mới xem hết vì rất mất thì giờ  trong việc  nối  đuôi và chờ đợi.


C’est l’un des plus petits états d’Europe avec une superficie de 0,44km2 au cœur de la ville de Rome en Italie. Pourtant, Vatican a une influence notable dans le monde car c’est le centre spirituel des catholiques existant à l’époque de l’empereur Constantin (4ème siècle)  avec des milliards de fidèles dans le monde entier. C’est très décevant pour ceux qui ont l’occasion de venir à Vatican sans avoir le temps nécessaire pour  visiter le dôme de  la basilique de Saint Pierre et la chapelle  Sixtine car c’est ici qu’on peut voir les fresques,  les chefs d’œuvre des peintres célèbres à l’époque de la Renaissance comme Michel-Ange,  Sandro Botticelli etc. mais pour  cette visite, il faut compter deux jours car il faut faire l’interminable attente  pendant des heures.


It is one of the smallest states in Europe with an area of 0.44 km² in the heart of the city of Rome, Italy. However, the Vatican has a notable influence in the world because it is the spiritual center of Catholics existing since the time of Emperor Constantine (4th century) with billions of followers worldwide. It is very disappointing for those who have the chance to come to the Vatican without having enough time to visit the dome of St. Peter’s Basilica and the Sistine Chapel because it is here that you can see the frescoes, masterpieces by famous painters from the Renaissance era such as Michelangelo, Sandro Botticelli etc. But for this visit, you need to allow two days because you have to endure the endless waiting for hours.

Click vào hình để xem kích thước to hơn 

Cliquez sur la photo pour voir plus grande la photo
Click on the photo to see the larger photo

Place Saint Pierre 

Quảng trường thánh Phê Rô

 


[Return ITALIE]

Voyage 2017: Pise (Ý Đại Lợi)

Version anglaise
Version française
Galerie des photos

Place des miracles

cliquez pour voir les photos correspondantes

 Cánh đồng của những  kỳ công

Khi nhắc đến Pise thì ai cũng nghĩ đến ngay  tháp nghiêng.  Nhưng chúng ta  quên đi  thành phố nầy là một hải cảng quan trọng  ở thời  kỳ đế quốc La Mã và có một thời phát triển hàng hải đáng kể. Chính nhờ đó mà Pise được xem là một trong bốn  nước cộng hoà hàng hải của Ý Đại Lợi (Amalfi, Pise, Gênes và  Venise)  trong quá khứ. Pise đến tột đỉnh quyền lực vào thế kỷ  11 nhờ các cuộc chinh phục liên tiếp và đáng kể:  sự cuớp phá  Reggio de Calabre  vào năm 1005, kiểm soát hoàn toàn biển  Tyrrhénienne  vào năm  1017 sau khi thôn tính Sardaigne, xâm chiếm  Carthage ( rồi  Mahdia vào năm  1088), cướp bóc hủy phá Palerme vân vân… Nhờ vậy, Pise có tiền để khởi đầu công việc xây cất nhà thờ và các toà nhà khác ở cánh đồng của những  kỳ công  (Piazza dei Miracoli ) mà sau nầy được gọi là  Piazza del Duomo.

 Đây là trung tâm  Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo và nghệ thuật của thành phố cổ kính  Pise  gồm có 4 công trình mà nhà văn hào Ý, ông Gabriele d’Annunzio  xem như là những kỳ công trong một quyển sách của ông: Campanile (tháp chuông nhà thờ)(hay tháp nghiêng), nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption, Nhà rửa tội Saint-Jean  và nghĩa trang Simone


Quand on parle de Pise, on pense tout de suite à sa célèbre  tour penchée.  Mais on oublie que  la ville fut un port important à l’époque de l’empire romain et  connut une expansion maritime considérable, ce qui fait de Pise l’une des quatre républiques maritimes d’Italie (Amalfi, Pise,  Gênes  et Venise) dans le passé. Elle atteignit son apogée au  XIe siècle par une succession de conquêtes notables:  pillage de  Reggio de Calabre  en 1005,  contrôle total de   la mer Tyrrhénienne en 1017 par la capture de Sardaigne,  occupation de  Carthage (puis Mahdia en 1088), mise à sac de Palerme etc. Cela lui  permet avec les rentrées d’argent,   le début de la construction de la cathédrale et les autres monuments du fameux champ des miracles (Piazza dei Miracoli ) qui deviendra ensuite la Piazza del Duomo.

——C’est le centre religieux et artistique de Pise constitué de quatre monuments que l’écrivain italien  Gabriele d’Annunzio considère comme les miracles dans un de ses romans:  la célèbre tour penchée,  la cathédrale Notre-Dame de l’Assomption, le baptistère de Saint-Jean et le cloître gothique de Simone——


Version anglaise

When we talk about Pisa, we immediately think of its famous leaning tower. But we forget that the city was an important port during the Roman Empire and experienced considerable maritime expansion, making Pisa one of the four maritime republics of Italy (Amalfi, Pisa, Genoa, and Venice) in the past. It reached its peak in the 11th century through a series of notable conquests: the sacking of Reggio Calabria in 1005, total control of the Tyrrhenian Sea in 1017 with the capture of Sardinia, occupation of Carthage (then Mahdia in 1088), the sacking of Palermo, etc. This allowed, with the income generated, the beginning of the construction of the cathedral and other monuments of the famous Field of Miracles (Piazza dei Miracoli), which later became the Piazza del Duomo.

—–It is the religious and artistic center of Pisa consisting of four monuments that the Italian writer Gabriele d’Annunzio considers miracles in one of his novels: the famous leaning tower, the Cathedral of Our Lady of the Assumption, the Baptistery of Saint John, and the Gothic cloister of Simone——-


Galerie des photos

 

Style gothique et pisan (Phong cách gô tích và pi-da)

Vue panoramique à partir du baptistère de Saint-Jean

[Return ITALIE]

 

 

Voyage d’été 2017: Florence (Ý Đại Lơi)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Đây là  một thành phố có khoảng chừng 500 ngàn dân và nằm bên bờ  sông hiền hoà  Arno giữa  hai biển Tyrrhenus (Tyrrhenian Sea) và Adriatique.  Florence toạ lạc hầu như ở trung tâm của bán đảo Ý Đại Lợi. Vào thế kỷ 15, Florence  được cai trị bởi một gia tộc nổi tiếng Médicis  mà sau nầy họ được gọi là các đại  công tước của xứ Toscane.

Cũng vào thời đó  là thời điểm   rực rỡ của Florence trong các hoạt động nghệ thuật và văn học  cũng như chính trị  và kinh tế.  Florence còn có một di sản đặc biệt nói lên tính cách huy hoàng có cả hàng trăm năm của nó. Chính ở nơi nầy là quê quán của Cimabue và  Giotto, hai người cha đẻ hội họa của Ý Đại Lợi, Arnolfo  và  Andrea Pisano hai nhà canh tân về ngành  kiến trúc và điêu khắc và Michel-Ange, Léonard de Vinci,  Brunelleschi, Donalto và  Massacio những tên tuổi lừng danh  khởi xướng  ở thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV và XVI).

Tuy nhỏ hơn so sánh với các thủ đô văn hóa khác, Florence nghênh đón  mỗi năm có hơn 7 triệu người du khách ngoại quốc.  Florence còn  cất giữ  riêng tư phân nửa số lượng kiệt tác mà Ý Đại Lợi có. Cũng là thành phố đầu tiên làm ra các đồng xu bằng  vàng mà thường được gọi là florins vào năm 1252.  Vài quốc gia như Hà Lan vẫn  giữ thói quen gọi đồng tiền của họ với cái tên nầy.


C’est une ville d’environ un demi-million d’habitants se trouvant  sur les rives du fleuve Arno entre les mers Tyrrhénienne et Adriatique. Elle est presque au centre de la péninsule italienne.  Au XVème siècle Florence passa sous la Seigneurie des Médicis qui devinrent  ensuite les Grands Ducs de Toscane.

Fleuve Arno avec les ponts  Vecchio  et Santa Trinita
Arno River with the Vecchio and Santa Trinita bridges.

Ce fut un moment de grandeur de Florence dans les arts et  la culture mais aussi dans la politique et  la puissance économique. Florence renferme un exceptionnel patrimoine d’art qui témoigne de sa splendeur séculaire.  C’est ici que vécurent Cimabue et Giotto, pères de la peinture italienne,  Arnolfo et Andrea Pisano, rénovateurs de l’architecture et de la sculpture et Michel-Ange, Léonard de Vinci, Brunelleschi, Donalto et Massacio,   initiateurs célèbres  de la Renaissance (du XVème au XVIème siècle).

Plus petite que d’autres capitales culturelles, Florence accueille aujourd’hui  plus de sept millions de touristes par an.  Elle abrite en plus, à elle seule, la moitié des œuvres d’art conservées en Italie. C’est aussi la première cité à frapper ses propres pièces d’or, les florins de Florence en 1252.  Certains pays comme les Pays-Bas ont conservé jusqu’à une date récente cette appellation pour désigner leur monnaie. 

Portes du paradis de Lorenzo Ghiberti

un des plus grands maîtres de la première moitié du Quattrocento

Gates of Paradise by Lorenzo Ghiberti, one of the greatest masters of the first half of the Quattrocento.

Cửa lên thiên đường của Lorenzo Ghiberti

Version anglaise

It is a city of about half a million inhabitants located on the banks of the Arno River between the Tyrrhenian and Adriatic seas. It is almost at the center of the Italian peninsula. In the 15th century, Florence came under the rule of the Medicis family, who later became the Grand Dukes of Tuscany.

This was a moment of greatness for Florence in the arts and culture, but also in politics and economic power. Florence holds an exceptional artistic heritage that testifies to its centuries-old splendor. It is here that Cimabue and Giotto, fathers of Italian painting, Arnolfo and Andrea Pisano, renovators of architecture and sculpture, and Michelangelo, Leonardo da Vinci, Brunelleschi, Donatello, and Masaccio, famous initiators of the Renaissance (from the 15th to the 16th century), lived.

Smaller than other cultural capitals, Florence today welcomes more than seven million tourists per year. It also houses, by itself, half of the artworks preserved in Italy. It is also the first city to mint its own gold coins, the florins of Florence in 1252. Some countries, like the Netherlands, have retained this name until recently to designate their currency.

Galerie des photos

[Return ITALIE]

Cổ Loa thành ( citadelle en colimaçon )

English version
Version française
Galerie des photos

Loa Thành và Huyền Thoại

Thục Quốc Sơn Hà nguyên cổ Việt
Loa Thành cung tẩm sướng tiền Ngô
Sông núi nước Thục vốn là nước Việt xưa
Cung khuyết ở thành Cổ Loa, bắt đầu xây dựng từ thời Ngô Quyền
Les monts et fleuves du royaume Thục appartenaient à l’ancien pays des Vietnamiens.
La porte du palais royal situé dans la citadelle fut édifiée à l’époque de Ngồ Quyền.

Theo truyền thuyết, thành Cổ Loa ban đầu có chín vòng xoắn ốc đất. Đây là lý do tại sao vua An Dương đặt cho nó cái tên « Loa Thành (thành cổ xoắn ốc) ». Trong các cuộc khai quật khảo cổ gần đây, các nhà khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản chỉ tìm thấy sự tồn tại của 3 vòng xoắn ốc. Được xây bằng đất, các vòng xoắn nầy được bao quanh bởi những con hào rộng và được gia cố chắc chắn bằng hàng rào tre. Sự hiện diện của những con hào này và sự củng cố của những vòng xoắn này là minh chứng cho sự hiểu biết hoàn hảo của người dân Việt cổ về điạ hình của vùng đất.  Nhờ thế  An Dương Vương chống lại anh dũng  các cuộc tấn công  của người Hoa nhiều lần.

Theo truyền thuyết, tòa thành không thể thất thủ được nhờ chiếc nỏ thần được  biếu tặng cho nhà vua bởi con rùa vàng vào thời điểm chia tay. Loa thành chỉ bị thất thủ vào năm 208 nhờ mưu đồ khéo léo của  tướng Trung Hoa Triệu Đà  thành công thực hiện cùng con trai Trọng Thủy  bằng cách đồng ý sự kết hôn với công chúa Mỵ Châu, đứa con gái duy nhất của  An Dương Vương. Gần đây phát hiện một nơi lưu trữ  các đầu mũi tên tại Cổ Loa khiến việc nầy không còn xa lạ với truyền thuyết và chứng thực nỗ lực kháng cự và tham gia mãnh liệt trong cuộc bảo vệ tòa thành. (1).

Tọa lạc ở quận Đồng Ánh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội  18 cây số, thành Cổ Loa được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên bởi vua An Dương Vương. Thành nầy trở  thành ngày nay một quần thể kiến trúc tôn giáo và tưởng niệm mà được thấy có một ngôi đình, một đền dành riêng để  thờ  công chúa Mỵ Châu, một ngôi chùa được gọi là Bảo Sơn, ngôi đền của vua An Dương Vương vân vân … Được xem là  thành hoàng của làng Cổ Loa, An Dương Vương được vinh danh mỗi năm vào ngày thứ 6 tháng âm lịch đầu tiên qua một cuộc diễu hành trọng thể  ở làng. An Dương Vương là một nhân vật lịch sử bởi vì theo kết luận của nhà nghiên cứu Trung Quốc Dư Duy Cương, viên ngọc mà chúng tôi tìm thấy  trong lăng mộ Triệu Đà là một chiến lợi phẩm thuộc về An Dương Vương (2)

Selon la légende, la citadelle comportait au début neuf spirales de terre. C’est pour cela que le roi An Dương  lui donna le nom « Loa Thành (la citadelle en colimaçon) ». Lors des fouilles archéologiques  récentes, les archéologues vietnamiens et japonais ont constaté seulement l’existence de 3 spirales. Etant constituées de remparts  de terre, celles-ci étaient bordées par de larges douves et renforcées solidement par des haies de bambous. La présence de ces douves et la fortification de ces spirales  témoignent de la connaissance parfaite de la configuration du terrain par les Vietnamiens d’autrefois. Cela permit au roi An Dương Vương de résister vaillamment tant de fois aux assaillants chinois. 

Selon la légende, la citadelle était imprenable grâce à l’arbalète magique dont la gâchette était une griffe offerte au roi par la tortue d’Or au moment de la séparation. Elle fut prise seulement en 208 grâce au stratagème ingénieux que le général chinois  Zhao Tuo avait réussi à mettre à exécution avec son fils Trọng Thủy (Zhao Shi) en consentant à ce dernier de se marier avec la princesse Mỵ Châu, fille unique du roi An Dương Vương. La découverte récente  d’un stock de pointes de flèches à Cổ Loa n’est pas étrangère à cette légende et témoigne d’un gigantesque effort  de résistance engagé dans la défense de la citadelle.(1)

Pointes de flèches découvertes  (Cổ Loa)

Etant localisée dans le district de Đồng Ánh, à 18 km du centre de la capitale Hànội, la citadelle de Cổ Loa qui fut construite au IIIème siècle avant J.C. par le roi An Dương Vương, devient aujourd’hui un complexe architectural religieux et commémoratif où on trouve à la fois une maison communale, un temple dédié à la princesse Mỵ Châu, une pagode nommée  Bảo Sơn, un temple consacré au roi An Dương Vương etc…Etant le génie tutélaire du village de Cổ Loa, le roi An Dương Vương est honoré chaque année le sixième jour du premier mois lunaire par la procession de sa statue dans le village. An Dương Vương était un personnage historique car selon les conclusions du  chercheur chinois Dư Duy Cương, la tablette de jade  qu’on a trouvée dans le tombeau de Zhao Tuo était un butin appartenant à  An Dương Vương. 

Version anglaise

The citadel and its myth

According to legend, the citadel included 9 spirals of soil. That is why An Dương King gave it the name « Loa Thành » (spiral citadel). During recent archaeological excavations, Vietnamese and Japanese archaeologists have only seen   the existence of three spirals.  Being constituted by ramparts of soil, they were surrounded by wide moats and reinforced firmly by bamboo hedgerows. The presence of these moats and fortification of these spirals  testifies to the perfect knowledge of the land  configuration by  old Vietnamese. That allowed An Dương King to show so many times amazing resistance against  Chinese attackers. 

According to legend, this citadel was impregnable with the magic crossbow, the trigger of which was a claw  offered  by the golden turtle to the king at the time of their separation.  This fortress was taken only in 208 through the ingenious  stratagem adopted by Chinese general Zhao Tuo (Triệu Đà)  with his son Trọng Thủy by consenting to  the latter to get married with Princess Mỵ Châu, the sole daughter of  King An Dương. The recent discovery of a stock of arrowheads  at Cổ Loa is not unrelated to this legend and testifies to the gigantic resistance  effort invested in the the citadel’s defence.(1)

Being located  about 18km in the  Đồng district from  Hànội,  the citadel Cổ Loa which  was build at the 3rd century before J.C. by King An Dương, becomes today a religious and memorial  architectural  complex where one  simutaneously finds a communal house, a temple dedicated to Princess Mỵ Châu,  a pagoda named Bảo Sơn, a temple consacred to An Dương king etc … Being the guardian genius of Cổ Loa village, King An Dương is honored every year, on the 6th day  of the first  lunar month by the procession of his statue in the village. An Dương Vương was a historical personage because, according to the Chinese researcher Dư Duy Cương conclusions, the jade tablet found in the Zhao Tuo tomb was a  spoils belonging to King An Dương.(2)

Galerie des photos


(1) Catherine Noppe, Jean François Huppert: Arts du Vietnam: La fleur du pêcher et l’oiseau d’azur. Collection Références. Éditeur: La renaissance du livre 2002.
(2) Trần Văn Giáp: Numéro spécial sur la tablette de jade d’An-Dương. Quelques points de vue sur la tablette de jade d’An-Dương et le problème de Thục An Dương Vương, Văn Sử Địa, n° 28, Mai 1957.