Le peintre-sculpteur Vũ Cao Đàm

Version française
Version anglaise

Năm 1930, Vũ Cao Đàm mất mẹ rồi cha. Ông tạc  ra hình tượng một phụ nữ trẻ có thái độ phủ phục thể hiện sự thương tiếc. Việc lựa chọn hình ảnh khoả thân mang lại một giọng điệu ngụ ngôn cho tác phẩm này được xem như  là khoảnh khắc để tưởng nhớ cha mẹ của ông. Các hình dáng đơn giản và đồ sộ trong phong trào Art Deco là sư minh chứng cho việc lan tỏa của các xu hướng nghệ thuật phương Tây đương đại ở Đông Dương.(Văn bản được lấy hoàn toàn từ cuộc triển lãm mang tên “Những người tiên phong  nghệ thuật hiện đại Việt Nam ở Pháp” tại bảo tàng Cernuschi, Paris)

Vào giữa những năm 1950, chủ đề Thần minh xuất hiện, gợi nhớ đến hình tượng Đức Phật nhưng Vũ Cao Đàm muốn mang tính cách phổ quát. Hình ảnh của cô gái đã được cố định vào năm 1960: Thần minh ở phía trước, đôi vai rũ xuống mang lại  sự mềm mại nữ tính. Nhiều biến thể đầy màu sắc, cả về trang phục lẫn phông nền phiá sau , sẽ được thực hiện trong nhiều năm.

En 1930, Vũ Cao Đàm perd sa mère puis son père. Il réalise alors cette figure de jeune femme dont l’attitude prostrée exprime le deuil. Le choix de la nudité donne un ton allégorique à cette œuvre conçue comme un moment en souvenir de ses parents. Les formes simples et massives, dans la mouvance de l’art déco témoignent de lla diffusion, dans l’Indochine, des tendances artistiques occidentales contemporaines. (Texte entièrement repris à l’exposition intitulée « Les pionniers de l’art moderne vietnamiens en France » au musée Cernuschi à Paris).

Au milieu des années 1950 apparaît le thème de la Divinité qui rappelle la figure de Bouddha mais que Vũ Cao Đàm  veut universelle. Son image est fixée en 1960 : la Divinité est frontale, les épaules tombantes lui donnent une douceur féminine. De nombreuses variations colorées, tant dans la robe que dans l’arrière plan, seront réalisées au fil des ans.

Version anglaise

In 1930, Vũ Cao Đàm lost his mother and then his father. He then created this figure of a young woman whose prostrate posture expresses mourning. The choice of nudity gives an allegorical tone to this work conceived as a moment in memory of his parents. The simple and massive forms, in the Art Deco style, reflect the spread of contemporary Western artistic trends in Indochina. (Text entirely taken from the exhibition titled « The pioneers of modern Vietnamese art in France » at the Cernuschi Museum in Paris).

In the mid-1950s, the theme of the Divinity appeared, reminiscent of the figure of Buddha but which Vũ Cao Đàm wanted to be universal. Its image was fixed in 1960: the Divinity is frontal, with drooping shoulders giving it a feminine softness. Numerous color variations, both in the robe and in the background, were created over the years.

                    [Return PIONNIERS]

Mai Thứ

 

Vieux lettré assis (Mai Thứ)

Ce portrait témoigne de la rupture introduite par l’assimilation de l’art occidental: la pose des trois quarts est naturelle, l’homme s’appuie sur un coussin et la main portée à sa barbiche ajoute à son expression grave, pleine d’introspection. Désormais l’artiste peut transcrire les états d’âme de son sujet et par effet miroir, ses propres sentiments dans ses compositions. C’est à cette époque l’individualité de l’artiste transparait pour la première fois dans l’art vietnamien.

(Texte entièrement repris à l’exposition intitulée « Les pionniers de l’art moderne vietnamiens en France » au musée Cernuschi à Paris).

Old scholar seated (Mai Thứ)

This portrait reflects the break introduced by the assimilation of Western art: the three-quarter pose is natural, the man leans on a cushion, and the hand brought to his goatee adds to his serious expression, full of introspection. From now on, the artist can convey the moods of his subject and, by a mirror effect, his own feelings in his compositions. It is at this time that the individuality of the artist first becomes apparent in Vietnamese art.

(Text entirely taken from the exhibition entitled « The Pioneers of Modern Vietnamese Art in France » at the Cernuschi Museum in Paris).

Sĩ phu già ngồi (Mai Thứ)

Bức chân dung này chứng tỏ sự gián đoạn do việc tiếp thu được nghệ thuật phương Tây: tư thế ngồi ba phần tư rất  tự nhiên, người đàn ông dựa vào một cái gối đệm, bàn tay thì giơ lên ​​vuốt chòm râu để tăng thêm nét mặt nghiêm nghị, tràn đầy  nghi vấn trong lòng. Từ nay, họa sĩ  có thể ghi lại  tâm trạng  chủ đề của mình và nhờ hình ảnh phản chiếu, tất cả  cảm xúc của chính mình vào tác phẩm. Đó là thời điểm cá tính riêng biệt của họa sĩ  được tỏa sáng lần đầu tiên trong nghệ thuật Việt Nam.

 (Văn bản được lấy nguy ên vẹn từ cuộc triển lãm mang tên “Những người tiên phong nghệ thuật hiện đại  Việt Nam ở Pháp” tại bảo tàng Cernuschi, Paris)

[Return PIONNIERS]

Lê Phổ

Hai bức tranh này là đặc trưng của thời kỳ Findlay. Phong cách tân ấn tượng của trường phái nabis đặc biệt thu hút khách hàng người Mỹ. Trong đó, họa sĩ nhắc nhở đến nguồn gốc Việt của mình qua một số dấu hiệu: áo dài và mái tóc đen, một bình sứ Trung Hoa hoặc một hộp sơn mài. Nhưng giai điệu chung của tác phẩm nó đã rời xa những mối quan ngại của những năm 1940 bằng cách tượng trưng một thế giới ảo tưởng, đầy màu sắc và vui vẻ, trở thành từ  nay nơi chú trọng nhiều  đến  ánh sáng.

(Văn bản được lấy nguyên vẹn từ cuộc triển lãm mang tên “Những người tiên phong nghệ thuật hiện đại  Việt Nam ở Pháp” tại bảo tàng Cernuschi, Paris)

Ces deux toiles sont caractéristiques de l’époque Findlay. Le style néo- impressionniste aux accents nabis attire particulièrement la clientèle américaine. Le peintre y rappelle ses origines vietnamiennes par quelques indices: la tunique et la chevelure noire, un vase de Chine ou une boîte laquée. Mais la tonalité générale s’éloigne des préoccupations des  années 1940.Un monde de fantaisie, coloré et joyeux est désormais le théâtre de recherches autour de la lumière.

(Texte repris intégralement à l’exposition du musée Cernuschi, Paris)

These two canvases are characteristic of the Findlay period. The neo-impressionist style with Nabis accents particularly attracts the American clientele. The painter recalls his Vietnamese origins through a few clues: the tunic and black hair, a Chinese vase, or a lacquered box. But the overall tone moves away from the concerns of the 1940s. A world of fantasy, colorful and joyful, is now the stage for explorations around light.

(Text taken in full from the exhibition at the Cernuschi Museum, Paris)

[Return PIONNIERS]

 

Les pionniers de l’art moderne vietnamien (Mai Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm)

     

   Lê Phổ

   Mai Thứ

   Vũ Cao Đàm

 

[Return MUSEUM]

Musée des Beaux-arts de Saïgon (Bảo tàng mỹ thuật Saïgon)


Version anglaise
Version française
Galerie des photos

Được tọa lạc tại số 97 Phó Đức Chính, Quận 1, bảo tàng mỹ thuật trước đó là  dinh thự  của một thương gia gốc Hoa  giàu có  bậc nhất ở Saigon tên là Hứa Bổn Hòa. Ông nầy có nhờ kiến trúc sư người Pháp Diego Rivera  thiết kế dinh thự nầy vào năm 1929 và hoàn thành vào năm 1934. Toà nhà nầy được xây cất trên một diện tích có hơn 3000m2 với phong cách kiến trúc độc đáo (kiến trúc Art déco)  và thể  hiện được sự hài hoà giữa nét đẹp mỹ thuật của châu  Âu và châu Á khiến nhờ  đó  nó thu hút hiện nay  không ít  những người   yêu chuộng nghệ  thuật và thích sống ảo.  Bảo tàng mỹ thuật lưu giữ hiện nay rất nhiều tác phẩm có giá trị không những về phương diện lịch sử mà còn luôn cả về điêu khắc và hội họa. Bảo tàng nầy lấy màu vàng làm chủ đạo nên bên ngoài  các tường đều sơn màu vàng còn mái nhà  thì ngói âm dương màu đỏ với diễm mái tráng men màu xanh lục trông rất cầu kỳ lạ mắt.

Dinh thư  nầy có 99 cánh cửa lớn nhỏ. Con số nầy  biểu tượng cho sự viên mãn. Mỗi cửa mang phong cách kiến trúc khác nhau. Các ô cửa sổ thì làm bằng kính màu  có trang trí hoa văn. Còn các ban công  thì có cấu trúc  hình vòm  đưa  ra ngoài cùng với hệ thống lan can sắt  trang trí với  nhiều hoa văn độc đáo. Còn bên trong dinh thự  có nhiều gian  được trang trí  như trên trần sảnh với các hoa văn đắp nổi và các đèn chùm theo kiểu Pháp. Cầu thang được lát đá cẩm thạch, sàn nhà được lát gạch bông với hoa văn phong phú. Nhờ có  những cửa lớn của dinh thự  nên lúc nào cũng tràn ngập ánh nắng khiến dễ chụp hình.  Chính ở căn nhà 99 cửa nầy có thang máy đẩu tiên ở  thành phố Saïgon.

Situé au numéro 97 Phó Đức Chính du premier arrondissement, le musée des beaux-arts était auparavant le manoir de l’homme d’affaires chinois le plus riche de Saigon, nommé Hứa Bổn Hòa. Celui-ci  demanda à l’architecte français Diego Rivera de concevoir ce manoir en 1929 et l’acheva en 1934. Ce manoir a été édifié sur une superficie  ayant plus de 3000m2  avec le style architectural unique (Art Déco) et a réussi à montrer l’harmonie entre la beauté artistique de l’Europe et de l’Asie, ce qui permet d’attirer pas mal de gens passionnés de l’art et aimant vivre dans l’illusion. Le Musée des Beaux-Arts conserve actuellement de nombreuses œuvres de grande valeur, non seulement en termes d’histoire mais aussi de sculpture et de peinture. Ce musée utilise le jaune comme couleur principale. Ses murs extérieurs sont peints en jaune et sa toiture est composée de tuiles rouges yin et yang avec des bords en céramique  colorés en vert donnant l’aspect étrange et  fantaisiste.

Ce manoir possède 99 grandes et petites portes. Ce nombre symbolise la perfection. Chaque porte a un style architectural différent. Les fenêtres sont en vitraux avec des motifs décoratifs. Quant aux balcons, ils sont en forme d’arc saillant avec un système de balustrades en fer ornées de motifs singuliers. À l’intérieur du manoir, de nombreuses pièces sont décorées avec des motifs en relief et des lustres de style français sur leur plafond. Les escaliers sont carrelés de marbre tandis que  le sol est pavé de riches motifs. Grâce à ses  grandes portes, le manoir est toujours inondé de lumière, ce qui facilite la prise des photos. C’est aussi ici qu’on trouve le premier ascenseur installé à Saïgon.

Located at 97 Phó Đức Chính Street, District 1, the Fine Arts Museum was previously the mansion of one of the wealthiest Chinese merchants in Saigon named Hứa Bổn Hòa. He commissioned the French architect Diego Rivera to design this mansion in 1929, and it was completed in 1934. The building was constructed on an area of over 3000 square meters with a unique architectural style (Art Deco architecture) that reflects a harmony between the artistic beauty of Europe and Asia, which attracts many art lovers and photography enthusiasts today. The Fine Arts Museum currently preserves many valuable works not only from a historical perspective but also in sculpture and painting. The museum features yellow as its dominant color, so the exterior walls are painted yellow, while the roof has red yin-yang tiles with green glazed ridge tiles, creating a very intricate and striking appearance.

This mansion has 99 large and small doors. This number symbolizes completeness. Each door features a different architectural style. The window panes are made of stained glass decorated with patterns. The balconies have an arched structure extending outward, with iron railings adorned with many unique patterns. Inside the mansion, there are many rooms decorated similarly, with embossed patterns on the ceiling of the hall and chandeliers in the French style. The stairs are paved with marble, and the floors are tiled with richly patterned ceramic tiles. Thanks to the large doors of the mansion, it is always filled with sunlight, making it easy to take photos. It is in this 99-door house that the first elevator in Saigon city was installed.
 

Galerie des photos

[RETURN MUSEUM]

Kiến An Cung (Sadéc)


Version française

Tọa lạc ở giữa trung tâm thành phố Sa Đéc, chùa nầy còn đựợc bết với cái tên là chùa ông Quách.Chùa nầy được xây dựng vào năm 1927 bởi nhóm người Phúc Kiến đến lập nghiệp ở Sa Đéc nhầm để tôn vinh tổ tiên của họ và để giữ liên lạc mật thiết với cộng động của họ ở Trung Hoa.Chùa nầy có hình chữ Công (工) nên có 3 gian Đông lang, Tây lang và khu chính điện. Chùa được lợp ngói âm dương theo kiểu rồng lượn sóng. Đặc điểm ở chùa nầy là có một kiến trúc độc đáo  không có kèo chỉ dùng các đòn tay  ráp mộng để chịu đựng sức nặng trên những cột gỗ tròn. Ngoài cổng chùa thì có sự hiện diên  hai con kỳ lân còn ở trong nội điện th ì  trang trí với màu sắc rực rỡ và  trên những bức tường của chùa thì thấy được những hình ảnh  ở trong Tây du ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa vân vân…

Située au centre de la ville de Sa Đéc, cette pagode est également connue sous le nom de pagode ông Quách. Cette pagode fut édifiée  en 1927 par les gens de Fujian venant s’installer à Sa Déc dans le but d’honorer leurs ancêtres et garder des contacts étroits avec leur communauté en Chine. Ayant la forme du caractère Cong (工), elle comporte donc 3 pièces: Đông lang, Tây lang et le hall principal.  La pagode est couverte de tuiles yin et yang dans un style de dragon ondulé. La caractéristique de cette pagode est qu’elle présente une architecture unique sans arbalétrier, reposant uniquement sur des poutres à bras mortaisées afin de  supporter le poids grâce à  des piliers ronds en bois. À l’extérieur de la pagode, il y a la présence de deux licornes, tandis que  dans le hall intérieur on trouve la décoration avec des couleurs vives et sur les murs des illustrations trouvées dans le pèlerinage vers l’Ouest, les Trois Royaumes  etc.

KAN

Sa Déc ( Đồng Tháp)

 

Version française

Dưới thời Pháp thuộc  Sa Đéc được xem là  thị trấn nhỏ, yên tĩnh  ở đồng bằng sông Cửu Long.Tên nó có nguồn gốc từ tiếng Khơ Me  Psar Dèk. Nay Sa Déc thuộc về tỉnh Đồng Tháp.  Chính đây là vùng Tây Nam Bộ, nơi có được một bức tranh văn hóa đa sắc với  bốn tộc chính là người Việt, Khơ Me, Hoa và Chăm.  Chính cũng nơi nầy có một chuyện tình lãng mạn, không hồi kết cuộc của một chàng trai người Việt  gốc Hoa  Huỳnh Thủy Lê cùng cô con gái người Pháp lúc còn thiếu niên, trở  thành nhà văn hào Pháp nổi tiếng về  sau với tên Marguerite Duras  qua  quyển sách « Người Tình » của bà,  được giải thưởng  Goncourt 1984 và  đã được chuyển thể thành phim và dịch ra 42 thứ tiếng. Nay chỉ còn dấu ấn của Huỳnh Thủy Lê qua ngôi nhà cổ của ông  được xếp hạng là di sản lịch sử của đất nước.

Durant la période coloniale française, Sa Đéc était considérée comme une petite ville tranquille du delta du Mékong. Son nom est dérivé du mot khmer Psar Dek. Sa Déc appartient désormais à la province de Đồng Tháp. Il s’agit de la région du Sud-Ouest de la Cochinchine, où l’on retrouve un tableau culturel multicolore avec quatre groupes ethniques principaux : les Vietnamiens, les Khmers, les Chinois et les Cham. C’est également ici que se déroule une histoire d’amour romantique sans fin entre un Vietnamien d’origine chinoise Huỳnh Thủy Lê et une adolescente française, qui deviendra plus tard une célèbre écrivaine nommée Marguerite Duras grâce à son best-seller intitulé « L’Amante » ayant remporté le prix Goncourt en 1984 et ayant été adapté en film et traduit en 42 langues. Aujourd’hui il ne reste que la trace de Huỳnh Thủy Lê grâce à sa vieille maison classée désormais comme le patrimoine historique du Vietnam.
 

 

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Sáng nay từ bỏ Trà Vinh sang Đồng Tháp để đi tham quang Phước Kiến Tự ở thành phố Cao Lãnh nổi tiếng ngoài các tượng phật và các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo, còn có một ao rất rộng chứa hàng trăm lá sen to và có hình dáng tựa  như chiếc nón quai thao của những cô gái làng quan họ ở Bắc Ninh. Chắc chắn nguồn gốc nó phải  đến từ  xứ  Ba Tây  thường đựợc gọi là  Victoria amazonica hay là hoa súng to ở vùng Amazone. Theo sách thực vật học  thì phải mất gần 50 năm mới trồng được nó ở Âu Châu sau khi mang nó về  vào năm 1800. Như  vậy chùa nầy có  lá  súng  to (chớ không phải sen) cũng mới đây thôi. Cũng như chùa Mía ở ngoại ô thành phố Hà Nội, muốn đi vào chùa phải đi ngang nơi tụ tập nhiều người  ngồi  buôn bán  dọc theo lề đường để đi vào chùa. Cũng  nhờ đó  chùa nầy trở  thành một điểm tham không thể bỏ qua  ở  vùng Đồng Tháp và cũng đem nguồn lợi  không ít cho cư dân địa phương. 

Đến đây phải ăn chè hột sen rất ngon. Còn muốn chụp hình thì phải  trả tiền  thêm nhưng phải theo cách  chỉ  dẫn đi đến lá súng với một  lối  đi chỉ  định  không phải lá súng nào cũng được.  Thêm vào đó nước ao hồ mang tính acide và giàu azote. Vã lại một lá súng trưởng thành có thể chở được một ngưởi nặng từ 60 đến 70 kí lô mà thôi. Tại sao có thể vì mặt sau của  súng  có  nhiều  đường gân to tỏa ra từ trung tâm ra  đến  mép. Ngoài ra còn có một số nhánh từ  đường gân chính khiến  tạo ra thành một mạng lưới phức tạp và vững mạnh như một bộ xương để hỗ trợ và chịu đựng nỗi trọng lượng quan trọng đấy.

Ce matin, après avoir visité Trà Vinh, nos sommes allés à la province Đồng Tháp pour visiter une pagode nommée Phước Kiến Tự qui est très connue à Cao Lãnh pour ses statues de Bouddha et ses œuvres d’art bouddhique. Cette pagode possède un étang très vaste contenant des centaines de grandes feuilles de lotus semblables aux chapeaux plats à mentonnière garnis de cordons en soie et réservés pour les filles du village de Bắc Ninh. Son origine doit venir sûrement du Brésil. Il est fréquemment appelé sous le nom de Victoria amazonica ou nénuphar géant d’Amazonie. Selon le dictionnaire des plantes, il faut perdre presque 50 ans pour réussir à le faire pousser en Europe après l’avoir ramené en 1800. Donc cette pagode réussit à avoir les feuilles de nénuphar géant à une date récente. Analogue à la pagode Mía de la banlieue de la capitale Hanoï, son entrée est bondée des marchands ambulants. C’est grâce à l’existence de ce nénuphar géant que la pagode devient un lieu touristique incontournable permettant de procurer  aux gens locaux des avantages financiers non négligeables. De passage dans ce lieu, il faut goûter la délicieuse soupe aux graines de lotus.

Pour ceux qui s’intéressent aux photos de souvenir, outre le prix à payer, il faut suivre strictement les indications afin de pouvoir se mettre seulement sur la feuille de nénuphar qu’on a désignée par avance. L’eau de la mare contient de l’acide azoté. De plus, la grande feuille de nénuphar peut porter une personne de 60 à 70 kilos car son dos est garni de nervures robustes partant du centre vers le bord. Il existe également à partir de la nervure principale plusieurs branches formant un réseau solide et complexe ressemblant à une ossature puissante pour le soutien.

This morning, after visiting Trà Vinh, we went to Đồng Tháp province to visit a pagoda called Phước Kiến Tự, which is very famous in Cao Lãnh for its Buddha statues and Buddhist artworks. This pagoda has a very large pond containing hundreds of large lotus leaves resembling flat hats with chin straps adorned with silk cords, reserved for the girls of the Bắc Ninh village. Its origin likely comes from Brazil. It is often called by the name Victoria amazonica or giant Amazon water lily. According to the plant dictionary, it takes almost 50 years to successfully grow it in Europe after bringing it back in 1800. So this pagoda has recently succeeded in having giant water lily leaves. Similar to the Mía pagoda in the suburbs of the capital Hanoi, its entrance is crowded with street vendors. Thanks to the existence of this giant water lily, the pagoda has become a must-visit tourist spot, providing locals with significant financial benefits. When passing through this place, one must taste the delicious lotus seed soup.

For those interested in souvenir photos, besides the fee to pay, one must strictly follow the instructions in order to stand only on the designated water lily leaf assigned in advance. The pond water contains nitric acid. Moreover, the large water lily leaf can support a person weighing 60 to 70 kilograms because its back is equipped with robust ribs extending from the center to the edge. There are also several branches originating from the main rib, forming a solid and complex network resembling a strong framework for support.

Galerie des photos

[Return RELIGION]

 

 

 

Phước Minh Cung (Temple de Guan Yu, Trà Vinh)

Phước Minh Cung

Quan Công là người hội đủ các đức tính trung dũng, tình nghĩa, độ lượng và công minh chính trực và cũng  là nhân vật nổi tiếng ở thời Tam Quốc hậu Hán. Chính vì vậy khi ông qua đời, người ta đã tôn thờ ông như một vị thánh. Bởi vậy nơi nào có người Hoa cư trú thường thấy họ hay thờ Quan Công. Ở Trà Vinh nơi thờ ông hay được gọi là Phước Minh Cung.

Étant un personnage réussissant à avoir toutes les vertus de courage, de loyauté, de générosité et de justice, Guan Yu est aussi  l’un des généraux célèbres chinois de l’époque des Trois Royaumes et de la fin des Han. C’est pour cela que  les Chinois le vénèrent comme un Saint lors de sa mort. Partout où la présence des Chinois est importante, on y trouve toujours un temple dédié à ce général. À Trà Vinh, le temple est connu sous le nom de Phước Minh Cung.

Pagode AngKorborajaborey (Chùa Âng)

Pagode AngKorborajaborey

 

Version française

Toạ lạc ở  bên cạnh quốc lộ 53 của tình Trà Vinh, chùa  Angkorajaborey hay là chùa Âng mà người Việt thường gọi, là một ngôi chùa cổ có lâu đời có cà ngàn năm tuổi từ năm 990. Nó nằm cách xa thành phố Trà Vinh khoảng chừng 5 cây số nằm trong một khuôn viên thắng cảnh Ao Bà Ôm với một diện tích khoảng chừng 4 ha và đối diện với Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khơ Me của tỉnh. Đây cũng là một ngôi chùa tiêu biểu trong hệ thống 141 chùa Khơ Me ở Trà Vinh.  Chùa được công nhận là di tích kiến trúc tôn giáo của nguời Khơ Me ở Nam Bộ vào năm 1994.

Version française

Située à côté de l’autoroute 53 de la province de Trà Vinh, la pagode Angkorajaborey ou pagode Âng comme l’appellent souvent les Vietnamiens, est une ancienne pagode vieille de plus de mille ans depuis 990. Elle est située à environ 5 kilomètres de la ville de Trà Vinh, dans la zone pittoresque de l’étang Ba Om possédant une superficie d’environ 4 hectares et elle est en face du musée de la culture ethnique khmère de la province. C’est aussi une pagode  typique du d’un système des 141 pagodes khmères de Trà Vinh. Elle a été reconnue comme  un vestige  architectural religieux du peuple khmer vivant au Sud Vietnam en l’an 1994.