Sur la route de Tôkaido (Hiroshige)

53 relais sur la route de Tôkaido

Version vietnamienne
Version anglaise
Galerie des photos

Le musée des arts asiatiques Guimet (Paris) est en train d’exposer  en ce moment  l’album des estampes japonaises intitulé « 53 relais sur la route de Tokaido ». C’est la célèbre série d’estampes de Hiroshige  (1797-1858) après sa mission d’accompagner une délégation envoyée par le Shogun, partant d’Edo (Tokyo) jusqu’à la capitale impériale Kyoto et ayant pour but d’offrir les chevaux à l’occasion de la fête et montrer le respect vis-à-vis de l’empereur.  C’est l’une des 5 routes importantes de Gokaido.  Cette route n’est pas seulement l’itinéraire vital pour les voyageurs (marchands, gens ordinaires, malandrins, bonzes, daimyos etc.)  mais elle est aussi longue de 500 kilomètres et pittoresque car elle est jalonnée d’auberges et de relais, de sites historiques, de sanctuaires shintoïstes ou bouddhiques et elle est plongée dans de vertigineux paysages comme la passe Nakayama, le sanctuaire Ise etc.

Chaque relais offre des services nécessaires au voyageur: auberges, restaurants, divertissements, commerces etc… ce qui donne une source d’inspiration inépuisable pour Hiroshige.  On peut dire qu’il nous offre les estampes du « monde flottant ». De plus, cette route crée  aussi un espace politique au Japon à l’époque Edo avec un contrôle très sévère de la part des samouraïs au service du shogun  sur les gens locaux et surtout sur les daimyos (seigneurs féodaux). Cet itinéraire est remplacé aujourd’hui par le rail ultra rapide de Tokaido Shinkansen.  Avec le TGV japonais, le touriste n’a plus l’occasion d’admirer ce qui a été décrit par Hiroshige sur ses estampes (ukiyo-e).

The Guimet Museum of Asian Arts (Paris) is currently exhibiting the album of Japanese prints titled « 53 Stations on the Tokaido Road. » It is the famous series of prints by Hiroshige (1797-1858) following his mission to accompany a delegation sent by the Shogun, traveling from Edo (Tokyo) to the imperial capital Kyoto with the purpose of offering horses on the occasion of the festival and showing respect to the emperor. It is one of the five major Gokaido routes. This route is not only a vital itinerary for travelers (merchants, ordinary people, rogues, monks, daimyos, etc.) but it is also 500 kilometers long and picturesque, dotted with inns and stations, historical sites, Shinto or Buddhist shrines, and immersed in breathtaking landscapes such as the Nakayama pass, the Ise shrine, and more.

Each station offers essential services to travelers: inns, restaurants, entertainment, shops, etc., providing an inexhaustible source of inspiration for Hiroshige. One could say he offers us prints of the « floating world. » Moreover, this route also created a political space in Japan during the Edo period with very strict control by samurai serving the shogun over the local people and especially the daimyos (feudal lords). This route is now replaced by the ultra-fast Tokaido Shinkansen rail line. With the Japanese high-speed train, tourists no longer have the opportunity to admire what Hiroshige described in his prints (ukiyo-e).
Version vietnamienne

Bảo tàng viện nghệ thuật Châu Á Guimet ở Paris đang trưng bày hiện nay một bộ tranh màu in trên mộc bản mà thường gọi là ukiyo-e  và có tựa đề là « 53 trạm nghỉ của Tokaido ». Đây là một  bộ tranh được họa sỹ Hiroshige dày công sáng tác sau chuyến hành trình của ông đi dọc theo con đường Tokaido vào năm 1832.  Ông được chọn đi  từ Edo (Tokyo ngày nay) đến kinh đô Kyoto cùng phái đoàn chính thức của tướng quân, người thực chất  cầm quyền trong tay  ở Mạc phủ (Shogun) với chủ đích cống hiến ngựa cho triều đình nhân dịp lễ để bày tỏ sự kính trọng với Nhật hoàng.  Đây là một trong năm con đường huyết mạch của Gokaido. Nó không những là con đường mà  lữ  khách (thương nhân, người dân bình thường, thiền sư, du côn, lãnh chúa vân vân …)  thường dùng hằng ngày mà  còn là con đường ngoạn mục dài 500 cây số vì nó đầy rẫy các lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sử, các quang cảnh đẹp đáng kinh ngạc như đèo Nakayama, đền Ise  vân vân … 

Mỗi trạm nghỉ thường có những dịch vụ cần thiết cho lữ khách: nhà trọ, quán ăn, trò tiêu khiển, mậu dịch vân vân …).  Chính vì thế nó là một nguồn cãm hứng không ít cho họa sỹ Hiroshige. Có thể nói ông tặng cho chúng ta những bức tranh của « thế giới nổi trôi ». Tuyến đường nầy còn tạo ra ở thời kỳ Edo một không gian chính trị dưới  sự kiểm soát nghiêm ngặt  của tầng lớp võ sĩ (samouraïs) về  việc đi lại của người địa phương cũng như  của các lãnh chúa (daimyo). Con đường nầy được thay thế ngày nay bởi con đường sắt với các tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen  khiến người du khách không còn có dịp chiêm ngưởng những gì Hiroshige mô tả lại qua bộ tranh tuyệt vời in trên mộc bản  của ông.

Galerie des photos

 

[Return MUSEUM]

Paris à Las Vegas (Ba Lê ở Las Vegas)

Dans sa splendeur

 

Version française

En 1990 étant de passage à Las Vegas, il n’y avait pas encore la tour Eiffel. Maintenant de retour à Las Vegas, c’était triste de ne pas avoir une photo sur la tour Eiffel (Las Vegas). Etant fier d’être toujours parisien, c’était intolérable de ne pas faire la photo. C’est pour cela que j’étais accompagné par mon ami intime d’aller chercher la tour Eiffel le long de l’avenue principale de Las Vegas. Épuisé, je dis à mon ami: Si on ne trouve pas la tour Eiffel au delà du pont, on va retourner à l’hôtel. À l’approche du pont, la tour Eiffel apparut dans toute sa splendeur, ce qui me donna une joie indescriptible. C’est une chance pour moi de la retrouver au bon moment sans oublier la gentillesse de mon ami de vouloir me plaire malgré sa fatigue. L’avenue principale était inondée de gens avec une chaleur suffocante à 23 h du soir. Je remercie infiniment mon ami à cause de la tour d’Eiffel. Hi Hi…

paris_las_vegas

Version vietnamienne

Hồi moa đi Las Vegas năm 1990 thì tour Eiffel chưa có nay trở lại Las Vegas mà không có tấm ảnh Tour Eiffel ở Las Vegas kỳ nầy thì rất buồn vì bao nhiêu năm mình ở Paris còn nhiều hơn ở bên nhà mà không có tấm ảnh tour Eiffel ở Las Vegas thì hổ thẹn lắm nhất là lúc nào cũng tự cho mình là parisien. Anh bạn thâm tình đi bộ dẫn dắt không ít nhất là nguyên ngày ngồi xe nên đi gần hết đường chánh mà tour Eiffel vẫn không có moa mới nói: Thôi đến cầu không có đi về. Gần đến cầu tháp Eiffel nó hiện ra đẹp lộng lẫy khiến moa vui không xiết nói chụp xong tháp Eiffel đi về. Đấy là duyên của moa công thêm cái tính trọng bạn của anh bạn nên moa mới có các tấm ảnh ở Eiffel. Có ít 7, 8 cây số đi bộ đông người nhất là trời rất nóng. Merci anh bạn thương bạn vô cùng cũng vì tháp Eiffel. Hi hi.

 

Ottawa (Capitale fédérale du Canada)

Ottawa, thủ đô của Gia Nã Đại

Version vietnamienne

En raison de sa situation géographique sur la frontière entre les provinces d’Ontario et du Québec et de l’accord entre les francophones et les anglophones, Ottawa fut choisie en 31 décembre 1857 comme la capitale de la colonie par la reine Victoria. Pourtant Ottawa fut au départ un campement destiné à superviser la construction du canal Rideau dans le but de faciliter le transport du bois depuis la vallée d’Ottawa jusqu’à Montréal et d’éviter les éventuelles attaques américaines grâce à son éloignement de la frontière. Puis elle devint en 1867 la capitale du Canada suite à la confédération des colonies anglaises et françaises. Elle se distingue par les trois anciens édifices néogothiques du parlement sur la colline et rappelant étrangement les chambres de Westminster (Londres), les résidences du gouverneur fédéral et du Premier Ministre. Un autre symbole d’Ottawa c’est le canal Rideau reconnu comme patrimoine mondial de l’Unesco. Ottawa est une ville bilingue au sein d’une province officiellement anglophone.

Ottawa
Version vietnamienne
 

Do vị trí địa lý nằm ở  ngay biên giới của hai tỉnh Ontario và Québec và với sự đồng ý thỏa thuận của các những người nói tiếng Anh và Pháp, thành phố Ottawa đã được nữ hoàng Anh Victoria chọn làm thủ đô của các dân thuộc địa vào ngày 31 tháng 12 năm 1857. Tuy nhiên, Ottawa ban đầu là một trại đóng quân để  giám sát việc xây dựng cái kênh Rideau và để tạo điều kiện cho việc vận chuyển gỗ từ thung lũng Ottawa đến Montréal và tránh được các cuộc tấn công có thể  xảy ra của người Mỹ vì Ottawa tọa lạc  rất xa biên giới. Sau đó, vào năm 1867, Ottawa trở thành thủ đô của Gia Nã Đại sau cuộc liên minh của các vùng thuộc địa Anh và Pháp. Ottawa được nổi tiếng qua ba tòa nhà tân cổ điển của quốc hội ở trên đồi  gợi cho chúng ta nhớ đến toà nhà quốc hội Westminster ở  Luân Đôn và các dinh của thống đốc liên bang và thủ tướng. Một biểu tượng khác của Ottawa đó là kênh đào Rideau, được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO. Ottawa là một thành phố song ngữ trong một tỉnh chính thức được xem là một vùng nói tiếng Anh.

Toronto (Capitale de l’Ontario)

 

Version vietnamienne

Toronto n’est pas non seulement l’une des grandes villes du Canada mais elle est aussi la capitale de la province Ontario. Au moment de notre passage au quartier chinois , la brume matinale envahit de loin la tour célèbre CN connue comme la plus haute tour du monde de 1975 à 2007. Elle est devancée aujourd’hui par la tour Burj Khalifa de Dubai et la tour de télévision et de tourisme de Canton. Malgré cela, elle reste l’un des attraits touristiques canadiens avec 2 millions de visiteurs par an et l’un des symboles importants du Canada. Comme dans d’autres lieux, la ville Toronto possède aussi un quartier chinois qui est moins animé qu’à Paris, les gens étant plus calmes. La vie locale paraît plus agréable et moins stressée qu’à Paris. À cause de la brume matinale, il nous est interdit de monter jusqu’au sommet de la tour CN pour pouvoir faire une photo panoramique sur la ville. C’est dommage pour moi mais il vaut mieux se contenter de ce qu’on a et faire quelques photos car je sais que je ne reviens pas car j’ai d’autres endroits à visiter. Ce qui compte pour moi c’est d’être ensemble avec deux amis d’enfance à l’époque où nous étions âgés de 7 ou 8 ans à l’école et partager tout ce qu’on a de la bouffe jusqu’aux histoires drôles durant le séjour au Canada lorsque nous venons de loin, de trois pays différents (France, USA et Canada). C’est une chance unique d’avoir ce moment de bonheur et de joie dans la vie.

Toronto

Version vietnamienne

Toronto không những là một trong các thành phố đông dân nhất của Gia Nã Đại mà còn là thủ đô của tỉnh Ontario. Hôm đến tham quan sáng sớm thành phố bị sương mù dày đặc buông xuống che khuất từ đằng xa tháp CN khi lúc tụi nầy ở khu tàu, một ngọn tháp nổi tiếng là cao nhất ở thế giới từ năm 1975 đến năm 2007 nay bị vượt qua bỡi tháp Burj Khalifa (Dubai) và tháp truyền hình và du lịch của Quảng Châu. Tuy nhiên nó vẫn thu hút khoảng 2 triệu khác một năm và là một biểu tượng quan trọng của Canada. Cũng như mọi nơi, Toronto cũng có một khu tàu nhưng nó không có đông đúc như ở Paris, người dân cũng trầm lặng không có ồn ào. Cuộc sống cũng thấy có phần thỏa mái nhiều hơn Paris, cũng có tramway. Vì sương mù phủ xuống tháp CN tụi nầy không được lên ngọn tháp CN chụp toàn cảnh của Toronto. Rất tiếc nhưng thôi có chi thì cứ chụp nhất là mình biết sẻ không trở lại nhưng rất vui là lúc nào ba anh em quen biết từ thưở nhỏ chia sẻ cùng nhau từ các chuyện vui đến các thức ăn nhất là đến từ ba quốc gia khác nhau (Pháp, Mỹ và Gia Nã Đại), đây là cái duyên hy hữu trong cuộc sống.

 

Les serres royales de Laeken ( Nhà kính hoàng gia Bỉ)

Les serres royales de Laeken

Version vietnamienne
Version française
Version anglaise
Pictures gallery

Cứ mỗi năm nhà kính hoàng gia Bỉ tọa lạc ở cung điện Laeken chính thức mở cửa chỉ trong vòng ba tuần đón tiếp công chúng ở khắp nơi trên thế giới, năm nay từ ngày 19/4 đến 10/5. Nhà kính nầy có hơn 100 năm tuổi và được thiết kế bởi kiến trúc sư Alphonse Balat dưới triều đại của vua Léopold II (1865-1909).  Công trình nầy là một quần thể kiến trúc hoàn toàn bằng kính và kim khí nằm trong một quan cảnh đồi núi và mất gần 12 năm mới được hoàn thiện với diện tích có đến 2,5 ha. Có luôn cả một tháp Nhật Bản. Nơi nầy, có các loại thực vật rất nổi tiếng nhất là các loại hoa thơm như phong lữ, đỗ quyên, cẩm tú cầu hay hoa trà. Dù thời gian đón khách du lịch rất ngắn (có 3 tuần), nhà kính hoàng gia vẫn là nơi được du khách biết đến rất nhiều, có ít nhất 800.000 người đến tham quan mỗi năm. Tiền thu thập được dùng để sùng tu nhà kính hay dành cho các việc từ thiện của nữ hoàng hay là mua các tác phẩm nghệ thuật cho bộ sưu tập hoàng gia.

Version française

Chaque année, les serres royales de Laeken sont ouvertes au public et aux touristes étrangers durant trois semaines. Cette année l’ouverture commence le 19 Avril et se termine le  10 Mai. Ayant plus  de 100 ans d’âge, ces serres royales ont été conçues  par l’architecte Alphonse Balat sous le règne du roi Léopold II (1865-1909).  Elles sont en fait un complexe architectural  réalisé entièrement en métal et en verre et implanté  dans un paysage vallonné. On compte presque 12 ans dans la réalisation de ce complexe superbe avec une superficie ayant au moins 2,5 ha. Une tour japonaise est visible de loin. C’est ici qu’on trouve des plantes très connues, en particulier  des fleurs parfumées comme les géraniums, les rhododendrons, les hortensias ou les camélias. Bien que  l’ouverture au public soit  de courte durée (3 semaines), les serres royales de Laeken sont très connues par les touristes étrangers. Il y au moins chaque année  800.000 visiteurs. L’argent récolté est destiné entièrement aux œuvres caritatives de la reine, aux opérations de restauration ou à l’acquisition des œuvres d’art pour enrichir la Collection Royale.

Version anglaise

Every year, the Royal Greenhouses of Laeken are open to the public and foreign tourists for three weeks. This year the opening starts on April 19 and ends on May 10. More than 100 years old, these royal greenhouses were designed by the architect Alphonse Balat during the reign of King Leopold II (1865-1909). They are actually an architectural complex made entirely of metal and glass and set in a hilly landscape. It took almost 12 years to complete this superb complex with an area of at least 2.5 hectares. A Japanese tower is visible from afar. It is here that very well-known plants are found, particularly fragrant flowers such as geraniums, rhododendrons, hydrangeas, or camellias. Although the opening to the public is of short duration (3 weeks), the Royal Greenhouses of Laeken are very well known among foreign tourists. There are at least 800,000 visitors each year. The money collected is entirely intended for the queen’s charitable works, restoration operations, or the acquisition of artworks to enrich the Royal Collection.

Serres royales de Laeken

Serres royales de Laeken

[Retour Pays d’Europe]

Parc floral Keukenhof (Lisses)

Version vietnamienne

Mỗi năm, cứ giữa tháng 3 cho đến giữa tháng 5, vườn hoa Keukenhof mở cửa đón chào du khách ngọai quốc. Vườn hoa nầy thường được gọi là « vườn rau » vì trước đó nơi nầy trồng rau cho bà bá tước tên là Javoba de Bavière. Nó toa lạc ở trung tâm của vùng Lisse cách xa Amsterdam (Hà Lan) 40 cây số và được xem là một công viên triển lãm hoa lớn nhất thế giới nhất là hoa tulipe. Mỗi năm có hơn 7 triệu bông hoa được trồng 3 tháng trước khi mở cửa ở công viên nầy có khoảng chừng 32 ha và có đến 800.000 du khách đến đây để chiêm ngưỡng hoa.

Version française

Chaque année, entre mi-mars et mi-mai, le jardin floral Keukenhof est ouvert pour accueillir les visiteurs étrangers. Ce jardin est désigné souvent sous le nom « Keukenhof » (ou cour de cuisine) car il était autrefois le jardin potager de la comtesse Jacoba de Bavière. Il est situé dans le centre de la région de Lisse, à 40 kilomètres d’Amsterdam (Pays-Bas). Il est considéré aujourd’hui comme le plus grand parc d’exposition de fleurs du monde, en particulier la tulipe. Chaque année, plus de 7 millions de bulbes de fleurs sont plantés trois mois avant la date d’ouverture dans ce parc d’environ 32 hectares et 800 000 visiteurs viennent y rendre visite durant cette période.

keukenhof

[Retour Pays d’Europe]

Cây khèn bè (Khène)

Version française
English version  

Chúng ta  thường đặt câu hỏi về nguồn gốc của nhạc cụ mà được gọi là khèn bè.  Có nhiều nhà khoa học cho rằng nhạc cụ nầy đến từ nước Lào. Nhưng cũng không ít người ngần ngại và hoài nghi. Đó là trường hợp  của nhà nghiên cứu Pháp Noël Péri của  Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO).

Đối với ông nầy, nếu người  dân Việt không dùng nhạc cụ nầy  như người Lào nhưng nhạc cụ mà được trông thấy  thường ở người Muờng, một dân tộc rất gần gũi với người Việt về văn hóa và tập quán và người Hmong,  cũng giống  như khèn bè của người Lào. Hơn nửa nhạc khí nầy được thể hiện không những ở trên các trống và thạp đồng mà còn ở các vật dụng của văn hóa Đồng Sơn. Đó là trường hợp cái cán của một cái môi bằng đồng được trang trí với một nhân vật nam giới ngồi đang thổi khèn bè và được trưng bày  hiện nay  ở bảo tàng viện lịch sữ ở Saïgon (thành phố Hồ Chí Minh).

Chúng ta  dẫn đến đến kết luận và  khẳng định một cách quả quyết  là nhạc khí nầy có từ thời đồ đồng  (giữa 3000 và 1200 trước công nguyên ở Đông Nam Á) và được sáng chế bỡi người thuộc chủng Nam Á (Austro-asiatique) trong đó có các dân tộc Lào,  Hmong, Mường, Việtnam và Mnong vân vân… mà chúng ta thường gọi là đại tộc Bách Việt. Cũng không nên quên có một thời điểm nào trong quá khứ dân tộc Lào (chi nhánh Tây Âu) và dân tộc Việt (chi nhánh Lạc Việt) cùng nhau hiệp  sức trong việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán và  chống cự lại  quân Tần của  Tần Thủy Hoàng.  Theo bà khảo cứu Pháp Madeleine Colani thì các khèn bè nầy không bao giờ vượt qua dãy núi Hy Mã Lập Sơn và thung lũng Bramahpoutre của Ấn Độ. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

joueur_khen2

Khène

 Đó là truờng hợp  các khèn bè của dân tộc Dayak ở đảo Bornéo (Nam Dương) vì trước khi họ định cư trên đão nầy, họ đã sống trước đó dọc theo bờ biển phía đông của Đông Dương.  Dựa trên khèn bè của người thuộc chủng Nam Á, người Trung Hoa cũng sáng chế một nhạc cụ thường gọi là lusheng mà được nhắc đến trong kinh nhạc của Đức Khổng Tử.

Theo nhà nghiên cứu Victor Goloubew, người Đồng Sơn tức là tổ tiên của người Việt hiện nay cũng biết thổi khèn bầu.

Khèn bè được xuất hiện dưới nhiều hình dạng mà theo bà Madeleine Colani thi khèn bè của dân tộc Lào xem là óng chuốt và tao nhã nhất.  Nói chung thì  cây khèn bè  thông thường có một cấu tạo ống theo số chẵn, làm bằng tre và ở mỗi cái ống có một lỗ nhỏ  thường gọi là lỗ thổi và  bên trong ống có một  lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Các ống nầy được lắp ráp theo cặp với  chiều dài giống nhau, theo thứ tự  và giảm dần từ miệng của cái bầu khèn được cung  cấp không khí bởi hơi thổi của người chơi khèn. Chiều dài của các ống xác định độ cao của nốt. Cây khèn càng dài thì âm điệu càng thấp. Số ống dùng để thổi không có cố định và còn có liên hệ đến truyến thống văn hóa của mỗi dân tộc.  Như người Hmong ở các dãy núi phiá bắc Việtnam hay là người Mnong ở Tây Nguyên, thì  trên cây khèn chỉ có thấy 6 ống mà thôi. Còn với người Thái ở vùng Mai Châu, số ống  lên đến 14.

Khèn có  6 ống (hay Mbuot) của dân tộc Mnong ở Tây Nguyênm_buot  

Còn khèn của nguời Lào thì số ống có thể biến đổi: hoặc 6 ống với chiều dài có thể lên  đến 40 cm thì gọi là khène hot hoặc là 14 ống với   khène jet

hoặc là 16 ống với   khène baat.  Khèn nầy được trọng dụng nhiều nhất ở Lào.  Để phát âm tiếng, nguời chơi khèn phải  giữ giữa hai bàn tay nhạc cụ  mà  ở nơi đó  có miệng khèn   dùng để thổi và đưa không khí vào khèn, xem như là nơi để tụ không khí.   Cùng lúc đó người thổi  khèn phải bịt ở đầu các ống với các ngón tay khiến làm rung chuyển các lưỡi gà phù hợp  qua sự  hít vào hay thở ra của mình.

khenz_bambou

Khèn lào (16 ống)

Khèn thường có liên hệ mật thiết với các nghi lễ tôn giáo và các sự kiện quan trọng ( hội chợ, đám cưới, tang lễ vân vân …).  Có thể thổi khèn một mình hay là  với một nhóm người  nhằm để kèm theo các điệu nhảy  hay ca hát.  Mỗi dân tộc có sự tích cá biệt về khèn. Tiếng khèn cũng làm cho  thế giới con người  đến   gần với thế giới tâm linh. Đối với dân tộc Lào cũng như các dân tộc thiểu số ở Vietnam (Hmong, Thái vân vân..), cây khèn bè biểu tượng  bản sắc văn hóa. Đối với dân tộc Hmong, có một cây khèn trong nhà là niềm hãnh diện được có một người đàn ông tài hoa và khí phách trong gia đình.

Trong ngạn ngữ của người  Lào, muốn được xem là người Lào đích thực, thì phải biết thổi khèn, ăn cơm nếp với cá ươn  (padèk) và ở nhà sàn.

Dù có một vai trò rất  quan trọng như các cồng chiền Tây Nguyên (Việtnam), cây khèn bè tiếp tục bị bỏ rơikhene_laotien  theo ngày tháng bởi giới trẻ  vì muốn   thông thạo trong việc thổi khèn bè thì không những cần có sự kiên nhẫn mà cần có khiếu về  âm nhạc. Bởi vậy khèn bè không phải ai cũng thổi được mà cần phải biết diễn xuất một số giai điệu căn bản và biết nhảy hòa nhịp  theo tiếng khèn. Một số giai điệu có thể gợi lên các khía cạnh của thiên nhiên và cuộc sống. Có hơn 360 giai điệu dành cho tang lễ. Chính vì thế cây khèn bè có một vị trí quan trọng trong đời sống dân gian và tinh thần của các dân tộc thiểu số.


Tài liệu tham khảo

Essai d’ethnographique comparée. Madeleine Colani, BEFEO, 1936,Vol 36, N°1, pp. 214-216
Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam.
Rapport sur une mission officielle d’étude musicale en Indochine. Péri Noël, G. Knosp. BEFO. 1912. Tome 12, pp 18-2
Pour continuer d’entendre le son du khèn des Hmongs. Hoàng Hoa. Courrier du Vietnam, 24.03.2012

[Retour Vietnam des 54 minorités]

 

Công giáo Viêtnam ( Le catholicisme vietnamien)

catholicisme
Version française

 

 

Contrairement à d’autres religions, le catholicisme achoppa énormément sur plusieurs difficultés au début de son implantation au Vietnam (début du XVIème siècle). Cela a été dû en grande partie au refus des missionnaires d’admettre et d’intégrer le culte des ancêtres et les coutumes (polygamie, croyance aux esprits etc…) dans le catholicisme et à l’époque où le Vietnam fut troublé par les guerres internes incessantes. C’est la période où le Vietnam connut le même sort et le même cas de figure que le Japon avec une dynastie légitime mise en tutelle par une famille de ministres héréditaires, ce qu’avait perçu le père Alexandre de Rhodes dans son livre « Histoire du Royaume du Tonquin« . Il y souligna que ce que nous avons dit du Chúa des Tonkinois avait beaucoup de rapport avec ce que l’on raconta du Daishi des Japonais. C’est pourquoi le catholicisme fut perçu, durant cette période, de façon variable par les deux familles gouvernantes, les Trịnh au Nord et les Nguyễn au Sud avec un conflit sempiternel prenant le roi en position d’otage. Il fut alternativement toléré, interdit voire persécuté. Malgré cela, le catholicisme commença à trouver un écho favorable auprès des déshérités et même auprès de la Cour royale en la personne d’Alexandre de Rhodes.

Đình Làng (Maison communale: phần 3)

Đình Làng: phần 3

Version anglaise

Version française

Ngoài những lễ hội được ấn định trong năm để vinh danh thành hoàng, người dân làng còn coi trọng ngày sinh nhật  cũng  như ngày giỗ của thành hoàng.  Nhưng  có những   dịp đám cưới, bổ nhiệm,   thăng chức hay  tục khao lão  mà  ở trong làng có các cuộc chè chén tiệc tùng  và  cúng tế thành hoàng một cách   linh đình. Có thể nhận diện được thành hoàng là người đàn ông hay phụ nữ  lúc rước kiệu. Nếu thành hoàng là người đàn ông  thì luôn luôn có một ngựa chiến sơn mài màu đỏ hay màu trắng  bằng gỗ được có đầy đủ dây cương, yếm hoa, cổ đeo nhạc, trên chiếc  xa mã  cơ động với bánh xe bằng gỗ và  có chở  theo linh hồn của thần hoàng. Còn nếu là  phụ nữ thì con ngựa được thay thế bằng chiếc võng đào được treo trên cây đòn mà hai đầu được chạm với đầu rồng. Trong thời gian có lễ, thành hoàng được tôn vinh một cách trịnh trọng với chiếc kiệu chứa đầy lễ vật, nào tán nào cờ đi từ đình đến nghè (1) hay từ làng nầy qua làng kia nếu hai làng cùng có một thành hoàng chung. Còn có nhiều trò vui chơi giải trí như  chọi gà, trâu hay chim, chơi cờ với các con chốt là người vân vân…  

Đình Mỵ Nương (Cổ Loa thành)

Có một tập tục rất quan trọng làm nổi bật đời sống của thành hoàng.  Được biết dưới tên hèm và giữ kín đáo, tập tục nầy thường được cử hành ban đêm khi mà thành hoàng không có những tác động không xứng đáng để phô trương chẳng hạn thần ăn cấp, thần hốt phân vân vân …Ngược lại các thành hoàng có công trạng hiển hách hay có công đức thì được vinh danh long trọng giữa ban ngày. Thông thường tránh dùng tên của thành hoàng trong lúc lễ bằng cách sửa đối cách gọi hay thay thế một chữ khác đồng nghĩa.  Đó là trường hợp thành hoàng Ling Lang chẳng hạn.  Buộc lòng phải gọi khoai dây thay vì khoai lang, thầy lương lại thế thầy lang vân vân… Cái tập tục cá biệt nầy là một trong những nét chủ yếu trong việc cúng kiến thành hoàng. Có thể làm suy đi sự thịnh vượng cho làng nếu lơ là tập tục nầy.

Chuyện xây cất đình thông thường  đựợc quy định vào một số hình  nhất  định và theo dáng chữ nho tương ứng: Nhất, Nhị, Tam, Ðinh, Công, Vương  vân vân … Ngôi đình  dựng một mình với một ngôi nhà chính theo dạng hình chữ nhật ( một nét gạch thẳng ngang)  được gọi là thế chữ Nhất. Đó là đình Tây Đằng.  Ngược lại, dáng hình chữ Nhị là  khi có thêm một ngôi  nhà tiền tế song song  với nhà chính  tạo ra  thế chữ Nhị. Đó là đình Liên Hiệp.  Rất hiếm thấy thế chữ Tam và chữ Đinh  trong việc xây cất đình.  Nhìn chung   ngôi đình thường phổ biến nhất với hình dáng chữ Công.  Ngôi nhà ở phiá sau mà gọi là Hâu Cung được nối với ngôi nhà chính (hay đại đình) nhờ một hành lang hay một sân nhỏ (hay ống muống). Đó là các đình Mông Phụ, Đình Bảng.  Còn chữ Vương thì phải nối ba ngôi nhà (Hậu Cung, Đại Đình, Tiền Tế) với hai hành lang (ống muống).   Chính ở  ngôi nhà Tiền Tế mà các thân hào thường  dùng để cúng tế  cho thành hoàng với y phục màu xanh trong những ngày lễ.  (Tiếp theo nghệ thuật trang trí Đình)


1) ghè: nơi mà thành hoàng cư trú trước cổng làng. Lúc có lễ, thành hoàng được mời đến đình. Sau đó khi xong lễ được trở về nghè.
 

Bibliographie:

Le Ðình, maison communale du Viêt Nam.
Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự,
Editions Thế Giới, 2001

Đình Làng miền Bắc
The village Dinh in northern Vietnam
Le Thanh Đức. Editeur Mỹ Thuật 2001

Một ngày ở phố cổ Hanoï ( Une journée dans le vieux quartier de Hanoï)

Version française
English version
Galerie des photos

Bao lần đến Hànội  thỉ mình vẫn thích ở phố cổ. Phố nầy có  thời kì phong kiến thường gọi lả khu phố buôn bán hay kẻ chợ để ám chỉ những người của chợ. Khu phố nầy tuy nó có diện tích 82 ha quá nhỏ nhưng nó rất sống động. Nó là linh hồn của Hà Thành vì nó  thể hiện được bằng ký ức và  cảm xúc qua cuộc sống hằng ngày của người Hà Thành. Từ sáng đến tối, lúc nào cũng có người ngoài đường nhưng tùy giờ mà nhịp sống nó thay đổi. Chính mình cũng cảm nhận được sự kiện nầy khiến mình rất thích thú, không chán mà còn nhận ở nơi nầy có nhiều chuyện học hỏi, những tập quán mà không còn thấy ở những  đô thị khác ở Việt Nam và cũng có nhiều nơi để mình tham quan và lưu niệm qua máy ảnh   như nhà cổ Mã Mây, cầu Long Biên, cửa Ô Quan Chưởng, đền Quán Thánh vân vân…    Nhà văn Thạch Lam đã từng nói đến Hànội băm sáu phố phường qua  cái ăn uống của người Hà Thành.

Khu phố cổ nầy nó là hiện thân của nền văn hóa thương mại  và đô thị của Viêtnam đã có hơn nghìn năm. Nó còn minh chứng cho quá trình tiến triển của Hà Thành trong những năm gần đây. Mỗi giờ  luợng người qua lại  thay đổi. Sáng cở 5 giờ ở các đường nhất là ở phố Cầu Gỗ, các người bán rong hay bán hoa thường tựu về đây để họ trang trí lại  hoa  quả theo mùa và theo ý muốn của họ. Đây là một trong những nét đẹp của phố cổ. Bao lần đến ở phố cổ thì mình cũng mất ít nhất  một buổi sáng sớm cùng các du khách  ngọai quốc  đeo đuổi một cách kính đáo các người bán rong nầy để chụp ảnh. Vừa tội nghiệp cuộc sóng bon chen của họ mà cũng vừa thích thú khi chụp được các bó bông, các trái cây  họ kết hợp bày trưng   một cách khéo léo khiến  làm màu sắc rực rỡ  và làm   tăng thêm  cái  vẻ đẹp của  các thực phẩm  họ muốn bán.  Sau đó dọc theo bờ Hồ Hoàn Kiếm lối 6, 7 giờ thì có các nguời chạy bộ thư giãn,  các đoàn thể  cùng nhau tập thể dục theo nhạc hay tài chi. Còn trước các tiệm buôn bán,  bày ra la liệt  trên vĩa hè  các thúng rau cải  xanh, trái cây  hay  các thịt sống.  Đây cũng là một lối buôn bán nầy chắc có từ lâu vì thiếu chợ ở xung quanh. Có luôn cả  các nguời bán rong thức ăn (bánh cuốn Thanh Trì, nem rán, xôi, phở bò  hay cả phê vân vân…).

Nhưng cở 10 giờ trở đi  thì các trò buôn bán nẩy không còn nửa nhường vĩa hè lại cho các tiệm buôn trong ngày.  Đường xá cũng không ngừng tiếng kèn, người qua lại cũng đông, các quán cà phê  cũng  bất đầu có người và  du khách. Khi trời không mưa, có thể đi bộ  tử phố nầy sang phố khác, mỗi phố  có nghề nghiệp riêng biệt: Hàng Đào với các khăn quang cổ bằng tơ lụa đủ màu, Hàng thuốc bắc với mùi hương của các loại thảo, Hàng Mã thì bán đồ trang trí bằng giấy để cho công việc cúng lễ nhưng cũng có phố chỉ còn cò tên chớ không còn nghề bán riêng biệt như Hàng Bè nơi mình ở. Thưở xưa, nơi nầy có chợ ở trên con  đê bán  các bè gỗ.  Muốn đi bộ thư thản  như mình cũng mất ít nhất 2, 3 tiếng vỉ mình vừa đi vừa chụp hình.  Nhưng không thể đi lâu hơn được càng về trưa càng nóng không thể tưởng tượng nhất it khi có gió lắm nhưng khi có gió bấc mủa đông thì nó lạnh thấu xuơng không thua chi ở Paris. Ở phố cổ, ăn chi cũng có nhưng tùy giá mình muốn trả mà thôi.

Có một lần ngồi ăn bún chả Hànội ở vĩa hè chỉ có tốn  25 ngàn đồng nhưng  ăn không được vì chả nó bị cháy đóng  mỡ. Còn  đến tiệm ăn nổi tiếng cùng món ăn  đó thì phải trả 110 ngàn đồng. Còn ăn cá rán dầm nước mắm với xoài hay thịt kho nước dừa, món của miền nam thỉ rất khó tìm lắm nhưng khi tìm được rồi, mình cứ đến nơi đó ăn vài lần vì  mới biết người bếp từ Saigon ra đây sinh sống nấu ăn. Vị ăn của người Bắc quá mặn còn vị của người Nam quá ngọt biết  bao giờ thống nhất được  các vị nầy chắc chắn vị  nó sẻ đậm đà cho Quê Hương …Trưa lại  lại có thể ra bờ hồ Hoàn Kiếm  hứng gió như đôi tình nhân hay nghỉ mát như các du khách ngoại quốc. Nếu thích  thì có thể đi tham quan các bảo tàng nổi tiếng như bảo tàng dân tộc học, bảo tàng lịch sử vân vân … hay  đi xem múa rối nước hoăc đến các quán cà phê via hè lúc nào cũng tấp nập người. Chiều tối, có các trò biểu diển ngoài trời (ca nhạc, hát chèo vân vân ..) nếu cuối tuần thì có khu đi bộ, có chợ đêm rất náo nhiệt. Có ở Phố cổ bao nhiêu lần như mình khó mà không có kỷ niệm, khó mà quên đựợc cái đẹp  cá biệt của nó dù biết rằng cuộc sống ở đây  rất bon chen với   thời gian và không gian cùng các ngôi nhà sâu và hẹp san sát nhau (nhà ống).

Version française

En venant à Hanoï tant de fois, je continue à aimer son vieux faubourg et préférer d’y séjourner. Son existence date de l’époque féodale. On a l’habitude de l’appeler sous le nom de « quartier marchand » ou « kẻ chợ » pour faire allusion à tous ceux qui y vivent. Malgré sa très petite superficie de 82 ha, ce quartier est très animé. Il est l’âme de Hanoï car il réussit à  incarner  souvenances  et  émotions passées  dans la vie quotidienne des Hanoïens.  Du matin jusqu’au soir, le nombre  de gens ne cesse de varier dans les rues mais en fonction du créneau horaire, le rythme de vie change dont je m’aperçois également. C’est pourquoi je suis tellement satisfait  sans me lasser car c’est ici que j’apprend  à découvrir un tas de choses, des traditions que je ne trouve plus ailleurs   dans les autres villes du Vietnam. C’est aussi ici  que je peux flâner agréablement, ressentir la richesse visuelle du faubourg   et photographier des lieux  historiques tels que  l’ancienne maison Mã Mây, le pont Long Biên (ancien pont Paul Doumer), la porte Ô Quan Chưởng, le temple Quán Thánh etc.  Le célèbre romancier Thạch Lam a l’occasion d’évoquer ce faubourg à 36 rues à travers la cuisine vietnamienne. Ce vieux  quartier  témoigne  depuis plus de 1000 ans de la culture commerciale et urbaine de la civilisation vietnamienne et de son évolution jusqu’à aujourd’hui. Le va-et-vient   des  gens varie incessamment  d’heure en heure au cours de la journée. Vers 5 heures du matin dans les rues du quartier, en particulier dans  la rue Cầu Gỗ, les marchandes ambulantes ou les fleuristes  se regroupent   pour mettre en  valeur leurs produits  à vendre (fleurs et fruits) en fonction de la saison et à leur guise.

C’est l’un des attraits de ce vieux quartier. Comme les touristes étrangers, je suis obligé de consacrer au moins une matinée pour poursuivre ces marchandes. Bien que je sois  soucieux d’éviter de les gêner dans  leur vie difficile et de les photographier de loin  avec discrétion,  je retrouve parfois  la satisfaction d’avoir de  belles photos avec  leurs bouquets de fleurs fraîches (ou fruits) aux  couleurs vives et éclatantes. Puis,  vers 6 ou 7 heures, tout le long du lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm), on voit les uns  faire du  jogging ou de la danse aérobique en groupe et  les autres du  Tai Chi. Devant les façades des boutiques de commerce, on voit s’étaler sur le trottoir une  grande variété de légumes et d’herbes soigneusement sélectionnés ou de la viande fraîche. C’est une méthode de vente datant peut-être depuis longtemps  car  je ne trouve aucun  marché aux alentours. D’autres vendeuses de rue occupent  aussi le trottoir et  proposent des spécialités culinaires de Hanoi (galettes Thanh Trì, nems, riz gluant, soupe au bœuf et aux nouilles de riz ou café etc.).

Aux alentours de 10 heures,  toutes ces activités de commerce alimentaire disparaissent et cèdent la place aux boutiques ayant pignon sur rue dans la journée. Le klaxon des motos ne cesse pas de retentir. Le va-et-vient des gens commence à gêner la circulation. Les gargotes de café se remplissent progressivement. Au cas où il fait beau, il est possible de marcher à pied et de flâner d’une rue à une autre car chaque rue a sa spécialité: rue de la soie aux écharpes multicolores, rue des médicaments au parfum d’herbes aromatiques, rue des papiers et objets  votifs  pour les temples et  les âmes errantes etc. mais il y a aussi  les rues portant les noms d’autrefois et n’ayant aucun rapport avec les produits proposés à vendre aujourd’hui. C’est le cas de la rue Hàng Bè où se trouve mon hôtel. Autrefois c’est ici qu’il y avait un marché sur une digue où on  vendait les radeaux en bois. Pour flâner dans tous les coins des rues comme moi, il faut compter au moins 2 ou 3 heures car j’ai besoin de faire la photo tout en observant tout ce qui se passe dans la rue. Mais il est impossible de faire longtemps la marche à pied car il fait tellement chaud  surtout à midi en été.  Par contre, on peut être transi de froid avec le vent glacial venant du nord comme celui de Paris en hiver.

Dans ce faubourg, le prix de la bouffe varie d’une gargote à une autre. Dans l’après-midi, on peut se détendre au lac Hồ Hoàn Kiếm ou aller visiter les musées célèbres comme le musée d’ethnographie du Vietnam, le musée de l’histoire de Hanoï, le musée des beaux-arts  etc. ou aller voir l’art scénique des marionnettes sur eau ou fréquenter  les gargotes du café pour retrouver l’ambiance d’autrefois. Le soir, les spectacles (musique, théâtre etc…) ont lieu en plein air autour du lac. En fin de la semaine, il y a des  rues interdites pour la circulation et réservées pour les piétons ainsi que le marché de nuit où  tous les produits locaux et artisanaux sont proposés  avec des prix variables. Il est difficile pour quelqu’un comme moi de ne pas avoir des souvenirs et d’oublier le charmant trait caractéristique de ce faubourg bien qu’on sache que la vie journalière de ses habitants est difficile non seulement au niveau temporel mais aussi au niveau spatial avec leurs maisons tubulaires et adossées étroitement les unes des autres.

Coming to Hanoi so many times, I continue to love its old suburb and prefer to stay there. Its existence dates back to the feudal era. It is usually called the « merchant district » or « kẻ chợ » to refer to all those who live there. Despite its very small area of ​​82 ha, this district is very lively. It is the soul of Hanoi because it succeeds in embodying past memories and emotions in the daily life of Hanoians. From morning to evening, the number of people keeps varying in the streets but depending on the time slot, the rhythm of life changes which I also notice. That is why I am so satisfied without getting tired because it is here that I learn to discover a lot of things, traditions that I no longer find elsewhere in other cities in Vietnam. It is also here that I can stroll pleasantly, feel the visual richness of the suburb and photograph historical places such as the old Mã Mây house, Long Biên Bridge (former Paul Doumer Bridge), Ô Quan Chưởng Gate, Quán Thánh Temple etc. The famous novelist Thạch Lam has the opportunity to evoke this suburb with 36 streets through Vietnamese cuisine. This old quarter has been a testament to the commercial and urban culture of Vietnamese civilization for more than 1000 years and its evolution until today. The coming and going of people varies incessantly from hour to hour during the day. Around 5 a.m. in the streets of the neighborhood, especially on Cầu Gỗ Street, street vendors or florists gather to showcase their products for sale (flowers and fruits) according to the season and as they wish.

This is one of the attractions of this old quarter. Like foreign tourists, I’m obliged to devote at least a morning to pursuing these merchants. Although I’m careful to avoid disturbing them in their difficult lives, and to photograph them discreetly from a distance, I sometimes find the satisfaction of having beautiful photos with their brightly colored bouquets of fresh flowers (or fruit). Then, at around 6 or 7 o’clock, all along the Lake of the Restored Sword (Hò Hoàn Kiếm), we see some people jogging or doing aerobic dance in groups, and others practicing Tai Chi. In front of the store fronts, you’ll see a wide variety of carefully selected vegetables and herbs, or fresh meat, spread out on the sidewalk. This may be a long-established method of selling, as I can’t find any markets in the vicinity. Other street vendors also occupy the sidewalk, selling Hanoi’s culinary specialties (Thanh Trì pancakes, egg rolls, sticky rice, beef and rice noodle soup or coffee etc.).

Around 10 a.m., all these food trading activities disappear and give way to the stores that are open during the day. The horns of motorcycles blare incessantly. The comings and goings of people begin to impede traffic flow. The coffee shops are gradually filling up. If the weather is fine, it’s possible to walk and stroll from one street to the next, as each street has its own specialty: silk street with its multicolored scarves, medicine street with its fragrant herbs, paper street and votive objects for temples and wandering souls, etc. But there are also streets with names from yesteryear that have nothing to do with the products on sale today. Such is the case of rue Hàng Bè, where my hotel is located. In the past, there was a market here on a dike where wooden rafts were sold. To stroll around every corner like I do, you need at least 2 or 3 hours, as I need to take photos while observing everything that’s going on in the street. But it’s impossible to walk for long because it’s so hot, especially at midday in summer.  On the other hand, you can freeze to death in the icy north wind, like the one blowing from Paris in winter.

In this suburb, the price of food varies from one gargote to another. In the afternoon, you can relax at Lake Hồ Hoàn Kiếm or visit famous museums such as the Museum of Vietnamese Ethnography, the Hanoi History Museum, the Fine Arts Museum, etc., or see the scenic art of water puppetry, or frequent the café gargotes to recapture the atmosphere of yesteryear. In the evenings, there are open-air shows (music, theater, etc.) around the lake. At the end of the week, there are streets closed to traffic and reserved for pedestrians, as well as the night market where all kinds of local products and crafts are on offer at varying prices. It’s hard for someone like me not to remember and forget the charming characteristic of this suburb, even though we know that the daily life of its inhabitants is difficult not only temporally but also spatially, with their closely-spaced, tubular houses.

Pictures Gallery

[Return HANOÏ]