Grottes Tràng An

titre_trangan_grotte

                                  Hang động Tràng An

[ngg_images source= »galleries » container_ids= »117″ display_type= »photocrati-nextgen_basic_thumbnails » override_thumbnail_settings= »1″ thumbnail_width= »180″ thumbnail_height= »100″ thumbnail_crop= »1″ images_per_page= »32″ number_of_columns= »4″ ajax_pagination= »0″ show_all_in_lightbox= »0″ use_imagebrowser_effect= »0″ show_slideshow_link= »0″ slideshow_link_text= »[Montrer sous forme de diaporama] » template= »/homepages/5/d276592279/htdocs/clickandbuilds/vietnamquehuongtoi/wp-content/plugins/nextgen-gallery/products/photocrati_nextgen/modules/ngglegacy/view/gallery-caption.php » order_by= »pid » order_direction= »ASC » returns= »included » maximum_entity_count= »500″]

 

Hội An: art culinaire (2ème partie)

 

hoian_et_ses_specialites

Version  vietnamienne
Version anglaise

Hoành Thánh (Won-ton)

En mangeant ce won-ton frit, on découvre un goût exquis car il y a dans ce plat un mélange subtil et judicieux de saveurs (sucrée venant de la chair de crevette, acidulée de la tomate, âcre et brûlante des oignons et grasse de la friture de la pâte). Ce won-ton est préparé à partir des pochettes de pâte de blé farcies aux crevettes en hachis. Mais il faut avoir les meilleures crevettes fraîches pour vous laisser un appétit insatiable.

hoian_et_ses_specialites1

Bánh Bao- Bánh Vạc

C’est une sorte de gâteau farci aux crevettes en hachis ayant pour l’enveloppe une pâte de riz très fine et toute blanche. On continue à le nommer « Bông hồng trắng (ou la rose blanche) ». C’est le nom donné par les Français à l’époque coloniale. Aujourd’hui, il n’y a qu’un seul établissement qui fournit ce gâteau aux autres restaurants de Hội An. On le mange en le trempant dans du jus de poisson dilué (nước mắm). On peut le goûter sur place dans ce restaurant fournisseur se trouvant à l’adresse suivante: 533 Hai Bà Trưng. Hội An.

Bánh đậu xanh
Ce gâteau d’haricots mous a une longue histoire. Depuis le XVIIIème siècle, il fut le cadeau de grande valeur offert aux mandarins locaux par les paysans pauvres. Il faisait partie aussi de la liste des présents offerts à l’empereur Minh Mạng lors de ses tournées d’inspection à Quảng Nam. Sa renommée semble entièrement justifiée car malgré la même constitution d’haricots, du sucre et du riz gluant, elle a non seulement un goût exquis mais aussi une présentation particulière qu’on ne trouve pas ailleurs. Etant de forme « carrée » ou « ronde », il peut être mou et sucré ou dur, salé et farci à la viande de porc. C’est un gâteau qu’on ne peut pas manquer lorsqu’on a l’occasion de visiter Hội An. Mais c’est aussi un cadeau original qu’on peut offrir à ses proches lors de son retour de voyage.

Những thức ăn khó quên

Hoành Thánh (Won-ton)

Khi ăn món hoành thánh chiên này, chúng ta khám phá ra một mùi vị cao nhã bởi vì trong món ăn này có sự hỗn hợp hương vị tinh tế và khéo léo (ngọt từ thịt tôm, thơm từ cà chua, chát và nóng từ hành tây và béo từ chiên bột). Hoành th ánh này được làm từ các túi bột mì nhồi tôm bằm. Nhưng phải có được những con tôm tươi ngon nhất để khiến bạn còn thèm ăn vô độ.

Bánh Bao- Bánh Vạc

Đây là một loại bánh nhồi nhân tôm bằm, được gói trong một lớp bột gạo trắng và rất mỏng. Chúng ta tiếp tục gọi nó là « Bông hồng trắng« . Đây là tên do người Pháp đặt trong thời thuộc địa. Ngày nay, chỉ có một cơ sở cung cấp món bánh này cho các nhà hàng khác ở Hội An là bánh được ăn bằng cách ngâm trong nước mắm pha loãng. Bạn có thể thưởng thức món này ngay tại nhà hàng của cơ sở cung cấp ở địa chỉ: 533 Hai Bà Trưng. Hội An.

Bánh đậu xanh

Bánh đậu mềm này có một lịch sử lâu đời. Kể từ thế kỷ 18, nó đã là một món quà quý giá mà được những người nông dân nghèo thường đem  tặng cho các quan lại địa phương. Nó cũng nằm trong danh sách những lễ vật dâng lên cho vua Minh Mạng trong chuyến đi thanh tra ở Quảng Nam. Sự nổi tiếng của bánh đậu xanh dường như hoàn toàn chính đáng bởi vì ngoài thành phần đậu, đường và gạo nếp, nó không chỉ có hương vị tinh tế mà còn có cách trình bày đặc biệt không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Có hình dạng « vuông » hoặc « tròn », có thể mềm hoặc cứng và ngọt hay mặn và được nhồi với thịt lợn. Đây là món bánh bạn không thể bỏ qua khi đến Hội An, nhưng cũng là món quà thuần túy  mà bạn có thể biếu tặng cho những người thân yêu trong chuyến du lịch.

Unforgettable dishes

Hoành Thánh (Won-ton)

Eating this fried won-ton reveals an exquisite taste because this dish contains a subtle and skillful blend of flavors (sweetness from the shrimp meat, tanginess from the tomato, pungency and heat from the onions, and richness from the fried dough). This won-ton is made from wheat dough pockets stuffed with minced shrimp. But you must have the best fresh shrimp to leave you with an insatiable appetite.

Bánh Bao- Bánh Vạc

This is a type of cake stuffed with minced shrimp, wrapped in a very thin and pure white rice dough. It is also called « Bông hồng trắng (or the white rose). » This is the name given by the French during the colonial period. Today, there is only one establishment that supplies this cake to other restaurants in Hội An. It is eaten by dipping it in diluted fish sauce (nước mắm). You can taste it on-site at this supplier restaurant located at: 533 Hai Bà Trưng, Hội An.

Green bean cake

This soft bean cake has a long history. Since the 18th century, it was a valuable gift given to local mandarins by poor peasants. It was also part of the list of presents offered to Emperor Minh Mạng during his inspection tours in Quảng Nam. Its reputation seems entirely justified because despite having the same ingredients of beans, sugar, and glutinous rice, it not only has an exquisite taste but also a unique presentation that cannot be found elsewhere. Being either « square » or « round » in shape, it can be soft and sweet or hard, salty, and stuffed with pork. It is a cake that one must not miss when visiting Hội An. But it is also an original gift that one can offer to loved ones upon returning from a trip.

[Return HOI AN]

 

Hôi An: art culinaire

 
hoian_art_culinaire

Version vietnamienne
Version anglaise
Galerie des photos

Outre son charme architectural, Hội An s’est fait remarquer au fil de son histoire par les spécialités gastronomiques locales qui ne laissent personne indifférent, en particulier les plus fins gourmets vietnamiens et étrangers.

Selon un vieil adage hoianais, on a l’habitude de dire:

Hội An trăm vật , trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để  chồng con hắn nhờ.

Tous les mets sont succulents à Hội An.
Votre mari et vos enfants risquent de perdre leur part si vous continuez à rester insatiable.

Parmi ces spécialités gastronomiques, il faut citer d’abord:

Cao Lầu

C’est une marque d’identité gastronomique de Hội An. Contrairement aux autres spaghetti, ce Cao Lầu est préparé à partir de la pâte de riz étalée en couche mince macérée dans l’eau de cendre (nước tro) du bois des arbres de l’îlot Poulo-Cham (Cù lao Chàm) et ayant passé trois feux avant, ce qui lui donne l’apparence de couleur jaune clair naturel. Selon l’écrivain Hữu Ngọc, si le plat Cao Lẩu ne réussit pas à vous faire une bonne impression, son histoire le fera à sa place car il fut venu à Hội An en même temps que les marchands japonais à la fin du XVIème siècle. Certains d’eux appréciaient la cuisine vietnamienne car ils avaient pour épouses des femmes vietnamiennes. D’autres préféraient garder leurs habitudes et importer la nourriture de leur pays, en particulier le plat de nouilles de riz semblable à celui de Cao Lầu d’aujourd’hui. Mais le spaghetti de Cao Lẩu de Hội An exige une préparation minutieuse et artisanale. Ce n’est plus le cas du Cao Lẩu japonais d’aujourd’hui avec sa pâte produite de façon industrielle. Outre le pont-pagode, l’influence de la contribution japonaise ne décline pas au fil des ans à travers ce plat incontournable. 

La préparation du spaghetti de Cao Lầu requiert d’abord le rinçage du riz avec de l’eau douce d’un puits suivi ensuite par la pression du riz pour se débarrasser de l’eau de rinçage. Puis on pétrit  le riz jusqu’à l’obtention d’une pâte à laquelle est ajoutée un peu d’eau de cendre pour lui donner la couleur jaune clair. La pâte est placée ensuite dans un récipient destiné au bain-marie (cái xửng) et  ayant à son fond les feuilles de bananier. L’eau bouillie en ébullition dans la partie inférieure crée de la vapeur remontant ainsi dans la partie supérieure à travers les trous. La pâte cuite  peut être enroulée et découpée en nouilles avec un couteau. Ces nouilles doivent être cuites à la vapeur avant d’être servies.      

De petites escalopes de xá xíu (viande de porc marinée et frite) sont étalées sur ces nouilles et mélangées avec des fritons croustillants. Puis on les mange avec des germes d’haricots de soja et de la salade sans oublier d’ajouter un peu de vinaigre et de la sauce soja. Certains gens n’hésitent pas à les accompagner avec une galette de riz non salée qu’on a l’habitude d’appeler « bánh đa ». On peut trouver ce plat partout à Hội An. Chaque restaurant a sa propre façon de cuisiner ce plat mais pour le gourmet, il faut consacrer un peu de temps pour la marche (10 minutes) car la gargote qui réussit à garder encore la saveur de cette spécialité n’est pas située dans l’ancien quartier Minh An à Hội An mais elle se trouve à l’adresse suivante: 26 Rue Thái Phiên.      [Lire la suite]

Version vietnamienne

Ngoài nét duyên dáng kiến ​​trúc, trong suốt chiều dài lịch sử, Hội An còn nổi bật với những đặc sản ẩm thực địa phương khiến không ai có thể hờ hững được, nhất là những kẻ sành ăn người Việt Nam và ở nước ngoài.

Theo một câu ngạn ngữ cổ của người Hội An, chúng ta thường nói:
Hội An trăm vật, trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để chồng con hắn nhờ

Tất cả các món ăn đều ngon ở Hội An.
Chồng và con của bạn có thể mất phần nếu bạn tiếp tục thèm ăn.

Trong số những đặc sản ẩm thực này, phải kể đến đầu tiên:

Cao Lầu

Đây là một dấu ấn bản sắc ẩm thực của Hội An.

Không giống như những món mì Ý khác, món cao lầu này được chế biến từ bột gạo trải ra thành lớp mỏng ngâm trong nước tro từ các củi gỗ Cù lao Chàm và qua ba lần lửa, khiến nó có một màu vàng nhạt tự nhiên. Theo nhà văn Hữu Ngọc, nếu món Cao Lẩu không gây ra được một ấn tượng tốt với bạn thì lịch sử sẽ làm điều đó vì nó đến Hội An cùng lúc với các thương nhân Nhật Bản vào cuối thế kỷ 16. Có một số người trong  những người nầy  rất thích ẩm thực Việt Nam vì vợ của họ là các phụ nữ Việt Nam. Những người khác lại thích giữ tập tục của họ nên  nhập khẩu các thực phẩm từ đất nước của họ, đặc biệt là món mì sợ tương tự như món Cao Lầu ngày nay. Nhưng món mì Cao Lẩu của  Hội An đòi hỏi sự chuẩn bị tỉ mỉ và tự chế. Điều này không còn thấy với Cao Lẩu Nhật Bản ngày nay vì bột nhào được sản xuất ngành công nghiệp. Ngoài chùa cầu ra, ảnh hưởng của sự đóng góp người Nhật không hề suy giảm trong những năm qua nhờ có món ăn thiết yếu này.

Để biến chế món mì của Cao Lầu, trước tiên cần phải vo gạo bằng nước tinh khiết  từ giếng, sau đó vắt gạo để loại bỏ nước vo gạo. Sau đó, gạo được nhào cho đến khi thu có được bột nhão, thêm một ít nước tro để nó có màu vàng nhạt. Sau đó, bột được đặt ở phần trên của một cái xửng  với các lá chuối ở phần dưới cùng của nó. Nước sôi ở phần dưới tạo ra hơi nước bốc lên ở phần trên qua các lỗ. Bột chín có thể cuộn lại và dùng dao cắt bột  thành ra sợi mì. Những sợi mì này nên được hấp trước khi ăn.

Những lát thịt lợn tẩm ướp và rán(hay xá xíu) được trải lên những sợi mì này và trộn với khoai tây chiên giòn. Sau đó, chúng ta ăn với giá đỗ và x à lách và không quên thêm một chút giấm và nước tương. Một số người không ngần ngại ăn kèm với một chiếc bánh gạo không mặn thường được gọi là « bánh đa ». Bạn có thể tìm thấy món ăn này ở khắp mọi nơi của thành phố  Hội An.

Mỗi quán có cách chế biến món này một cách riêng biệt nhưng đối với người sành ăn thì cũng nên dành một chút thời gian đi bộ (10 phút) vì quán nầy còn giữ được hương vị đặc sản này nhưng nó không nằm ở khu phố Minh An xưa mà nó nằm ở địa chỉ sau đây: 26 Đường Thái Phiên.

[Lire la suite (tiếp theo)]

Version anglaise

Besides its architectural charm, Hội An has made a name for itself throughout its history with local culinary specialties that leave no one indifferent, especially the finest Vietnamese and foreign gourmets.

According to an old Hội An saying, it is customary to say:

Hội An trăm vật, trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để chồng con hắn nhờ.
Tất cả các món ăn đều ngon ở Hội An.
Chồng và con của bạn có thể mất phần nếu bạn tiếp tục thèm ăn.

Hội An hundred things, hundred delicacies
Slowly savor them, so your husband and children can have some.
All dishes are delicious in Hội An.
Your husband and children might lose their share if you continue to remain insatiable.

Among these culinary specialties, the first to mention are:

It is a gastronomic identity mark of Hội An. Unlike other spaghetti, this Cao Lầu is made from rice dough rolled out into a thin layer and soaked in ash water (nước tro) from the wood of the trees on Poulo-Cham islet (Cù lao Chàm) and has been fired three times beforehand, which gives it a naturally light yellow color. According to the writer Hữu Ngọc, if the Cao Lầu dish does not manage to make a good impression on you, its history will do so instead because it came to Hội An at the same time as Japanese merchants at the end of the 16th century. Some of them appreciated Vietnamese cuisine because they had Vietnamese wives. Others preferred to keep their habits and imported food from their country, particularly the rice noodle dish similar to today’s Cao Lầu. But Hội An’s Cao Lầu spaghetti requires meticulous and artisanal preparation. This is no longer the case with today’s Japanese Cao Lầu, whose dough is produced industrially. Beyond the covered bridge, the influence of Japanese contribution has not diminished over the years through this essential dish.

The preparation of Cao Lầu spaghetti first requires rinsing the rice with fresh well water, followed by pressing the rice to get rid of the rinsing water. Then the rice is kneaded until a dough is obtained, to which a little ash water is added to give it a light yellow color. The dough is then placed in a container intended for a bain-marie (cái xửng) with banana leaves at the bottom. Boiling water in the lower part creates steam that rises to the upper part through the holes. The cooked dough can be rolled and cut into noodles with a knife. These noodles must be steamed before being served.

Small slices of xá xíu  (marinated and fried pork) are spread over these noodles and mixed with crispy pork cracklings. Then they are eaten with soybean sprouts and salad, not forgetting to add a bit of vinegar and soy sauce. Some people do not hesitate to accompany them with an unsalted rice cake commonly called « bánh đa. » This dish can be found everywhere in Hội An. Each restaurant has its own way of preparing this dish, but for the gourmet, it is worth spending a little time walking (10 minutes) because the eatery that still manages to preserve the flavor of this specialty is not located in the old Minh An quarter in Hội An but can be found at the following address: 26 Thái Phiên Street.

[Reading more (tiếp theo)]     

Các món ăn đặc sản của Hội An

                                                     

     

 

 

 

Hội An à travers les fenêtres et les portes

hoian_qua_khe_cua

Hội An qua khe cửa

Version anglaise
Version française
Galerie des photos

Hôi An đã bao lần thay đổi tên trong lich sử. Qua hai chữ «Hội» và «An» tên nầy gợi ý cho chúng ta nghĩ đến một thành phố mà mọi người muốn tựu họp và sống an lành. Trước khi đựơc các chúa Nguyễn cai quản, vùng đất nầy thuộc về Vương quốc Chămpa và được phát triển từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 14. Hội An lấy tên “Hai Phố” sau khi Nguyễn Hoàng bổ nhiệm Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) làm tổng trấn ở Quảng Nam vào năm 1570. Chính trong thời kỳ nầy Hội An được phát triển mạnh mẽ nhờ có chính sách cởi mở, nhập cư thích hợp và sáng suốt của các chúa Nguyễn nhất là biết lợi dụng việc nghiêm cấm của triều đại Minh không cho các thuyền bè Nhật được cập bến các bờ biển Trung Hoa. Dưới thời kỳ cai trị của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), Hội An rất được thịnh vượng và sầm uất với nhiều khu phố (Nhật, Trung Hoa, Hoà Lan vân vân….) Mỗi cộng đồng có một khu phố riêng tư với các tập quán của mình và có được một người đại biểu của chính quyền phụ trách. Hội An trở thành thời đó là một trong những hải cảng thương mại và trung tâm kinh tế của xứ Đàng Trong và Đông Nam Á. Số người Nhật định cư bất đầu tăng lên cùng lúc với Hội An.

Có một người Nhật tên Suharto được chúa Sãi yêu mến nhận làm con nuôi, gọi ông là Đại Lương và phong cho ông một huy hiệu qúi tộc Hiến Hùng. Sau nầy Đại Luơng không những là con rể của chúa Sãi mà còn là người quản lý Hội An. Rất có thể trong thời gian nầy mà chùa cầu được xây cất. Nhưng sau đó vì thông lệnh của Mạc Phủ (Bakufu) cấm người dân Nhật xuất ngoại, Suharto buộc lòng cấp tốc trở về Nhật cùng vợ tức là công chúa Nguyễn Thị Ngọc Khoa mà tên Nhật là Anio. Sau việc cấm truyền bá đạo công giáo ở Nhật và chính sách ngược đãi của Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) với các người công giáo Nhật và Hoa từ 1664 đến 1665, cộng đồng người Nhật ở Hội An bất đầu giảm dần. Theo thương gia người Anh Thomas Bowyer, chỉ còn ở Hội An 4 hay 5 gia đình vào 1695 so với cộng đồng người Hoa có khoảng chừng 100 gia đình. (BAVH 1920, năm thứ 7, số 2, trang 200). Ngày nay, không còn thấy dấu tích kiến trúc nào của người Nhật ngoài chùa cầu và vài mộ rải rác ở vùng Cẩm Châu.

Hội An không còn ý nghĩa Hai Phố vì phố Nhật không còn nửa. Từ đó, chỉ gọi Hội An là Hải Phố có nghĩa là Phố ở biển hay là Hoa Phố (phố của người Hoa). Có lẽ một trong hai tên nầy mà các cha cố đạo Âu Châu phát âm ra không rỏ mà thành Faifo. Tên nầy được giữ đến thời kỳ Pháp thuộc. Hội An có phần may mắn không bị tàn phá trong thời chiến tranh Vietnam. Nhờ thế Hội An còn giữ được nguyên vẹn một số nhà cổ khiến tạo một niềm vui không ít cho du khách Viêt và ngoại quốc.

Sức thu hút của nó ở chổ là làm du khách tìm lại được trong những giây phút tham quan, lịch sử qua dòng thời gian.

Version française 

Hội An a changé plusieurs fois de nom durant son histoire. Le nom « Hội An » suggère qu’à travers les mots ( Hội= « Association ») et (An= »en paix ») cette ville devrait être un endroit où on pouvait se réunir en paix. Avant d’être sous le giron des seigneurs Nguyễn, Hội An se trouvait dans une région très développée du royaume du Champa du IIè au XIVè siècle. Puis Hội An a prospéré sous le nom de Hai Phố (Deux petits villages) au moment où le seigneur Nguyễn Hoàng du royaume Đại Việt installa son fils Nguyễn Phúc Nguyên (Seigneur Sãi) en tant que gouverneur de Quảng Nam en 1570. C’est la période brillante où Hội An connut un essor fulgurant dû en grande partie à la politique d’ouverture et d’immigration appropriée et clairvoyante menée par les seigneur. C’est sous le règne du seigneur Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) que furent créés, à Hội An, les quartiers communautaires (japonais, chinois, hollandais etc.). Chaque communauté avait son quartier où les habitants pouvaient vivre selon les us et coutumes de leur pays. L’administration de chaque quartier fut assumée par un délégué des autorités locales. Hội An devint ainsi l’un des ports commerciaux et centre économique de la Cochinchine, mais aussi, de l’Asie du Sud Est. 

La communauté nippone a commencé à croître en même temps que l’agglomération d’Hội An. Les seigneurs Nguyễn favorisèrent le développement économique avec le Japon. Un Japonais, du nom de Shutaro, qui avait réussi à gagner l’estime et l’affection du seigneur Nguyễn Phước Nguyên fut adopté par ce dernier et autorisé à prendre non seulement son nom de famille Nguyen, ainsi que son prénom, Đại Lương, mais aussi le titre de noblesse Hiển Hùng. Devenu, plus tard, le beau-fils du seigneur Nguyễn, il fut chargé de la gestion de Hội An. Il est probable que le pont-pagode japonais fut construit durant la période où Shutaro administrait cette ville. Mais à la suite d’une circulaire du Bakufu (Mạc Phủ Nhật) interdisant à ses concitoyens de partir à l’étranger, Shutaro dû rentrer subitement au Japon en même temps que sa femme, la princesse Nguyễn Thị Ngọc Khoa, dont le prénom japonais était Anio. Suite à l’interdiction de pratiquer la religion catholique au Japon et à la persécution, par le seigneur Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền), des catholiques japonais et chinois en 1664-1665 qui s’ensuivit, la communauté nippone commença à décliner rapidement à Hội An. Selon le commerçant britannique Thomas Bowyer, il ne restait plus, en 1695, que 4 ou 5 familles japonaises face à la communauté chinoise constituée d’environ 100 familles chinoises [BAVH, 1920,7ème année, n°2, p 200]. Aujourd’hui, aucun vestige architectural japonais sous forme de maisons et de pagodes ne subsiste à Hội An excepté le célèbre pont-pagode en bois qu’on est habitué à surnommer « le pont japonais » et quelques tombeaux éparpillés dans la région de Cẩm Châu.

À l’époque coloniale, Hội An continua à garder le nom de Faifo. Mais elle commença à prendre un autre visage, celui d’une ville européenne.  Elle fut heureusement épargnée durant la guerre du Vietnam. C’est pour cette raison qu’elle peut conserver intact un grand nombre de vestiges architecturaux de grande valeur qui font aujourd’hui le bonheur des touristes vietnamiens et étrangers.

Une large part de son attrait réside sur le fait de nous laisser revivre le fil de son histoire à travers le temps.

Version anglaise

Hội An has changed its name several times throughout its history. The name « Hội An » suggests that through the words (Hội = « Association ») and (An = « peaceful »), this city should be a place where people could gather in peace. Before coming under the rule of the Nguyễn lords, Hội An was located in a highly developed region of the Champa kingdom from the 2nd to the 14th century. Then Hội An prospered under the name Hai Phố (Two small villages) when Lord Nguyễn Hoàng of the Đại Việt kingdom appointed his son Nguyễn Phúc Nguyên (Lord Sãi) as governor of Quảng Nam in 1570. This was a brilliant period when Hội An experienced rapid growth largely due to the open and farsighted immigration policies carried out by the lords. It was under the reign of Lord Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) that community quarters (Japanese, Chinese, Dutch, etc.) were established in Hội An. Each community had its own quarter where residents could live according to the customs and traditions of their country. The administration of each quarter was managed by a delegate from the local authorities. Hội An thus became one of the commercial ports and economic centers of Cochinchina, but also of Southeast Asia.

The Japanese community began to grow alongside the Hội An urban area. The Nguyễn lords promoted economic development with Japan. A Japanese man named Shutaro, who had succeeded in earning the esteem and affection of Lord Nguyễn Phước Nguyên, was adopted by him and allowed to take not only his family name Nguyen, as well as the given name Đại Lương, but also the noble title Hiển Hùng. Later becoming the son-in-law of Lord Nguyễn, he was entrusted with the management of Hội An. It is likely that the Japanese bridge-pagoda was built during the period when Shutaro administered this city. However, following a circular from the Bakufu (Mạc Phủ Nhật) forbidding its citizens from traveling abroad, Shutaro had to suddenly return to Japan along with his wife, Princess Nguyễn Thị Ngọc Khoa, whose Japanese name was Anio. Following the prohibition of practicing the Catholic religion in Japan and the persecution by Lord Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) of Japanese and Chinese Catholics in 1664-1665 that ensued, the Japanese community began to decline rapidly in Hội An. According to British trader Thomas Bowyer, by 1695, there remained only 4 or 5 Japanese families compared to the Chinese community consisting of about 100 Chinese families [BAVH, 1920, 7th year, no. 2, p. 200]. Today, no Japanese architectural remains in the form of houses and pagodas survive in Hội An except for the famous wooden bridge-pagoda commonly nicknamed « the Japanese bridge » and a few scattered tombs in the Cẩm Châu area.

During the colonial period, Hội An continued to bear the name Faifo. But it began to take on a different appearance, that of a European city. Fortunately, it was spared during the Vietnam War. This is why it can preserve intact a large number of valuable architectural remains that today delight both Vietnamese and foreign tourists.

Much of its appeal lies in allowing us to relive the thread of its history through time.

Galerie des photos

  [Return HOI AN]

Hội An et ses quartiers (Sơ đồ các điểm tham quan ở Hội An)

Version française
English version

Chính ở đây chúng ta  tìm thấy có rất nhiều  các công trình kiến ​​trúc nổi tiếng của thành phố Hội An.  Được gọi là Minh An, khu này có m ột diện tích khoảng hai cây số  vuông. Tương tự như các ô vuông được tìm thấy trên bàn cờ, các đường phố của nó rất ngắn và hẹp. Trong bản đồ này có 3 con đường ngang đó là đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng. Trong đó quan trọng nhất vẫn là đường Trần Phú kéo dài qua cầu Nhật Bản bằng đường Nguyễn Thị Minh Khai. Còn các phố dọc gồm có  5 phố: Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng văn Thụ, Trần Quý Cáp và Hai Bà Trưng. Không có ngôi nhà nào có nhiều hơn một tầng. Việc xây dựng các nhà  nầy được thực hiện bằng vật liệu truyền thống: gỗ và gạch.

Plan du quartier Minh An à Hôi Anhoian_et_ses_quartiers

Version francaise

C’est ici qu’on trouve un grand nombre d’ouvrages architecturaux de renom de la ville Hội An. Etant connu sous le nom de Minh An, ce quartier possède une superficie d’environ deux kilomètres carrés. Analogues à des carrés qu’on trouve sur un échiquier, ses rues sont courtes et étroites. Dans ce plan, il y a trois axes de rues  horizontales: Trần Phú, Nguyễn Thái Học et Bạch Đằng. La plus importante d’entre elles reste la rue Trần Phú prolongée au delà du pont japonais par la rue Nguyễn Thị Minh Khai. Quant aux rues verticales, on relève cinq: Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng văn Thụ, Trần Quý Cáp et Hai Bà Trưng. Aucune maison n’a plus qu’un étage. Sa construction a été effectuée avec des matériaux traditionnels: bois et briques.

Hội An’s neighbourhood plan

 

Here is where one finds a large number of renown architectural works of Hội An. Being known under the Minh An name, this neighborhood possesses an area of approximatively 2 square kilometers. Similar to squares found on a chess board, its streets are short and narrow. In this map, there are three axis of horizontal streets: Trần Phú, Nguyễn Thái Học and Bạch Đằng. The most important of these remains the Trần Phú street which is extended beyond the Japanese bridge by Nguyễn Thị Minh Khai street . As for vertical streets, there are five: Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng văn Thụ, Hai Bà Trưng. No home has more than one floor. Its construction has been realized with traditional materials: wood and brick.

[Back to HOI AN]


        Références bibliographiques (Bibliography)

  • Patrimoine mondial du Vietnam. Editions Thế Giới.
  • World Heritage Hội An. Showa Women’s Univeristy Institute of International Culture (Japan).
  • Hội An. Nguyễn văn Xuân. Maison d’édition Danang 2000

Mausolée de Khải Định (Lăng của vua Khải Định)

 

Ứng Lăng (應陵)

English version

Version française

Galerie des photos

Không giống như những lăng mộ khác của triều đại nhà Nguyễn, đặc biệt là lăng mộ của vua Minh Mạng và vua Tự Ðức, lăng mộ của Khải Ðịnh không để ý đến sự hài hòa và sự phù hợp khéo léo và tinh tế đã được tìm thấy từ trước đến nay giữa kiến trúc và môi trường tự nhiên, ở nơi mà lăng mộ của hoàng đế được xây dựng. Chúng ta cũng nhận thấy sự từ bỏ gỗ  coi như là yếu tố chính trong việc xây dựng lăng mộ này.

 Ngược lại  đây là một tòa nhà được xây dựng hoàn toàn bằng bê tông và được trang trí rất đẹp với các  lớp phủ bằng mảnh sứ và kính đầy màu sắc. Mặc dù không có cảnh quan, lăng Khải Đinh vẫn chứng tỏ  được tài năng phi thường của các nghệ nhân  Việt trong việc trang trí  vào đầu thế kỷ 20. Các yếu tố Tây Phương cũng mới được  xâm nhập vào một cách chừng  mực.  Lăng mộ  nó cũng phản ánh tính hoang tưởng tự đại của một vị hoàng đế chỉ nghĩ đến  trụy lạc và không quan tâm nhiều đến số phận của dân tộc.

Version française

Contrairement aux autres mausolées de la dynastie des Nguyễn, en particulier ceux de Minh Mang et Tự Ðức, le mausolée de Khải Ðịnh ne tient pas compte de l’harmonie et de l’accord ingénieux et subtil savamment trouvé jusqu’alors entre l’architecture et l’environnement naturel, sur l’emplacement où le tombeau de l’empereur doit être édifié. On constate aussi l’abandon du bois comme élément principal dans la construction de ce mausolée.

Par contre, il s’agit bien d’un édifice construit entièrement en béton et magnifiquement décoré de revêtements de tessons de porcelaine et de verreries de toutes les couleurs. Malgré l’absence du paysage, le mausolée de Khải Đinh témoigne quand même du talent exceptionnel des artistes décorateurs vietnamiens au début du vingtième siècle. Les éléments occidentaux sont introduits d’une manière modérée. Ce mausolée reflète aussi le caractère mégalomane d’un empereur qui ne pense qu’à la débauche et ne se soucie guère du sort de son peuple.
Version anglaise  

Unlike other mausoleums of the Nguyên Dynasty, especially those of Minh Mang and Tự Ðức, the Khai Dinh  mausoleum  ignores harmony and ingenious and subtle agreement cleverly searched and found so far between architecture and natural environment, on the site  where the Emperor tomb  must be built. There is also the abandonment of wood as a main element in the construction of this mausoleum.

On the other hand, it is a building constructed entirely of concrete and beautifully decorated by coatings of granular porcelain and glass of all colors. Despite the absence of the landscape, the Khải Đinh mausoleum  still reflects the exceptional talent of Vietnamese designers and artists at the beginning of twentieth century. New Western elements are introduced in a moderate way. This mausoleum also reflects the character of a megalomaniac emperor who is interested only in the debauchery and is not worried about the fate of his people. This mausoleum also reflects the character of a megalomaniac emperor who is interested only in the debauchery and is not worried about the fate of his people.
 

Patrimoine culturel mondial du Việt Nam

Galerie des photos du mausolée

Mausolée de Tự Đức (Version française)

 

Khiêm Lăng (謙陵)

English version
Vietnamese version

Contrairement aux autres mausolées royaux de la dynastie des Nguyễn, celui de l’empereur Tự Ðức est d’abord un lieu de refuge éventuel durant son règne. C’est pourquoi on y trouve non seulement un palais qui fut transformé plus tard en un lieu de culte après sa disparition mais aussi un théâtre et deux petits jolis pavillons en bois rouge ( Du Khiêm et Xung Khiêm ) où il aimait venir s’asseoir pour se détendre et pour composer ses poèmes. Ce mausolée qui fut construit durant 1864-1867 par les trois mille soldats et ouvriers, possédait à peu près une cinquantaine de bâtiments entourés par une mur en pierre et en brique longue de 1500 mètres sur une surface de 12 ha. Tự Đức fut couronné roi à une époque où il devait faire face non seulement au développement du capitalisme occidental mais aussi aux troubles internes (la guerre des Sauterelles menée par le poète Cao Bá Quát, l’éviction de son frère aîné Hồng Bàng au moment de son intronisation etc ..). Afin de pouvoir se réfugier, il n’hésita pas à ordonner la construction de sa tombe comme un lieu de détente de son vivant et une demeure pour sa vie future éternelle.

Galerie des photos du mausolée Tự Đức

Dans ce mausolée, le pavillon Hoa Khiêm est le bâtiment principal où l’empereur travaillait et le pavillon Lương Khiêm est l’endroit où il vivait et il dormait. On trouve également dans le domaine de son mausolée deux autres tombes. Ce sont celles de sa femme, la reine Lê Thiện Anh et de l’un de ses trois fils adoptés, le roi Kiến Phúc.

L’architecture de ce mausolée reflète non seulement la nature romantique de l’empereur poète Tư Ðức mais aussi la liberté qui fait défaut jusqu’à présent dans les autres mausolées. Rien n’est étonnant de voir ce mausolée devenir l’un des lieux de prédilection pour la plupart des touristes étrangers et vietnamiens.

lang_tu_duc

 

[Return Hue]

Huế et ses mausolées (Lăng tẩm Huế)

 


mausolees_hue

Lăng tẩm Huế là một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việtnam. Đây cũng là một kiến trúc cảnh vật hóa. Nghệ thuật nầy đã đạt đến đỉnh cao ở các lăng tẩm Huế. « Mỗi lăng vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật mà nó còn khơi dậy ở trong cảm xúc của người khách tham quan một âm vang đặc biệt. Lăng Gia Long giữa một khu vườn thiên nhiên bao la, gợi lên một ấn tượng hùng trán và thanh thản. Còn lăng Minh Mạng thì đầy vẻ nghiêm trang và lăng Tự Đức đem đến du khách một hồn êm thơ mộng » đây là những sự nhận xét của tổng giám đốc UNESCO Amadou-Mahtar-M’Bow viết lại sau khi viếng thăm Huế vào năm 1981.
Theo quan niệm duy tâm của người dân Việt, chết chưa phải là hết. Vì thế ở các lăng tẩm Huế thường thấy có hai phần chính: một phần lăng và một phần tẩm. Phần lăng là khu vực chôn thi hài của vua. Còn phần tẩm là nơi thường có nhiều miếu, điện, đình, tạ vân vân …Đôi khi khu vực tẩm còn là nơi ở của vua ngự trị. Chẳng hạn như khu vực tẩm của vua Tự Đức. Nơi nầy có đến cả chục công trình kiến trúc lớn nhỏ để phục vụ sinh hoạt và giải trí của vua: điện Hoà Khiêm nơi vua làm việc, điện Lương Khiêm nơi vua ăn ngủ, tạ Xung Khiêm và tạ Dũ Khiêm nơi vua hóng mát, làm thơ, ngắm cảnh và câu cá. Ngoài ra còn có Minh Khiêm đường nhà hát, Y Khiêm viện hay Trì Khiêm viện là nơi tá túc của đám tỳ nữ đi theo chầu hầu vua.
Phong cách kiến trúc lăng tẩm giàu nghệ thuật nầy xuất phát từ quan niệm « sinh ký tử quy » (Sống gửi thác về) của con người thưở xưa. Đây là một quan niệm xuất phát từ đạo Phật nhắc nhở lại cuộc sống trên đời chỉ tạm bợ còn chết mới trở về với cõi vĩnh hằng nên chuyện chết là bình thường không có chi đáng sợ. Vua Tự Đức cũng có lần nói đến quan niệm nầy qua bài thơ của ông « Ngẫm sự đời »:
 
Sự đời ngẩm nghĩ nghĩ mà ghê
Sống gửi rồi ra lại thác về
Khôn dại chung chung ba thước đất
Giàu sang chưa chín một nói kê
Tranh dành trước mắt mây tan tác
Đày đọa sau than núi nặng nề
Muốn đến hỏi tiên, tiên chẳng bảo
Gượng làm chút nữa để mà nghe.
 
Vì vậy lúc còn sống vua nào cũng nghĩ đến viêc xây cất lăng, nơi mà vua trở về với cuộc sống muôn thưở. Lăng và tẩm không xa cách chi cho mấy, có nơi đôi khi chỉ gần như trong gang tấc. Sống ung dung vui chơi ở khu vực lăng mà khi chết chẳng băn khoăn lo sợ về với khu vực tẩm. Với quy luật tự nhiên của cuộc đời, lăng tẩm trở thành một cõi sống của người chết vì nó làm cho nổi tang tóc phải nhường chổ lại cho niềm vui. Nó làm con người quen dần với cõi chết và nhất là nó làm cho con người sẳn sàng đợi tử thần đưa họ về thế giới bên kia, nơi an giấc nghìn thu.
Một du khách Tây Phương Charles Patris đã từng nói lăng tẩm Huế như là một nơi tang tóc “mỉm cười” mà cũng là nơi tìm thấy được “niềm vui thổn thức” trong một bài thơ của ông. Mỗi lăng tẩm Huế chẳng những là một di tích lịch sử văn hoá mà còn là một thắng cảnh độc đáo với đặc tính riêng tư của nó.

Version française

Les mausolées de Huế sont une réalisation brillante de l’architecture ancienne du Vietnam. C’est aussi l’architecture paysagée. Celle-ci est au sommet de son art. « Chaque mausolée ayant chacun un caractère distinctif est une belle réalisation dans l’architecture paysagée mais elle suscite dans l’émotion du touriste une résonance particulière. Le mausolée de Gia Long situé au cœur d’un immense jardin naturel, laisse une impression à la fois magnifique et sereine. La solennité est visible dans le mausolée de Minh Mạng tandis que dans celui de Tự Đức il y a l’harmonie parfaite avec la nature. Ce sont les observations écrites par le directeur général de l’UNESCO, Amadou-Mahtar-M’Bow après avoir visité les mausolées de Huế en 1981.
Selon la conception spiritualiste des Vietnamiens, mourir ce n’est pas la fin de la vie. C’est pour cette raison que les mausolées de Huế sont divisés toujours en deux parties: l’une réservée au tombeau du roi et l’autre destinée à abriter les bâtiments. La première partie est le domaine où est enterré le corps du roi. Quant à la deuxième partie (tẩm), c’est le lieu où on trouve un grand nombre de temples, palais, pavillons etc…Parfois cette partie est encore le lieu d’habitation du roi durant son règne. C’est le cas du mausolée du roi Tự Đức par exemple. C’est ici qu’on trouve une dizaine de réalisations architecturales, de la plus grande à la plus petite, destinées à assumer toutes les activités et divertissements du roi: les palais Hoà Kiêm et Lương Khiêm réservés pour travailler et dormir, les pavillons Xung Khiêm et Dũ Khiêm destinés à la détente, la contemplation du paysage ou la pêche. De plus, il y a un petit opéra Minh Khiêm ou une résidence de nom Trì Khiêm destinée à abriter les eunuques et les dames de compagnie.
Le style d’architecture des mausolées riche dans l’art provient de la conception « sinh ký tử quy » des Vietnamiens d’autrefois. C’est une idée trouvée chez les bouddhistes dans le but de rappeler que la vie sur terre est temporaire et que la mort est le retour à l’éternité si bien qu’il est naturel de l’accepter sans souci. Le roi Tự Đức a eu l’occasion d’aborder cette idée dans son poème intitulé « Réflexions sur la vie ».

En contemplant la vie, je pense avec émerveillement :
Vivre est temporaire, puis retourner à la mort.
La sagesse et la folie partagent les mêmes trois pieds de terre.
La richesse et l’honneur n’ont pas encore atteint leur pleine maturité.
En difficulté devant les yeux, les nuages ​​se dispersent.
Après, la souffrance est aussi imposante que les montagnes.
Je veux interroger les immortels, mais ils ne répondent pas.
Je me force à endurer un peu plus longtemps pour écouter.

C’est pour cette raison que le roi, de son vivant a déjà pensé à la construction de son mausolée. Les deux parties « lăng » et « tẩm » ne sont pas éloignées l’une de l’autre. Vivre avec aisance dans la partie « lăng » et mourir sans être apeuré dans l’autre partie « tẩm ». Avec la règle de vie naturelle, le mausolée devient le lieu de résurrection du décédé car il force le deuil à céder la place à la joie et au bonheur. Il habitue l’homme à affronter la mort d’une manière sereine pour passer dans l’autre monde où il trouvera un repos éternel.
Un touriste occidental de nom Charles Patris a eu l’occasion de considérer les mausolées de Huế comme des lieux où les rois sages d’Annam ont fait sourire la mort dans l’un de ses poèmes. Chacun des mausolées de Huế n’est pas non seulement un vestige historique culturel mais aussi un unique paysage avec ses caractéristiques propres.
English version

The Hue tombs are the most brilliant achievement of ancient Vietnamese architecture. They are also a form of landscape architecture. This art reached its pinnacle in the Hue tombs. « Each royal tomb, with its own unique characteristics, is a magnificent achievement of landscape architecture that also evokes a special resonance in the emotions of visitors. The Gia Long tomb, set within a vast natural garden, evokes a majestic and serene impression. The Minh Mang tomb is full of solemnity, and the Tu Duc tomb brings visitors a peaceful and poetic soul, » these are the remarks of UNESCO Director-General Amadou-Mahtar M’Bow, written after his visit to Hue in 1981.

According to the spiritual beliefs of the Vietnamese people, death is not the end. Therefore, the Hue tombs often have two main parts: a tomb section and a palace section. The tomb section is the area where the king’s body is buried. The palace section usually contains many temples, shrines, pavilions, and so on. Sometimes, the palace section was also the residence of the reigning king. For example, the palace area of King Tu Duc has more than a dozen architectural works, large and small, serving the king’s daily life and entertainment: Hoa Khiem Palace where the king worked, Luong Khiem Palace where the king ate and slept, Xung Khiem Pavilion and Du Khiem Pavilion where the king relaxed, wrote poetry, enjoyed the scenery, and fished. Additionally, there is Minh Khiem Duong, a theater, Y Khiem Institute, and Tri Khiem Institute, which were the quarters for the concubines serving the king.

This artistic architectural style of tombs originates from the ancient human concept of « living is temporary, death is returning » (Life is temporary, death is the return). This is a concept derived from Buddhism, reminding that life in this world is only temporary, and death is the return to the eternal realm, so death is normal and nothing to be afraid of. King Tu Duc also once mentioned this concept in his poem « Contemplating Life »:

Contemplating life, I think with awe
Living is temporary, then returning to death
Wisdom and folly share the same three feet of earth
Wealth and honor have not yet fully matured
Struggling before eyes, clouds scatter apart
Afterwards, suffering is also imposing as mountain 
Wanting to ask the immortals, but they do not answer
Forcing myself to endure a little longer to listen.

Therefore, while alive, every king thought about building a tomb, a place where the king would return to eternal life. The tomb and the mausoleum are not far apart; sometimes they are just within arm’s reach. Living leisurely and enjoying oneself in the tomb area, and when dead, not worrying about returning to the mausoleum area. According to the natural law of life, the tomb and mausoleum become a realm of the dead because they allow sorrow to give way to joy. They help people become accustomed to the realm of death and especially prepare them to be ready for the angel of death to take them to the other world, a place of eternal rest.

A Western traveler, Charles Patris, once said that the tombs of Hue are like a « smiling » place of mourning, and also a place where one finds « trembling joy » in one of his poems. Each tomb in Hue is not only a cultural historical relic but also a unique scenic spot with its own private characteristics.

Patrimoine culturel mondial du Việt Nam

Photos des mausolées 

Ouvrages recommandés

  • Patrimoine mondial au Vietnam. Edition Thế Giới.
  • Những di sản thế Giới ở Việtnam. Nhà Xuất Bản Đà Nẳng.
  • (Patrimoine Mondial du Vietnam. Editeur Đà Nẵng).
  • Kiến trúc cố đô Huế: Phan Thuận An. Nhà xuất bản Thuận Hóa 2001.

[Return Huế]

Cité pourpre interdite de Huế (Tử Cấm Thành)

Version française
Version anglaise

Tử Cấm Thành  được bảo vệ  nhờ có một bức tường vây quanh bằng gạch cao có 4 thước. Bức tường này cũng được kiên cố thêm  với  một hệ thống hào đầy nước chạy quanh bốn mặt thành. Muốn được  tiếp cận với cửa thành, trước đó phải  đi qua một hay nhiều  cầu nhưng Ngọ Môn vẫn là lối vào chính dành thưở xưa cho nhà vua mà cũng là cổng chính ngày nay để du khách đi  tham quan hoàng thành.

Đây là một hệ thống nền đài Ngọ Môn phức tạp  gồm có 5 lối đi vào và được thêm ở  phần trên một cấu trúc bằng gỗ trang nhã với hai tầng mà được gọi là  Lầu Ngũ Phụng. Ở phía đông và phía tây của tòa thành, người ta tìm thấy có  hai cổng gọi là Chương Đức Môn (7) và Hiển Nhơn Môn (8) được trang trí rất lộng lẫy. Cửa  Hiển Nhơn được khôi phục hoàn toàn lại vào năm 1977. Một khi vượt qua khỏi Ngọ Môn, thì  sẻ thấy xuất hiện trên trục chính điện Thái Hoà mà có thể đến được qua sân chầu thường được  gọi là Sân Đại Triều Nghi. Chính  ở cung điện này, hoàng đế, ngồi trên ngai vàng, một vị trí biểu tượng quyền lực cao quý, nhận được sự chào đón của tất cả các quan vỏ của nhà Nguyễn đứng theo thứ bậc  nhân dịp các buổi lễ lớn. Đây cũng là công trình duy nhất còn được giữ  lâu bền sau bao nhiêu năm chiến tranh.  Đằng sau cung điện này là tư thất  của vua và gia đình.

Version française

La cité pourpre  interdite de Huế est protégée par un mur d’enceinte en brique haut de 4 mètres. Ce dernier est  renforcé en plus, par l’installation d’un système de douves rempli d’eau permettant de ceinturer ainsi la cité. Chaque porte donnant  accès à la cité est précédée  d’un ou de plusieurs ponts  mais la  porte méridienne reste l’entrée principale réservée autrefois  au roi. Elle devient  aujourd’hui la porte principale d’entrée pour les visiteurs.

Le patrimoine culturel mondial du Vietnam

C’est un puissant massif en maçonnerie percé de cinq passages et surmonté d’une élégante structure de bois à deux niveaux, le Belvédère des Cinq Phénix (Lầu Ngủ Phụng) A l’est et à l’ouest de la citadelle, on trouve la Porte Chương Đức (7) et la Porte Hiển Nhơn (8) qui sont très bien  décorées et percées chacune de trois passages. La porte de Hiển Nhơn  a été restaurée entièrement en 1977.  

Une fois franchie précisément la porte méridienne , on voit apparaître sur l’axe principal le somptueux palais de la Suprême Harmonie ou palais du Trône qu’on peut atteindre en traversant l’Esplanade des Grandes Salutations (Sân Ðại Triều Nghi). C’est dans ce palais que l’empereur, assis sur le trône  dans une position symbolique prestigieuse, recevait le salut de tous les dignitaires de l’empire. Ceux-ci étaient  alignés hiérarchiquement sur l’esplanade à l’occasion de grandes cérémonies. C’est aussi le seul bâtiment qui  est resté assez intact  après tant d’années de guerre. Derrière ce palais, se trouve la résidence privée du roi et de sa famille.

 

  • 1 Porte Méridienne (Ngọ Môn)
  • 2 Palais du trône (Điện Thái Hoà) ou Palais de la Suprême Harmonie.
  • 3 Belvédère de la lecture ou Pavillon des archives (Thái Bình Ngự Lâm Thư Lâu)
  • 4 Théâtre royal (Duyệt Thị Đường)
  • 5 Pavillon de la Splendeur (Hiến Lâm Các)
  • 7 Porte de la vertu (Chương Đức Môn)
  • 8 Porte de l’Humanité (Hiển Nhơn Môn)

 Photos de la cité pourpre  interdite (Huế)

 

Sculpture du Champa: 3ème partie (Điêu Khắc Cổ Chămpa)

e_sculpture_champa3

Version vietnamienne

Style Mỹ Sơn A 1

Phong Cách Mỹ Sơn A 1 (Xème siècle)

Le chercheur français Jean Boisselier distingue deux styles. Le premier style est connu sous le nom de Khương Mỹ (première moitié du Xème siècle) et constitué par des œuvres reprenant encore certains traits trouvés dans le style de Ðồng Dương. Quant au deuxième style, il est connu sous le nom de Trà Kiệu (deuxième moitié du Xème siècle) et il regroupe des œuvres qui s’écartent complètement du style Đồng Dương. On note une influence indo-javanaise de plus en plus marquée après avoir pris des influences khmères.

Dans le style Khương Mỹ, on relève à la fois l’harmonie et la symétrie. La douceur est visible aussi dans les expressions faciales des sculptures. Quant au style Trà Kiệu, outre la douceur trouvée dans les poses et les visages, on trouve la beauté des parures, le demi-sourire, la tendance vers les reliefs proéminents etc… La mise en valeur de la beauté féminine n’est plus mise en doute (les seins pleinement développés, le déhanchement, l’élégance du corps etc.) dans la sculpture chame durant cette période.

Phong cách Mỹ Sơn A1

 
Dans le prolongement du style Trà Kiệu, il y a le style Chánh Lộ (XIème siècle) où on assiste au retour des traits principaux: lèvres épaisses, bouche large, arcades sourcilières en relief. Dans ce style, on découvre l’absence du demi-sourire sur le visage, la disparition du déhanchement, la simplification de la parure et du chapeau (Kirita-Mukuta). On peut dire qu’il s’agit bien d’un retour au passé. Ce style n’est qu’un style de transition entre ceux de Mỹ Sơn A 1 et du Bình Ðịnh.

Style Tháp Mắm
(ou Style Bình Ðịnh)

Celui-ci s’étend avec ses prolongements, de la fin du XIème siècle jusqu’à la fin du XIIIème siècle. Le Champa devint une province khmère durant une vingtaine d’années (entre 1203 et 1220). C’est pour cette raison qu’on trouve l’influence notable de l’art angkorien dans ce style. Ce n’est pas par hasard que l’érudit français Jean Boisselier impute le début du XIIIème siècle du style Tháp Mắm au style Bayon dans l’art cham.

Le style Tháp Mắm est à la fois excentrique par l’enrichissement du décor et par l’expression fantastique des animaux, des divinités et des dvarapalas (les lèvres épaisses, les pupilles non marquées, les sourcils en net relief, les narines dilatées, une barbe, des moustaches ). Les œuvres chames de cette longue période montrent d’étroits rapports non seulement avec l’art khmer mais aussi avec l’art vietnamien. Les dragons de Tháp Mắm, les tours d’Or, d’Argent et d’Ivoire témoignent de l’influence vietnamienne (période des dynasties Lý et Trần). Dans ce style, les sculptures animales sont très variées mais elles reflètent le caractère irréaliste et mythique.

Parfois, certains animaux féroces et méchants très poussés à l’invraisemblance et à l’exagération deviennent des créatures charmantes et mignonnes.

Makara

sculpture_cham_thap_man

On peut avoir la même pensée ambiguë du chercheur français Jean Boisselier sur l’art cham en se demandant si on a affaire à une œuvre décadente ou on se retrouve au sommet d’un art poussé à ses limites.

Le chercheur vietnamien Ngô Văn Doanh a l’occasion de comparer ce style au rayon de lumière avant le déclin du jour.  Bien que celui-ci soit splendide et tellement brûlant, il est trop « vieilli » . Il est sur le point de disparaître avec regrets pour céder la place aux styles Yang Mun et Pô Rome.

 Style Bình Ðịnh

 

Phong Cách Muộn

Styles Yang Mum et Pô Rome

( XIVème -XVème siècle)

On trouve dans ces styles le caractère médiocre et schématique. On a tendance à styliser les images sculptées et à négliger le reste, en particulier les membres inférieurs réduits parfois à un bloc de pierre triangulaire ou à un socle. Les kut (ou stèles funéraires dont la base non sculptée est enfouie sous terre) montrent avec grossièreté une silhouette humaine sans qu’on sache qu’il s’agit d’une influence musulmane ou d’un retour au passé animiste.

L’hindouisme cède le pas aux nouvelles formes religieuses (culte local des génies (les Yang) animisme, islam) depuis la chute de Vijaya (Bình Ðịnh) en 1471 contre les Vietnamiens (Lê Thánh Tôn) et la perte de tous les lieux saints (Mỹ Sơn, Trà Kiễu, Đồng Dương), ce qui traduit ainsi un long et irréversible crépuscule pour la sculpture chame.

Tombée dans l’oubli depuis tant d’années, réappropriée récemment par les Vietnamiens, la sculpture chame redevient leur objet d’admiration depuis l’exposition des trésors d’art du Vietnam (2005 Musée Guimet, Paris) et l’une des composantes majeures de l’art vietnamien. Désormais, elle fait partie intégrante du patrimoine artistique et culturel du Viet Nam.

[Retour à la page Sculpture du Chămpa]

Références bibliographiques

  • La statuaire  du Champa. Jean Boisselier. Volume LIV, EFEO Paris 1963.
  • Văn hóa cổ Champa. Ngô Văn Doanh. NXB Dân Tộc 2002
  • Champa sculpture. Nguyễn Thế Thục. NXB  Thông Tấn 2007
  • Jean Boisselier . La statuaire du Champa. Recherche sur les cultes et l’iconographie.
  • Bénisti Mireille: Arts asiatiques. Année 1965. Volume 12. N°1.
  • L’art du Champa. Jean François Hubert. Editeur Parkstone Press International. 2005
  • Pérégrinations culturelles au Champa. Nguyễn Vă Kự, Ngô Văn Doanh, Andrew Hardy. Editions Thế Giới Publishers 2005