Gallery
Galerie des photos du Vietnam
Nhà thờ chính tòa Bùi Chu
Giáo phận Bùi Chu
Mặc dầu có diện tích nhỏ nhất trong số 26 Giáo phận của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, giáo phận Bùi Chu có tỷ lệ giáo dân cao nhất nhì tại Việt Nam (386 148 giáo dân năm 2006). Tọa lạc ở xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Bùi Chu không những là nhà thờ chính tòa của giáo phận Bùi Chu mà cũng là một nhà thờ Công giáo Rôma được xây dựng dưới thời Pháp thuộc bởi giám mục Wenceslao Onate Thuận (1884) với chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m. 
Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ này vẫn đứng vững ngày nay với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn mang dấu ấn kiến trúc phương Tây. Hàng năm vào ngày 8 tháng 8, ngày lễ quan thầy của giáo phận, có nhiều giáo dân tập trung về dâng lễ. Giáo phân Bùi Chu còn có gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển Công giáo tại Việt Nam.
Galerie des photos
Malgré une superficie très petite parmi les 26 diocèses de l’église catholique du Vietnam, l’évêché de Bùi Chu a pourtant le pourcentage le plus élevé des fidèles au Vietnam (386 148 fidèles en 2006). Etant située à la commune Xuân Ngọc du district Xuân Trường dans la province de Nam Định, Bùi Chu est non seulement l’église principale de l’archevêché Bùi Chu mais aussi la cathédrale catholique romaine. Celle-ci fut édifiée à l’époque coloniale par l’évêque Wenceslao Onate Thuận en 1884 avec ses dimensions suivantes: longue de 78 mètres, large de 22 mètres et haute de 15 mètres. Ayant passé plus de 100 ans, cette cathédrale continue à rester debout aujourd’hui avec ses colonnes en bois de fer et garde encore les traces d’ornement du style architectural venant de l’Occident. Il y a les festivités organisées en l’honneur du Saint Patron tous les ans, au 8 ème jour du mois d’août. L’évêché est lié intimement aux événements historiques importants dans la formation et l’évolution du catholicisme au Vietnam.
Photos de Jean Marie Duchange
Cũng như ông Henri Oger với các bộ sưu tập tranh mộc bản, ông Jean Marie Duchange rất yêu chuộng người dân Việt nhất là đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên. Trong ba năm ông làm ở vụ y tế ở miền núi, ông không ngần ngại gian nan những lúc rãnh rỗi cưỡi voi, đi bộ, dùng thuyền đôc mộc hay xe jeep đến các vùng núi để chụp các ảnh nầy với máy ảnh reflex 6×6 bi objectif. Nhưng cuối cùng ông cũng không thực hiện được ý định xuất hành cuốn album vì ông ra đi ở tuổi 88. Dự định in ấn cũng đành hoãn lại. Tuy nhiên để tưởng nhớ và thực hiện hoài bão của ông, con gái ông Evelyne Duchange và cháu ngọai Nadège Bourgoin cống hiến cho hai bảo tàng, một ở Paris là Quai Branly (Paris) và hai là bảo tàng dân tộc học ở Hànội các tác phẩm ảnh của ông bằng négatif. Nhờ vậy mới có dịp chụp lại được ở bảo tàng dân tộc học các ảnh nầy để cùng chung khám phá các tập tục nghi lễ trong những năm 50 của thế kỳ 20. Các tác phẩm ảnh nầy là một nhân chứng vô giá của ông về cuộc sống linh động hằng ngày của các đồng bào thiểu số mà nay không còn thấy nửa ở Tây Nguyên.
Analogue à Henri Oger avec ses estampes en bois, Jean Marie Duchange avait de l’estime pour le peuple vietnamien, en particulier pour les ethnies des Hauts Plateaux du Centre. Profitant des trois années passées à la direction de santé publique des populations montagnardes du Sud Indochinois, il n’hésita pas à parcourir les régions montagneuses à dos d’éléphant, en jeep , en pirogue ou encore à pieds avec difficultés pour réaliser ces photos avec son appareil reflex 6×6 bi objectif quand il avait du temps libre. Mais à la fin, il n’arriva pas à accomplir son rêve de réaliser un album car il fut décédé à l’âge de 88 ans. Son projet d’édition fut abandonné aussi. Pour honorer sa mémoire et pour perpétuer le beau travail d’un passionné de la photographie, sa fille Evelyne Duchange et sa petite fille Nadège Bourgoin ont décidé de faire le don de ses négatifs aux deux musées, l’un à Paris au musée Quai Branly et l’autre à Hànoi, au musée d’ethnologie. Grâce à ce don, j’ai eu l’occasion de passer une journée à ce dernier musée pour faire ces photos et pour nous permettre de découvrir ensemble toutes les coutumes et les traditions dans les années 50 du XXème siècle. Ces photos constituent son témoignage inestimable sur la vie journalière des ethnies qu’il est impossible de retrouver aujourd’hui aux Hauts Plateaux du Centre.
Similar to Henri Oger with his woodblock prints, Jean Marie Duchange held esteem for the Vietnamese people, particularly for the ethnic groups of the Central Highlands. Taking advantage of the three years he spent directing public health for the mountain populations of South Indochina, he did not hesitate to travel through the mountainous regions on elephant back, by jeep, by pirogue, or even on foot with difficulty to take these photos with his 6×6 twin-lens reflex camera whenever he had free time. But in the end, he was unable to fulfill his dream of creating an album as he passed away at the age of 88. His publishing project was also abandoned.
To honor his memory and to perpetuate the beautiful work of a photography enthusiast, his daughter Evelyne Duchange and his granddaughter Nadège Bourgoin decided to donate his negatives to two museums, one in Paris at the Quai Branly Museum and the other in Hanoi at the Museum of Ethnology. Thanks to this donation, I had the opportunity to spend a day at the latter museum to take these photos and to allow us to discover together all the customs and traditions of the 1950s. These photos constitute his invaluable testimony on the daily life of the ethnic groups that can no longer be found today in the Central Highlands
Đình Làng ( Maison communale: phần 4)
Nghệ thuật trang trí ở đình làng
Nhờ có đình làng, người ta mới khám phá được đời sống của người dân làng thể hiện một cách tài tình mật thiết với nghệ thuật trang trí. Người xem có cảm tưởng rằng nghệ thuật nầy nó không những không theo các mô hình thông thường được biết cho đến giờ mà nó còn « tự cởi tróí », trút bỏ mọi gánh nặng của sự ràng buộc đạo Khổng thời kỳ phong kiến ở Việtnam. Đó là những gì chúng ta thấy ở các khoảng trống trong đình với chạm khắc gỗ từ sườn nhà cho đến cột trụ.
Các khuyết điểm lúc xây cất đình được che giấu một cách khéo léo nhờ kỷ thuật trang trí làm đẹp. Trong mỗi thanh gỗ chạm khắc, mỗi môtíp dù là một con thú, một nhân vật hay là một cái bông đều độc nhất không thể tìm thấy ở nơi khác dù có cùng một chủ đề. Ngược lại, người ta nhận thấy ở các thanh gỗ chạm khắc có sự cùng tồn tại, qua nhiều thể kỷ, của hai nền văn hóa, một mang tính cách bài bản và bác học và một cái mang tính cách dân dã. Ở nền văn hóa đầu tiên còn tìm thấy không những tất cả mô típ liên quan đến tứ linh (Rồng, Lân, Rùa, Phượng) mà luôn cả thực vật cao quý, tiên nữ hay thú vật (hổ, voi vân vân ..) mà có luôn tính tưởng tựợng và thích đổi mới cùa nghệ nhân mặc dầu có sự tôn trọng nghiêm túc trong truyền thống kinh điển. Còn ở các thanh gỗ chạm với tính cách dân dã, nghệ nhân vì là một người nông dân trước đó, nên thường bỏ qua lề lối gò bó mà tự hướng dẫn mình qua cảm hứng, tự do tùy tiện chạm khắc theo ý tưởng và cảm nhận cùa mình khiến các tác phẩm nó mang tính chất hiện thực và hóm hỉnh. Với tài khéo léo đôc đáo, nghệ nhận chưa bị cấm đoán về cách miêu tả các cảnh tượng vô luân lý khó mà giải đáp ở thời đại phong kiến: một thiếu nữ đang tấm ao hay ngồi hớ hênh trên đầu rồng (đình Phụ Lão, Bắc Giang), một chàng trai đang sờ soạng thân thể một phụ nữ dưới cái nhìn đồng lõa của bạn đồng hành (đình Hưng Lộc), một ông quan đang quấy rầy một phụ nữ đang tấm bằng cách thò tay luồn dưới yếm ( đình Ðệ Tam Ðông, Nam Ðịnh) vân vân ….
Hình rồng đa dạng trang trí ở đình
Nghệ nhân còn dám tố cáo những chuyện sai trái của các quan liêu qua bức chạm của đình Liên Hiệp. Đây là những điều cấm đoán và phiền nhiễu mà thường gặp mỗi ngày trong xã hội nho giáo Việtnam. Tất cả những gì được thấy trong điêu khắc gỗ dân dã phản ánh phần lớn tự do phát biểu của nghệ nhân cùng khát vọng chung của dân làng. Có một điều trái ngược, nghịch lý là đình vừa là nơi để gìn giữ trật tự được ăn sâu qua nhiều thế kỷ vào hạ tầng gia đình và xã hội Việtnam và cũng là nơi mà người nông dân có thể tìm lại được tự do phát biểu và tố cáo những gì được trông thấy ở xã hội nho giáo. Với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, ngôi đình là một kho tàng vô giá cho dân tộc Việt. Người ta thường nói: Làng Nước vì Viêtnam được thành hình, qua nhiều thế kỷ, từ sự rải rác làng mạc khắp mọi nơi mà đình vừa là trung tâm hành chánh, văn hóa, xã hội và tinh thần. Bởi thế đình làng nó không những là linh hồn của làng mà của đất nước Việtnam.
Bibliographie:
Trịnh Cao Tường: Kiến trúc đình làng. Khảo cổ học, 2/1981, trang 56-64.
A la découverte de la culture vietnamienne. Hữu Ngọc. Editions Thế Giới. Hànôi 2011
Le Ðình, maison communale du Viêt Nam. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Editions Thế Giới, 2001
Đình Làng (Maison communale: phần 3)
Đình Làng: phần 3
Ngoài những lễ hội được ấn định trong năm để vinh danh thành hoàng, người dân làng còn coi trọng ngày sinh nhật cũng như ngày giỗ của thành hoàng. Nhưng có những dịp đám cưới, bổ nhiệm, thăng chức hay tục khao lão mà ở trong làng có các cuộc chè chén tiệc tùng và cúng tế thành hoàng một cách linh đình. Có thể nhận diện được thành hoàng là người đàn ông hay phụ nữ lúc rước kiệu. Nếu thành hoàng là người đàn ông thì luôn luôn có một ngựa chiến sơn mài màu đỏ hay màu trắng bằng gỗ được có đầy đủ dây cương, yếm hoa, cổ đeo nhạc, trên chiếc xa mã cơ động với bánh xe bằng gỗ và có chở theo linh hồn của thần hoàng. Còn nếu là phụ nữ thì con ngựa được thay thế bằng chiếc võng đào được treo trên cây đòn mà hai đầu được chạm với đầu rồng. Trong thời gian có lễ, thành hoàng được tôn vinh một cách trịnh trọng với chiếc kiệu chứa đầy lễ vật, nào tán nào cờ đi từ đình đến nghè (1) hay từ làng nầy qua làng kia nếu hai làng cùng có một thành hoàng chung. Còn có nhiều trò vui chơi giải trí như chọi gà, trâu hay chim, chơi cờ với các con chốt là người vân vân…
Đình Mỵ Nương (Cổ Loa thành)
Có một tập tục rất quan trọng làm nổi bật đời sống của thành hoàng. Được biết dưới tên hèm và giữ kín đáo, tập tục nầy thường được cử hành ban đêm khi mà thành hoàng không có những tác động không xứng đáng để phô trương chẳng hạn thần ăn cấp, thần hốt phân vân vân …Ngược lại các thành hoàng có công trạng hiển hách hay có công đức thì được vinh danh long trọng giữa ban ngày. Thông thường tránh dùng tên của thành hoàng trong lúc lễ bằng cách sửa đối cách gọi hay thay thế một chữ khác đồng nghĩa. Đó là trường hợp thành hoàng Ling Lang chẳng hạn. Buộc lòng phải gọi khoai dây thay vì khoai lang, thầy lương lại thế thầy lang vân vân… Cái tập tục cá biệt nầy là một trong những nét chủ yếu trong việc cúng kiến thành hoàng. Có thể làm suy đi sự thịnh vượng cho làng nếu lơ là tập tục nầy.
Chuyện xây cất đình thông thường đựợc quy định vào một số hình nhất định và theo dáng chữ nho tương ứng: Nhất, Nhị, Tam, Ðinh, Công, Vương vân vân … Ngôi đình dựng một mình với một ngôi nhà chính theo dạng hình chữ nhật ( một nét gạch thẳng ngang) được gọi là thế chữ Nhất. Đó là đình Tây Đằng. Ngược lại, dáng hình chữ Nhị là khi có thêm một ngôi nhà tiền tế song song với nhà chính tạo ra thế chữ Nhị. Đó là đình Liên Hiệp. Rất hiếm thấy thế chữ Tam và chữ Đinh trong việc xây cất đình. Nhìn chung ngôi đình thường phổ biến nhất với hình dáng chữ Công. Ngôi nhà ở phiá sau mà gọi là Hâu Cung được nối với ngôi nhà chính (hay đại đình) nhờ một hành lang hay một sân nhỏ (hay ống muống). Đó là các đình Mông Phụ, Đình Bảng. Còn chữ Vương thì phải nối ba ngôi nhà (Hậu Cung, Đại Đình, Tiền Tế) với hai hành lang (ống muống). Chính ở ngôi nhà Tiền Tế mà các thân hào thường dùng để cúng tế cho thành hoàng với y phục màu xanh trong những ngày lễ. (Tiếp theo nghệ thuật trang trí Đình)
1) ghè: nơi mà thành hoàng cư trú trước cổng làng. Lúc có lễ, thành hoàng được mời đến đình. Sau đó khi xong lễ được trở về nghè.
Bibliographie:
Le Ðình, maison communale du Viêt Nam.
Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự,
Editions Thế Giới, 2001
Đình Làng miền Bắc
The village Dinh in northern Vietnam
Le Thanh Đức. Editeur Mỹ Thuật 2001
Đình Làng (Maison communale: phần 2)
Đình Làng: phần 2
Người ta thường hay nói: Cầu Nam, Chùa Bắc, Ðình Ðoài để nhắc nhở đến ba vùng đặc biệt nổi tiếng trong kiến trúc truyền thống của người dân Việt. Đình Đoài nói bóng gió vùng Đoài (Hà Đông, Sơn Tây) nơi có danh lam thắng cảnh nhất là có các đình nổi tiếng như Tây Ðằng, Mông Phụ , Chu Quyến vân vân …. Chính ở nơi gần núi và rừng nên có nhiều cây côi quý, bền và cứng rất cần thiết trong việc xây cất đình.
Nguồn gốc của chữ Đình
Đến từ văn hóa Trung Hoa, chữ đình gọi là Ting. Mặc dù như vậy, đình làng mà tìm thấy trong kiến trúc Việt Nam nó không đúng với cái nghĩa đình của người Hoa. Họ chỉ dùng để chỉ một ngôi nhà biệt lập với mục đích là thưởng ngoạn, một đình trạm dành cho người lữ khách hay một quan viên đi công tác dừng chân nghỉ khoẻ hay là một đền để thờ thần thành lũy đời nhà Hán. Với ý nghĩa nầy thì loại đình nầy còn thấy hiện nay là đình Trấn Ba (đình ngăn sóng) ở đền Ngọc Sơn giửa Hồ Gươm (Hànội) hay là Thủy đình (đình rối nước) ở hồ nước bằng phẳng ở chùa Thầy. Dựa trên nguồn góc của chữ đình, các nhà chuyên gia không ngần ngại nghĩ rằng chuyện thờ thần thành lũy hay cách dùng đình của người Hoa nó soi dẫn đến chuyện đình của người dân Việt. Theo nhà báo Hữu Ngọc thì thần thành lũy được thay thế bởi thành hoàng của làng Việtnam để thích nghi và đáp ứng với sở thích của người dân Việt. Nhưng rất có nhiều lý do bác bỏ giả thuyết nầy.
Trước hết, ngôi đình Việtnam sở dĩ được vửng chãi là nhờ hệ thống tinh xảo của các rường cột xà và được dựng trên sàn (không có đúc nền tảng). Vì vậy đình dễ di chuyển ngắn hay xoay hướng trong trường hợp thế đình đâu tiên không đem lại kết quả mong muốn sau nhiều thập kỷ xây dựng. Loại kiểu xây dựng nầy làm chúng ta nghĩ đến các nhà nghiên cứu, nhất là ông Georges Coedès , một nhà nghiên cứu Pháp đã nói rằng đình chịu rất nhiều ảnh hưởng đến từ phong cách kiến trúc của chủng cổ Mã Lai. Sự kiện nầy nó cũng không làm chúng ta thắc mắc những gì đã khám phá trên trống đồng của người dân Việt với nhà sàn mái cong (trống đồng Ngọc Lữ). Được biết từ lâu người Đồng Sơn (tổ tiên của người dân Việt) định cư dọc theo bờ biển Bắc Vịệt (có từ ngàn năm năm trước công nguyên). Họ được xem là những người chủng cổ Mã Lai (hay người Nam Á), dân tộc Bách Việt. Theo Trịnh Cao Tường, một nhà nghiên cứu về các đình làng Vietnam thì kiến trúc đình còn tiếp tục duy trì được dư âm tâm trí của người Đồng Sơn trong cuộc sống hằng ngày của người dân Việt. Hơn nữa loại ngôi nhà nầy nó giống như nhà rông mà thường trông thấy ở các dân tộc Nam Á, nhất là các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Tựa như đình làng, nhà rông có một số sinh hoạt xã hội: phòng thảo luận của ủy ban nhân dân, nhà nghỉ tạm của các lữ khách, nơi tựu tập tất cả dân làng vân vân … Có vài nơi được thấy dùng sàn gỗ ở đình làm ghế ngồi trong lúc hội thảo giữa các thân hào và dân làng. Chớ không phải là những nơi thưởng ngoạn của người Trung Hoa.
Đình Mông Phụ (Sơn Tây)
Ở thế kỷ 18, người ta kiểm kê nhận thấy có khoảng chừng 11800 làng ở Vietnam. Như vậy có nghĩa là có bao nhiêu làng thì có bao nhiêu đình. Người dân Việt thường hay nói: Uống nước nhớ nguồn. Như vậy lúc nào cũng có ở nơi họ lòng biết ơn đối với những có công trạng với đất nước. Bởi vậy không có gì ngạc nhiên thấy được một số nhân vật lịch sữ hay truyển thuyết ( thần núi Tản Viên chẳng hạn) hay ân nhân có công dạy cho dân làng một nghề gì dó trong làng đươc làm thành hoàng ở đình. Có luôn các người có hành động cao cả. Hơn nửa còn có đủ loại người được làm thành hoàng: con nít, những kẻ ăn xin và ăn cướp hay những người bi chết đột ngột đúng giờ thiên nên họ có quyền lực siêu phàm để bảo vệ dân làng tránh được tai họa và thiên tai. Nhờ các thành hoàng mà làng tìm lại được không những yên tịnh và thịnh vượng mà tấ cả lề luật, công lí và đạo đức. Họ trở thành phần nào hiện thân cái quyền thế tối cao mà có được từ sức mạnh của làng. Tùy theo chức vụ họ làm tròn mà họ được sắc phong theo ba cấp: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Họ có thể bị mất chức nếu họ không hoàn thành sứ mệnh và nếu họ để mất đi trật tự ở làng hay là để dân làng bị chết. Các bản sắc phong được trân trọng giữ gìn trong Hậu Cung và còn là niềm tự hào không thể tả được của dân làng. Đôi khi nếu làng không có thành hoàng, dân làng buộc lòng mượn thảnh hoàng của làng kế cận hay là thế bằng thổ thần. Còn có trường hợp hai làng cùng có chung một thành hoàng thì họ phải thương lượng để mỗi làng được có một ngày lễ được biết trước để tránh cùng chung ngày và tất cả mọi người đều tham dự bằng các gữi sang một phái đoàn hôm có diễu hành. Ngược lại với các đền được xây cất và sùng tu với tiền của nhà nước, các đình thì chi phí đều do dân làng tài trợ vì đây là chuyện thờ cúng địa phương. Sự giàu có được thấy qua việc trang trí ở đình còn tùy thuộc ở tính hào hiệp và cuộc sống sung túc của dân làng. Ở mỗi làng có những miếng đất gọi là tế điền hay ruộng thần từ được khai khẩn để bảo dưỡng đình mà ờ vài làng trước 1945, diện tích có thể lên đến vài chục mẫu. Chính quyền sở có trách nhiệm cai quản đình làng như một tiểu triều đình. Luật lệ và tập quán được áp dụng nơi nầy một các nghiêm ngặt và được tôn trọng hơn quyền lực của vua chúa thời đó. Các phụ nữ cấm không được vào đình. Bởi vậy người ta thường nói: « Phép vua thua lệ làng ». (tiếp theo đình làng phần 3)
La pagode du Maître (Chùa Thầy)
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số, chùa Thầy tọa lạc ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, xã Sài Sơn và được xây dựng từ thời nhà Đinh. Chùa nầy là một trong ba chủa nổi tiếng nhất ở đất Hà Thành mà còn là chủa có liên quan mật thiết đến quãng đời sau cùng của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ông thuộc thế hệ thứ 12 của dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và còn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng Mật Tông qua những pháp thuật. Ông là thủy tổ múa rối nước. Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo, sáng tạo nên trò múa rối nầy và truyền dạy cho dân chúng. Chính ở giữa hồ Long Trì mà ngày lễ hội thường thấy ở thủy đình có trò múa rối nước.
Từ Đạo Hạnh không những là một thiền sư rất uyên thâm hiểu biết mà còn là một danh nhân văn hóa. Chính vì vậy công lao của ông đóng góp với đất nước và dân gian rất lớn duới triều Lý cho nên ông được dân gian biết ơn sùng kính thường gọi ông là Thầy, là Thánh hay Phật. Cuộc đời của ông cũng không thiếu màu sắc huyền thoại từ việc hóa thân thành con trai của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, chính là vua Lý Thần Tông sau này đến cái chết của ông được dân chúng thần thánh hóa trở thành cái chết đẹp và để trở thành người khác với cuộc sống mới qua bài kệ thi tịch của ông:
Thu lai bất báo nhạn lai quy,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ sư kỉ độ tác kim sư.
Dịch nghĩa
Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)
Ông trở thành là người mở đầu cho dân gian một tín ngưỡng thờ Thánh Tổ hòa trộn vào Phật giáo qua mô hình « Tiền Phật – Hậu Thánh« . Đây cũng là một thể thức tôn sùng từ đó ở chùa của người dân Việt dành cho những người có công đức hay gần gũi và bảo trợ dân gian.
(*) Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội.
Version française
Loin du centre-ville de Hanoïi de 20 km, la pagode du Maître est située au pied de la montagne Sài Sơn dans la commune du district Quốc Oai. Celle-ci fut édifiée à l’époque de la dynastie des Đinh. Elle est l’une des trois pagodes célèbres de la capitale Hanoï mais elle est liée intimement aussi à la durée de vie restante du moine zhen Từ Đạo Hạnh. Celui-ci appartint à cette époque à la douzième génération de l’école Vinitaruci et il fut considéré comme le représentant du bouddhisme tantrique à travers ses pouvoirs magiques. Il est aussi le créateur du spectacle des marionnettes sur l’eau. Étant passionné pour les danses et les chansons traditionnelles, il a appris au peuple le théâtre populaire ainsi que la façon de se distraire avec les marionnettes sur l’eau. C’est au milieu de l’étang du Dragon que se déroule fréquemment le spectacle des marionnettes sur l’eau à l’occasion des festivités locales.
Từ Đạo Hạnh était non seulement un moine ayant une profonde connaissance mais aussi un illustre personnage culturel. C’est pour cela que ses contributions étaient énormes pour le peuple et le pays si bien que tout le monde exprimait sa gratitude en l’appelant souvent « Maître », « Saint » ou « Bodhisattva ». Il ne manque pas la coloration mythique dans la vie de ce moine zhen. De son incarnation dans le personnage du roi Lý Thần Tông, fils de Lý Dương Hoán jusqu’à sa mort que le peuple a mystifiée en lui donnant une belle mort et une réincarnation avec une nouvelle vie à travers son kê (une sorte de stance bouddhique):
Le retour de l’automne n’accompagne pas celui des hirondelles,
Je désapprouve les gens continuant à s’accrocher à leur vie avec tristesse et douleur devant la mort
Il est déconseillé à mes disciples de montrer trop d’attachements émotionnels à cause de moi,
Étant l’ancien maître, j’ai incarné tant de fois pour devenir le maître d’aujourd’hui.(*)
Il est le premier à introduire au peuple le culte des personnages déifiés dans le bouddhisme à travers le modèle « Devant Bouddha-Derrière les Saints ou les personnages déifiés« . C’est une forme de vénération adoptée à cette époque par les Vietnamiens pour exprimer leur gratitude envers tous ceux qui avaient la vertu et le mérite de les protéger dans le quotidien.
(*) Source : Ly Tran Poésie et littérature (Volume I), Maison d’édition des sciences sociales.
Far from the city center of Hanoi by 20 km, the Master’s Pagoda is located at the foot of Sài Sơn mountain in the commune of Quốc Oai district. It was built during the Đinh dynasty. It is one of the three famous pagodas of the capital Hanoi but is also closely linked to the remaining lifespan of the monk zhen Từ Đạo Hạnh. He belonged at that time to the twelfth generation of the Vinitaruci school and was considered the representative of tantric Buddhism through his magical powers. He is also the creator of the water puppet show. Passionate about traditional dances and songs, he taught the people popular theater as well as how to entertain themselves with water puppets. The water puppet show frequently takes place in the middle of the Dragon pond during local festivities.
Từ Đạo Hạnh was not only a monk with profound knowledge but also an illustrious cultural figure. That is why his contributions were enormous for the people and the country, so much so that everyone expressed their gratitude by often calling him « Master, » « Saint, » or « Bodhisattva. » The mythical coloring is not lacking in the life of this venerable monk. From his incarnation as King Lý Thần Tông, son of Lý Dương Hoán, until his death, which the people mystified by giving him a beautiful death and a reincarnation with a new life through his kê (a type of Buddhist stance):
Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)
The return of autumn does not accompany that of the swallows,
I disapprove of people continuing to cling to their lives with sadness and pain before death.
My disciples are advised not to show too much emotional attachment because of me,
Being the former master, I have incarnated so many times to become today’s master.(*)
He was the first to introduce to the people the worship of deified figures in Buddhism through the model « In front Buddha – Behind Saints or deified figures. » This was a form of veneration adopted at that time by the Vietnamese to express their gratitude toward all those who had the virtue and merit to protect them in daily life.
(*) Source: Ly Tran Poetry and Literature (Volume I), Social Sciences Publishing House.
Eglise Trung Linh (Nam Định)
Cách xa toà giám mục Bùi Chu phỏng chừng 1,5 km, nhà thờ Trung Linh là một trong nhà thờ đẹp nhất ở Việtnam. Nhà thờ Trung Linh được xây dựng năm 1928. Giáo xứ Trung Linh còn có sự hiện diện của nhà Mẹ của Hội Dòng Mân Côi Bùi Chu, được Đức cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn thành lập năm 1946, là Hội Dòng đầu tiên của Bùi Chu được thành lập theo giáo luật. Nhờ đức tin và và đời sống đạo đức của giáo dân nơi nầy, nhà thờ Trung Linh trở thành một địa điểm sầm uất nhất cũa địa phận Bùi Chu với chiều ngày chủ nhật cuối tháng Hoa, có tổ chức cung nghinh Đức Mẹ quanh khuôn viên Thánh Đường và hồ lớn của giáo xứ. Và cũng là nơi ưa thích của các cặp vợ chồng chụp ảnh cưới.
Loin du diocèse Bùi Chu à peu près de 1,5 km, Trung Linh est l’une des plus belles églises au Vietnam. Cette église a été édifiée en 1928. La paroisse Trung Linh abrite de plus le siège de la communauté religieuse Mân Côi Bùi Chu que l’évêque Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (Giuseppe Dominique Hồ Ngọc Cẩn) a créee en 1946. C’est aussi la première communauté religieuse de Bùi Chu établie selon la loi canonique. Grâce à la foi et la vie morale des gens locaux, l’église Trung Linh devient un lieu de rassemblement spirituel très animé du diocèse Bùi Chu où les festivités sont organisées en l’honneur de la Très Sainte Vierge Marie autour du lac à la soirée dominicale de la fin de la période des fleurs. C’est aussi le lieu préféré des jeunes mariés pour la photographie.
Cái Bè (Mỹ Tho)
Musée des beaux-arts (Bảo tàng mỹ thuật Hànội)
Bảo tàng mỹ thuật
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Tọa lạc ở giữa lòng thủ đô Hànội ngang mặt Văn Miếu , bảo tàng mỹ thuật ít được biết so với bảo tàng dân tộc học. Tuy nhiên chính là địa điểm không nên bỏ qua được cho những ai thích mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Chính ở nơi nầy tìm thấy ở ba tầng rất nhiều kiệt tác được phân phối trưng bài theo chủ đề và khám phá các kỹ thuật gồm có nhiều lĩnh vực (như gốm, điêu khắc, sơn mài, tranh lụa hay giấy dó, nghệ thuật dân gian vân vân …).
Gian nhà dành cho sơn mài rất tráng lệ với các tượng tổ sư của phái Thiền Tông và các vị Kim Cương ở chùa Tây Phương. Có thể nói các tượng nầy được xem như là đạt được đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ Việtnam dưới triều đại Tây Sơn dù thời đai nầy chỉ có tồn tại 14 năm (1788-1802). Chính qua các tư thế và hình dáng đáng ngạc nhiên của các tượng mà nhận ra được không những sự thành hình phong cách cá biệt mà còn làm trội lên tính hiên thực và tính nhân văn.
Dù có tính chất tôn giáo, mỗi tượng là một kiệt tác được hoàn thành một cách tĩ mĩ bỡi người điêu khắc với chủ đích làm sao để nổi bật nét đặc thù cá tính, cảm giác và sùng kính mà họ có. Có thể mất hai tiếng dẽ dàng khi đến tham quan bảo tàng mĩ lệ nầy. Ít có du khách lắm nhưng cũng đáng để đến tham quan khi có dip đến Hànội.
Le musée des beaux-arts est situé en plein cœur de la capitale Hànội. Il est en face du temple de la littérature (Văn Miếu). Il est peu connu par rapport à celui d’ethnographie. De la préhistoire jusqu’à nos jours, l’art vietnamien y est bien présenté. On s’y voit proposer un très large éventail d’œuvres. Celles-ci sont réparties sur trois étages thématiques. On peut y découvrir l’ensemble des techniques: céramique, sculpture, laque, peinture sur soie et sur papier de mûrier, arts populaires etc.
La partie réservée aux laques est très magnifique. On y trouve la belle collection des Bouddhas de la pagode Tây Phương. C’est le point culminant de la sculpture ancienne du Vietnam à l’époque de Tây Sơn. Cette dernière ne subsiste que 14 ans (1788-1802). Ses statues sont dans des postures et des attitudes assez surprenantes. On y voit un style particulier mais aussi le réalisme et l’humanisme.
Le sculpteur artisan réalise chaque statue avec soin malgré le caractère religieux. Il tente de montrer la particularité de sa propre personnalité, ses sentiments et sa dévotion. On peut passer facilement deux heures dans ce beau musée. Il y a peu de visiteurs. Cela vaut quand même le détour lorsqu’on a l’occasion de visiter Hànội.
66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Fine art museum
The Fine Arts Museum is located right in the heart of the capital, Hanoi. It is opposite the Temple of Literature (Văn Miếu). It is less well known compared to the Ethnographic Museum. From prehistory to the present day, Vietnamese art is well represented there. A very wide range of works is offered. These are spread over three thematic floors. One can discover all the techniques: ceramics, sculpture, lacquer, painting on silk and mulberry paper, popular arts, etc.
The section dedicated to lacquer is very magnificent. There is the beautiful collection of Buddhas from the Tây Phương Pagoda. It is the high point of ancient Vietnamese sculpture during the Tây Sơn period. The latter lasted only 14 years (1788-1802). Its statues are in quite surprising postures and attitudes. One can see a particular style but also realism and humanism.
The artisan sculptor carefully creates each statue despite its religious nature. He tries to show the uniqueness of his own personality, his feelings, and his devotion. One can easily spend two hours in this beautiful museum. There are few visitors. It is still worth a visit when one has the opportunity to visit Hanoi.












