Tiểu Andalusia ở giữa lòng Paris
Art des pays d’Asie du Sud ou de la France
Rùa (Qui)
Trong kho tàng thần thoại Việt Nam, chúng ta thường thấy thần hay biến hoá thành rùa. Loại vật sống nầy rất hiếm ở đất nước ta nhất là rùa có mai mềm ở sông Hồng và được xem coi là một linh vật trong tứ linh (Long, Li, Qui, Phụng). So với ba con vật kia, rùa là con vật duy nhất có thật trong tự nhiên. Vã lại, nó có tuổi thọ rất cao và có thể sống trong một thời gian dài không cần thức ăn nên được tượng trưng cho cuộc sống thanh tao thoát tục và thể hiện được sự trường thọ vĩnh cửu. Trong lĩnh vực tâm linh thì rùa được xem là một loại động vật hội tụ trời và đất hay là Âm và Dương. Bụng thì bằng phẳng nên tượng trưng cho mặt đất (Âm) còn phần gù (hay mai) của nó thì cho vòm trời (Dương). Nó thường được dân ta xem là một loại vật thiêng biết tiên tri và được thần thánh hóa trong tâm trí của người dân Việt. Dân tộc ta là một trong những dân tộc sống gần sông biển ở vùng Đông Nam Á và phiá nam sông Dương Tử. Bởi vậy theo sự nhận xét của nhà khảo cứu Pháp Jean Przyluski thì trong các truyền thuyết của các dân tộc nầy thì thường thấy được các loại vật hiển linh của miền sông nước giúp đỡ các vua chúa chống giặc ngọai xâm hay dựng nước mà trong đó có rùa, rồng, rắn hay cá. Ngược lại không có ở trong các truyền thuyết của các dân tộc sống ở lục đia như Trung Hoa và Ấn Độ những loại vật hiển linh nầy. Bởi vậy rùa thần đã hai ba lần xuất hiện trong truyền thuyết của dân tộc ta. Lần đầu rùa được ghi chép lại trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, một tập sách viết bằng chữ Hán thu thập lại những chuyện kỳ lạ ở nước ta, có lẽ có từ đời nhà Trần.
Sau khi Thục Phán diệt được nước Văn Lang của Hùng Vương, Thục Phán lấy tên là An Dương Vương và đổi tên nước thành Âu Lạc và xây thành ở đất Việt Thường. Nhưng vua không thành công trong dự án vì thành nầy đã nhiều lần bị băng lở. Một hôm trên mặt biển hiện lên một con rùa vàng tự xưng sứ Thanh Giang , nói sõi tiếng người và biết về tương lai. Nhờ sự giúp đỡ của rùa nên vua xây thành xong trong nửa tháng sau khi Thanh Giang bày kế giết được con yêu quái Bạch Kê Tinh (một con gà trống tu luyện được nghìn năm thành tinh). Thành nầy rộng hơn ngàn trượng xoán như hình trôn ốc nên được gọi là Loa Thành. Trước khi từ biệt vua thì rùa thần có dặn vua rằng xã tắc an nguy đều do mệnh trời nhưng nếu vua có thể tu đức thì kéo dài được thời vận. Sau đó còn tặng cho vua một cái vuốt để làm lẫy nỏ và để giử thành rồi trở về sông. Nhờ có nỏ thần nầy mà An Dương Vương giử được thành lúc tướng Triệu Đà cử binh sang đánh. Nhưng sau đó bị trúng kế của Triệu Đà mà An Dương Vương mới mất nước về sau khi gả nàng công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, con của Triệu Đà.
Rùa vàng còn giúp vua Lý Thái Tông khôi phục lại ngai vàng sau khi Lý Thái Tổ qua đời. Lý Thái Tông lên ngôi nhưng chưa được bao lâu phải bỏ kinh thành phải ẩn trốn trong một hang động ở Tuyên Quang vì các em của ngài làm phản và tranh giành cướp ngôi (loạn Tam Vương). Rùa vàng hiện lên trong giấc mơ cho ngài biết sẽ giúp ngài lấy lại được ngôi vua. Bởi vậy sau khi dẹp loạn và nhớ đến công ơn của rùa nên vua phong cho rùa tước hiệu là Minh Phúc Đại Vương. Cho đến ngày nay còn thấy có miếu thờ rùa vàng tại làng Nghiêm Sơn ở tỉnh Tuyên Quang.
Rùa vàng còn được nhắc đến thời giặc Minh xâm chiếm nước ta ở đầu thế kỷ 15. Một người tên là Lê Thận có một hôm chài được một thanh gươm và rồi đem tặng thanh gươm nầy cho Lê Lợi sau khi ông theo Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh cùng Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi được giặc Minh, một hôm vua Lê Lợi cưỡi thuyền rồng đi dạo quanh hồ Tả Vọng (nay là Hồ gươm ở Hà Nội) thì tự nhiên giữa hồ nhô lên khỏi mặt nước một con rùa to lớn. Vua thấy lạ nên truyền lệnh cho thuyền đi chậm lại. Rùa không chút chi sợ sệt cả mà ngóng cổ nói: Bê hạ hoàn gươm lại cho ta để ta đem về cho Long quân. Chính Long quân giúp ngài ổn định lấy lại được đất nước. Vua vừa rút thanh gươm ra thì nhanh như chớp rùa hé miệng đớp lấy ngang lưỡi gươm. Rồi rùa lặn xuống nước biến mất. Rùa được xem là cận thần của Lạc Long Quân, người cha của dân tộc Việt trong các truyền thuyết và có nhiệm vụ giúp đỡ luôn luôn các con cháu Việt tộc. Từ đó hồ nầy được lấy tên là Hồ Hoàn Kiếm.
Trong tín ngưỡng dân gian, thường thấy có cặp hạc hay cặp phụng đứng trên lưng mai rùa ở hai bên cạnh án hương trong các chùa và các đình. Đây là một cặp biểu tượng cho sự điều hoà Âm Dương. Còn ở Văn Miếu thì có 82 tượng rùa đội bia tiến sĩ trên lưng. Đây là thể hiện sự trường tồn vì các tên của tiến sĩ được ghi danh từ đời nầy qua đời khác theo thời gian mà còn biểu tựợng cho sức mạnh mà họ có vì họ là hiền tài, là nguyên khí của quốc gia. Không vua nào không xây dựng chăm lo hiền tài vì khi nguyên khí mạnh thì quốc gia mới được thịnh vượng. Còn nguyên khí suy thì nước sẽ yếu.
Rùa được xem là loại động vật rất linh ứng nên người Việt cho rằng rùa thường mang lại sự may mắn cho ai gặp được. Họ hay thường gọi rùa bằng “cụ” và thương hại bản thân của cụ qua câu ca dao như sau:
Thương thay cái kiếp con rùa
Lên đình đội hạc, xuống đình đội bia.
Hiện nay giống rùa khổng lồ nầy được liệt kê như cấp cực kỳ nguy cấp trong sách đỏ IUCN từ năm2006 và được biết với cái tên khoa học là Rafetus swinhoei. Đây là loại rùa mai mềm sống ở sông Dương Tử hay ở sông Hồng. Sau khi cụ rùa ở Hồ Gươm qua đời thì trên thế giới hiện nay còn lại ba cá thể, một con đực già sống ở Trung Quốc và ở Việt Nam một cá thể cái của loài này ở hồ Đồng Mô (Ba Vì) và một cá thể nữa ở hồ Xuân Khanh (Sơn Tây) gần đó. Hy vọng có cơ hội ghép đôi sinh sản theo cơ quan chức năng bảo tồn nếu cá thể ở hồ Xuân Khanh là con đực còn không thì loại nầy sẽ bị tuyệt chủng trong tương lai.
La tortue géante à carapace molle
Dans le trésor de la mythologie vietnamienne, on voit souvent le dieu de la mer se transformer en tortue marine. Cette espèce aquatique géante est rare dans notre pays, en particulier la tortue à carapace molle du fleuve Rouge (sông Hồng) et elle fait partie des quatre animaux au pouvoir surnaturel (dragon, licorne, tortue, phénix). Par rapport aux trois autres animaux, la tortue est le véritable animal existant dans la nature. En outre, elle a une durée de vie plus longue et peut vivre longtemps sans nourriture. C’est pour cela elle est synonyme de l’évasion de la vie trépidante et de la longévité éternelle.
Dans le domaine spirituel, la tortue est considérée comme l’animal symbolique de l’union du ciel et de la terre ou du Yin et du Yang. Son abdomen est tellement plat qu’il représente la terre (Yin) et sa carapace représente le dôme du ciel (Yang). Elle est souvent considérée par les Vietnamiens comme un quadrupède sacré sachant faire des prophéties et elle est sanctifiée dans leur esprit. Celui-ci est l’un des peuples vivant tout près des fleuves et des mers de l’Asie du Sud-est et dans le sud du fleuve Yangzi. C’est pourquoi le chercheur français Jean Przyluski est amené à conclure dans ses études qu’on voit souvent dans leurs légendes, des héros ou des forces sacrées (ou esprits sous la forme des poissons, tortues, reptiles, tortues etc…) issus des eaux, aider les rois à consolider leur nation ou à résister aux envahisseurs.
Par contre on ne trouve pas ces animaux sacrés dans les légendes venant des peuples vivant sur le continent comme la Chine ou l’Inde. C’est pourquoi on constate l’apparition de la tortue deux ou trois fois dans les légendes vietnamiennes. Pour la première fois, la tortue est rapportée dans le livre intitulé « Histoires extraordinaires de Lĩnh Nam » de Trần Thế Pháp écrit en caractères Han et paru probablement à l’époque des Trần.
Après avoir conquis le royaume Văn Lang des rois Hùng, Thục Phán décida de prendre le titre An Dương Vương et décida de construire la citadelle dans le territoire Việt Thường. Mais il ne réussit pas à achever son projet car la citadelle continua à s’éroder à plusieurs reprises. Un jour, à la surface de la mer, apparût une tortue d’or prétendant être l’ambassadeur Thanh Giang. Celui-ci savait parler couramment le langage humain et prédire l’avenir. Le roi réussit à construire la citadelle après que la tortue d’or lui avait suggéré un stratagème pour tuer le monstre Bạch Kê Tinh (un coq blanc réussissant à se métamorphoser en un être humain après mille ans). Cette citadelle était assez large et portait le nom « la citadelle en colimaçon » à cause de la présence de neuf spirales de terre. Avant de dire au revoir au roi, la Tortue d’Or recommanda au roi de gouverner avec sagesse et vertu car cela permit de prolonger son règne. Puis elle lui remit une griffe dont le roi se servait pour faire la gâchette de son arbalète et retourna à la mer.
Grâce à cette arme magique, le roi réussit à garder la citadelle et résister à l’armée d’invasion de Zhao Tuo (ou Triệu Đà). Mais An Dương Vương fut plus tard victime de la ruse de Zhao Tuo et perdit son royaume en acceptant de laisser sa fille Mỵ Nương épouser Trọng Thủy, le fils de son adversaire. La Tortue d’Or aida également le roi Lý Thái Tông à reprendre son trône après la mort de son père, le roi Lý Thái Tổ. Monté sur le trône, Lý Thái Tông dut abandonner bientôt la capitale et se réfugier dans une grotte à Tuyên Quang parce que ses jeunes frères s’étaient révoltés pour lui disputer le trône. La Tortue d’Or fut apparue dans son rêve pour lui faire savoir qu’elle l’aidera à reprendre le trône. Après avoir maté la révolte, le roi se souvint du mérite de la tortue, il n’hésita pas à accorder à cette dernière le titre de « Minh Phúc Đai Vương ». À ce jour, il existe encore le sanctuaire dédié à cette Tortue d’Or dans le village de Nghiêm Sơn de la province de Tuyên Quang.
La tortue d’Or fut mentionnée également lors de l’invasion des Ming (ou Chinois) au début du XVe siècle. Un pêcheur nom de Lê Thân repêcha un jour une épée et la donna à Lê Lợi, le futur roi de la dynastie des Lê postérieurs lors de son soulèvement contre les envahisseurs chinois. Après avoir chassé les Ming, le roi Lê Lợi entama un jour une promenade sur un bateau-dragon autour du lac Tã Vọng (connu aujourd’hui sous le nom « Lac de l’épée restituée »).
Au milieu du lac, une énorme tortue émergea subitement de la surface de l’eau. Le roi trouva étrange cette apparition. Il ordonna à ses subordonnés de ralentir la barque royale. La tortue s’en approcha et lui dit avec sa voix humaine: Seigneur, vous devez me rendre l’épée pour que je puisse la ramener au roi Dragon (*). C’est lui qui vous a donné cette épée pour pacifier le pays. Juste au moment où le roi sortit son épée, la tortue d’or ouvrit sa bouche, la happa d’une rapidité effarante et disparut immédiatement sous l’eau. La tortue d’or est considérée toujours dans les légendes vietnamiennes comme le prétorien du roi Dragon, le père du peuple vietnamien et elle est chargée de veiller à la protection des Vietnamiens. De ce jour, le lac Tã Vọng devient le lac Hồ Hoàn Kiếm (ou le lac de l’épée restituée).
Dans les croyances populaires, on est habitué à trouver une paire de grues ou phénix debout sur le carapace des tortues rangées de chaque côté du brûleur d’encens dans les temples et les maisons communales. C’est un couple d’animaux reflétant le rôle du fonctionnement de l’harmonie du Yin et du Yang. Dans le temple de la littérature (Văn Miếu) à Hanoï, il y a 82 statues de tortues portant les stèles des lauréats sur leur carapace.
C’est une façon d’immortaliser les noms des gens ayant obtenu le titre tiến sĩ (degré de docteur) ainsi que ceux de leurs villages où ils étaient nés car ceux-ci continuent à rester honorés au fil des générations et des années et ils symbolisent la force qu’ils ont car ils sont les hommes de talent et la source de vie de la nation. Aucun roi ne pense à négliger le recrutement de ces hommes de talent car la source jaillissante fait la force d’un pays. Une source tarissant l’affaiblit.
On est habitué à considérer la tortue comme un quadrupède sacré. C’est pourquoi quand quelqu’un a l’occasion de la rencontrer sur le chemin, on dit qu’il est chanceux. On l’appelle sous le nom « Cụ (Oncle) » pour marquer le respect. On prend pitié de son sort à travers l’adage suivant:
Thương thay cái kiếp con rùa
Lên đình đội hạc, xuống đình đội bia.
On ne cesse pas de se lamenter sur le sort de la tortue
Obligée de porter les grues dans les maisons communales et les stèles ailleurs.
Actuellement, cette espèce aquatique géante est classée en danger critique d’extinction sur la liste rouge de l’UICN depuis 2006 et connue sous le nom scientifique « Rafetus swinhoei ». C’est une espèce de tortue à carapace molle vivant dans le fleuve Yanzi (Chine) ou le fleuve Rouge du Vietnam. Après le décès de la tortue du lac de l’épée restituée, il existe actuellement 4 individus dont l’un est très vieux et mâle vivant en Chine, le deuxième (une femelle confirmée grâce à l’analyse du gène) et le troisième (en cours de récupération) sont au lac Đồng Mô (Ba Vì) et le dernier vit dans le lac Xuân Khanh tout proche (Sơn Tây). L’organisme vietnamien chargé de protéger les espèces entretient l’espoir de réaliser la fécondation avec succès si l’individu récupéré au lac Đồng Mô ou Xuân Khanh est un mâle sinon cette espèce sera éteinte dans l’avenir.
Trước khi trở thành khu vườn công cộng được thủ phủ Val de Marne quản lý, vườn hoa hồng L’Hay-les-Roses tọa lạc cách xa Paris 5 cây số về phía nam và từng là lãnh địa riêng tư của một doanh nhân tên là Jules Gravereaux. Để thỏa mãn niềm đam mê hoa hồng, ông không ngần ngại thu thập, sưu tầm và trồng hàng trăm loại giống hoa hồng từ năm 1894 ở vườn rau của mình. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của nhà thiết kế cảnh quan nổi tiếng Édouard André, ông đã thành công trong việc tạo ra khu vườn của mình có được một phong cách hoa viên mới theo kiểu Pháp, trong đó thành phần trang trí chỉ gồm có hoa hồng. Hiện nay, ở trong vườn hoa nầy có gần 3.300 loại hoa hồng trên một diện tích tổng cộng là 1,52 héc-ta.
Avant de devenir le jardin public administré par le département du Val de Marne, la roseraie était l’ancien domaine privé d’un homme d’affaires de nom Jules Gravereaux. Pour assouvir sa passion pour les roses, il n’hésita pas à réunir, collectionner et planter des centaines de variétés de rosiers dès 1894 dans son potager. Puis, grâce à l’aide apportée par le célèbre paysagiste Édouard André, il réussit à donner à son jardin un nouveau style de jardinage à la française où l’élément de décoration est constitué uniquement des rosiers. Il y a actuellement près de 3300 variétés de rosiers sur une surface totale 1,52 hectares.
Galerie des roses
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Nhờ việc nới rộng khu vườn « Clos Normand » và sửa đổi nguồn nước sông Ru, Monet đã thành công tạo cho khu vườn nầy có được một diện tích 1000 m2 và một hình dáng tuyệt vời mà du khách có cơ hội chiêm ngưỡng ngày nay khi đến tham quan Giverny. Năm 1895, ông bắt đầu vẽ khu vườn của mình. Khu nầy không ngừng sung túc và phong phú thêm với các loài cây cỏ mà ông chọn trồng theo ý mình. Nhờ đó, ông thực hiện hơn 250 bức tranh tuyệt vời từ nhiều góc độ nhìn khác nhau. Nhưng các hoa súng vẫn là chủ đề chính và quyén rũ ông đến nổi qua các bức tranh của ông, các cảnh vật chỉ được vẽ sơ sài để nổi bật các hoa súng ưa thích. Khu vườn nầy giúp ông có nguồn cảm hứng vô tận và được xem từ đây như là một tuyệt phẩm nghệ thuật vẹn toàn
Grâce à l’agrandissement du Clos Normand et à la modification du cours d’eau du Ru, Monet réussit à donner à son jardin d’eau couvrant désormais 1000m2 l’aspect actuel que le visiteur a l’occasion de contempler avec admiration lors de sa visite à Giverny. Il se mit à peindre en 1895 son jardin d’eau renouvelé incessamment par de nouvelles plantations et par l’abondance de la végétation choisie avec soin par lui-même. Cela lui permit de réaliser avec ingéniosité un ensemble de plus de 250 tableaux sous de nombreux angles de vue différents. Mais les nymphéas constituent le sujet principal dans ses tableaux et captent son attention si bien que le paysage y est dessiné simplement pour dégager la beauté de ses fleurs préférées. Son jardin d’eau lui donna ainsi une source d’inspiration inépuisable et s’intégra désormais comme une œuvre d’art à part entier.
Thanks to the enlargement of the Clos Normand and the modification of the course of the Ru stream, Monet succeeded in giving his water garden, now covering 1000m2, the current appearance that visitors have the opportunity to admire during their visit to Giverny. He began painting his water garden in 1895, which was continuously renewed by new plantings and the abundance of vegetation carefully chosen by himself. This allowed him to ingeniously create a collection of more than 250 paintings from many different viewpoints. But the water lilies are the main subject in his paintings and capture his attention so much that the landscape is simply drawn to highlight the beauty of his favorite flowers. His water garden thus provided him with an inexhaustible source of inspiration and became, from then on, a work of art in its own right.
Une ballade mémorable dans le jardin de Monet (Giverny, Haute Normandie)
Cùng nhau đi dạo trong vưòn của họa sỹ tài hoa Monet (Giverny)
Hà Nội là gì trong mỗi chúng ta?
Hanoï c’est quoi en chacun de nous?
What is Hanoi in each of us?
Hà Nội là bát bún ngan giản dị ? Là những ghế nhựa ngồi bệ? Là gánh hàng rong với chiếc đòn gánh là cầu Long Biên còn người gánh lại là một cô robot ? Hay là Hànội là… Đây là cuộc thi vẽ minh họa thuộc dự án Hanoi Rethink được tổ chức bởi UNESCO với sự đồng hành của nhóm Vietnam local Artist Group.
Hanoï c’est quoi en chacun de nous ? Hanoï est-elle un simple bouillon de canard aux vermicelles ? Ou ce sont les chaises basses en plastique ? Ou le vendeur ambulant dont la palanche est le pont Long Bien et qui est en fait un robot ? Ou bien Hanoi est … C’est le concours d’illustration appartenant au projet Hanoi Rethink organisé par UNESCO en collaboration avec le groupe Vietnam local Artist.
What is Hanoi in each of us? Is Hanoi just a simple duck broth with vermicelli? Or is it the low plastic chairs? Or the street vendor whose carrying pole is the Long Bien Bridge and who is actually a robot? Or is Hanoi… It is the illustration contest belonging to the Hanoi Rethink project organized by UNESCO in collaboration with the Vietnam Local Artist group.
Từ bao giờ Paris trở thành kinh đô ánh sáng?
Depuis quand, Paris devient-elle la ville lumière?
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Được xem là kinh đô ánh sáng của Âu Châu, Paris đã có nét đẹp lung linh nầy từ bao giờ nhỉ? Qua nhiêu thế kỷ, Paris cũng như các thành phố Âu Châu đều chìm lặn trong bóng tối một khi màn đêm buông xuống khiến làm người qua đường áy náy lo sợ vì thiếu an ninh nhất là với một mùa đông lạnh buốt. Bởi vậy nhà thi sỹ Boileau có nhắc đến vấn đề nầy trong quyển sách ông viết có tựa đề : Les Embarras de Paris vào năm 1666. Chính vì vậy mới có các nhóm người tuần tra đi khắp nẽo đường Paris với các bó đuốc nhưng khó mà kiểm soát được Paris nhất là ở thế kỷ 17 có đến 500.000 cư dân. Thời đó, muốn đi đêm phải có đuốc hay đèn lồng. Các người giàu có thì có người nô bộc dẫn đường với chiếc đèn lồng. Sau đó ở giữa thế kỷ 17 có những người chuyên môn sinh sống với nghề cầm đuốc dẫn đường, họ đón khách ở những nơi có nhà hát hay vũ trường. Mãi cho đến đầu thế kỷ 19 nghề nầy vẫn còn thấy ở Paris. Tuy nhiên những người giàu có hay ngưởi buôn bán vẫn sợ sệt vì đường không được sáng tỏ chi cho lắm.
Trong lúc đó ở Âu Châu thì các thành phố đã có hệ thống đèn đường công cộng với các lồng đèn đốt trước nhà. Dựa trên chỉ dụ của vua mặt trời của Pháp, Louis XIV thì trung tướng cảnh sát La Reynie mới ra chỉ thị bắt buộc các chủ nhà đặt đèn trước nhà khiến nhờ vậy có hơn 2700 đèn lồng được đặt ở 900 đường của thành phố. Đèn nầy được đốt từ tháng mười cho đến tháng ba, từ 6 giờ chiều đến 12 giờ đêm. Từ đó hệ thống đèn đường làm người du khách ngoại quốc đến Paris đều thán phục và say mê nhưng loại đèn lồng nầy dễ bị gió làm tắt ngọn lửa của lồng đèn. Sau đó được thay thế bằng cột đèn đường (réverbère) được sáng tạo bởi người thợ đồng hồ xứ Bourgogne tên là Bourgeois de Châteaublanc để tránh được nạn gió và soi sáng đường xá tỏ hơn đèn lồng. Hiện nay còn thấy các cột đèn nầy ở nhiều nơi sang trọng của Paris như ờ quảng trường Vendôme chẳng hạn hay dọc theo các cầu sông Seine. Chính nhờ vậy một khi hoàng hôn phủ xuống thành phố, thì các đèn đường được đốt lên thưở đầu bằng khí đốt nay thì bằng điện cả khiến Paris đẹp lung linh về đêm.
Étant connue comme la capitale européenne de la lumière, Paris a-t-elle eu depuis quand cette beauté chatoyante? Au fil des siècles, Paris comme tant d’autres villes européennes ont été plongées dans l’obscurité une fois la nuit tombée. Cela faisait peur surtout aux passants en raison du manque de sécurité avec un hiver froid et rude. Le poète Boileau eut l’occasion d’évoquer ce problème dans son livre intitulé « Les Embarras de Paris » en 1666. C’était pourquoi il y avait des groupes de patrouilleurs constitués parcourant les rues de Paris avec des torches ou des lanternes mais malheureusement c’était difficile de contrôler Paris au 17ème siècle avec plus de 500 000 habitants. À cette époque, si on voulait sortir la nuit, il fallait avoir des torches ou des lanternes. Les riches étaient précédés dans leurs pas par un serviteur avec une lanterne. Puis au milieu du XVIIème siècle, il y avait des porteurs de flambeau vivant avec le métier de guide d’éclairage. Ils se postaient devant les lieux connus comme les théâtres et les salles de bal à la recherche des clients. Jusqu’au début du XIXème siècle, ce métier exista encore à Paris. Cependant, les riches ou les commerçants avaient encore peur car les rues n’étaient pas bien éclairées. Pendant ce temps en Europe, les villes avaient déjà possédé un système d’éclairage public avec des lanternes installées devant les maisons.
En se basant sur le décret du Roi Soleil de France, Louis XIV, le lieutenant général de police La Reynie a émis une directive ordonnant aux propriétaires de mettre en place les lanternes sur les façades de leurs maisons. Plus de 2 700 lanternes étaient installées ainsi dans les 900 rues de la ville. Cette lanterne devait être allumée, de 18h jusqu’à minuit, depuis le mois d’octobre jusqu’au mois de mars. Depuis, le système d’éclairage public commença à émerveiller les touristes étrangers lors de leur passage à Paris mais la lanterne s’éteignit facilement au gré du vent. Elle fut remplacée ensuite par le réverbère inventé par un horloger bourguignon de nom Bourgeois de Châteaublanc et ayant pour but d’éviter le vent et d’éclairer mieux encore la rue. Aujourd’hui, ce type de réverbère est encore visible dans de nombreux endroits luxueux à Paris, comme par exemple à la place Vendôme ou le long des ponts traversant la Seine. C’est pourquoi dès le coucher de soleil, les réverbères d’abord allumés autrefois au gaz et maintenant à l’électricité rendent Paris plus chatoyante toute la nuit.
Known as the European capital of light, since when has Paris had this shimmering beauty? Over the centuries, Paris, like many other European cities, was plunged into darkness once night fell. This was especially frightening for passersby due to the lack of security during the cold and harsh winter. The poet Boileau had the opportunity to address this problem in his book titled « Les Embarras de Paris » in 1666. That is why there were groups of patrolmen roaming the streets of Paris with torches or lanterns, but unfortunately, it was difficult to control Paris in the 17th century with more than 500,000 inhabitants. At that time, if one wanted to go out at night, they had to have torches or lanterns. The wealthy were preceded in their steps by a servant carrying a lantern. Then, in the mid-17th century, there were torchbearers living by the trade of lighting guides. They stationed themselves in front of well-known places such as theaters and ballrooms in search of clients. This profession still existed in Paris until the beginning of the 19th century. However, the rich or merchants were still afraid because the streets were not well lit. Meanwhile, in Europe, cities already had a public lighting system with lanterns installed in front of houses.
Based on the decree of the Sun King of France, Louis XIV, the lieutenant general of police La Reynie issued a directive ordering homeowners to install lanterns on the facades of their houses. More than 2,700 lanterns were thus installed in the 900 streets of the city. These lanterns had to be lit from 6 p.m. until midnight, from October to March. Since then, the public lighting system began to amaze foreign tourists during their visits to Paris, but the lanterns easily went out in the wind. They were later replaced by the streetlamp invented by a Burgundian watchmaker named Bourgeois de Châteaublanc, designed to protect against the wind and better illuminate the street. Today, this type of streetlamp is still visible in many luxurious places in Paris, such as Place Vendôme or along the bridges crossing the Seine. That is why, from sunset onwards, the streetlamps—once lit by gas and now by electricity—make Paris shine all night long.
Références bibliographiques:
Alain Cabantous: Histoire de la nuit. XVème-XV IIIème siècle Editeur Fayard, 2009.
Alfonso Lopez : Eclairage public : une lueur dans les villes.
Revue mensuelle: Histoire N°76. Octobre 2021
Back in the capital Hanoi in the summer of 2022, we noticed the disappearance of a significant number of favorite restaurants during the COVID epidemic. However, we managed to find a new restaurant that meets European standards where the Vietnamese cuisine is quite good and has a superb view throughout the night of the famous Đông Kinh Nghĩa Thục square in the heart of Hanoi’s old quarter.
Chiếc váy xoè có hơn 200 xếp ly của người phụ nữ Hmong được xem trong tự điển hiện vật văn hoá các dân tộc Việt Nam là cầu kỳ nhất trong việc trang trí thêu các họa tiết. Tùy theo mỗi nhóm người Hmong (Hmong Hoa, Hmong Đen, Hmong Trắng hay Hmong Đỏ) mà hoa văn họa tiết lại khác nhau. Thường thấy trên váy các chấm tròn xen lẫn đường kẻ thẳng hay là hình hoa lá hoặc hình xoán ốc nhưng các hoa văn họa tiết nầy phản ánh đời sống của người Hmong với thiên nhiên. Váy nầy được may bằng vải lanh nhuộm chàm. Màu nầy là màu căn bản thường được trọng dụng bởi các phụ nữ Hmong trong việc may quần áo. Màu xanh tuyệt vời này tô điểm cuộc sống của họ từ lúc còn bé (6 hay 7 tuổi). Bởi vậy các phụ nữ Hmong được xem là những phụ nữ khéo tay. Những chiếc váy sặc sỡ, những tác phẩm thêu thùa trang nhã và những trang sức tinh xảo làm họ có tiếng tăm ở khắp vùng Đông Nam Á.
Đây cũng là biểu tượng độc đáo của bản sắc dân tộc Hmong. Họ thường được đa số người ở thế giới tiếp tục gọi họ là «dân tộc đa sắc » như chiếc cầu vồng.
Dans le dictionnaire des artefacts culturels des ethnies vietnamiennes, la jupe de la femme Hmong comportant de nombreux plis est considérée toujours comme la plus sophistiquée dans la décoration et la broderie de motifs. En fonction de chaque groupe des Hmong (Hmong fleuri, Hmong Noir, Hmong Blanc ou Hmong Rouge) les modèles de texture sont très variés. On est habitué à voir sur les jupes des points ronds entrecoupés de lignes droites ou de fleurs ou de spirales, mais ces motifs de texture reflètent bien la vie des Hmong avec la nature.
Cette jupe est en lin et teint à l’indigo. Cette couleur est la couleur primaire couramment utilisée par les femmes Hmong dans la confection de leurs vêtements. Cette superbe bleu indigo colore bien leur vie depuis leur enfance. (6 ou 7 ans). C’est pour cette raison qu’on dit qu’elles ont la main bleue. Les jupes bigarrées, les broderies élégantes et les bijoux fins font incontestablement leur réputation à travers l’Asie du Sud -Est.
C’est aussi le symbole unique de leur identité. Les Hmong sont toujours appelés par la majorité des gens dans le monde sous la dénomination « peuple-arc-en-ciel »
In the dictionary of cultural artifacts of Vietnamese ethnic groups, the Hmong woman’s skirt, featuring many pleats, is always considered the most sophisticated in decoration and embroidery of patterns. Depending on each Hmong group (Flower Hmong, Black Hmong, White Hmong, or Red Hmong), the texture patterns are very varied. We are used to seeing round dots on the skirts interrupted by straight lines or flowers or spirals, but these texture patterns truly reflect the life of the Hmong with nature.
This skirt is made of linen and dyed with indigo. This color is the primary color commonly used by Hmong women in making their clothes. This beautiful indigo blue colors their life well from childhood (6 or 7 years old). That is why it is said that they have a blue hand. The multicolored skirts, elegant embroidery, and fine jewelry undoubtedly make their reputation throughout Southeast Asia.
It is also the unique symbol of their identity. The Hmong are still called by the majority of people worldwide the « rainbow people. »
Hổ trong mỹ thuật cổ Việt Nam
The tiger in ancient Vietnamese art
Đối với đại đa số người Việt, hổ là một con vật đáng kính sợ. Vì sợ hổ trả thù nên họ dành cho hổ những dấu hiệu tôn thờ qua những ngôi miếu dành riêng cho hổ hay thường thấy được nằm rải rác ở khắp khu rừng sâu thẩm ở miền núi. Đến nay còn thấy nhiều dân tộc ở miền núi còn thờ hổ. Có thể có liên quan đến tín ngưỡng vạn vật hữu linh của cư dân thưở xưa. Ngoài sức manh uy phong lẫm liệt của hổ, nó còn thường được xem là con vật có khả năng nghe lén các cuộc đàm thoại của họ. Vì vậy hổ được gọi là ông thính. Để tránh gọi tên hổ, người dân Việt hay thường ám chỉ hổ với cái tên là « ông ba mươi ».
Ngay cả trước khi giết hổ sau khi bắt được nó, họ cũng không quên bày tỏ lòng tôn kính lần cuối bằng cách tổ chức một buổi nghi lễ trước đó. Họ thường so sánh họ với hổ qua câu châm ngôn như sau:
Hùm chết để da, người chết để tiếng.
Rất tiếc ngày nay hổ ở Đông Dương không còn nhiều nữa và đang ở trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng vì các bộ phận của hổ được dùng làm thuốc đông y, được bán với giá cao trên thị trường chợ đen, giá 100 gram cao hổ cốt bán tới 1.000 đôla.
Sự xuất hiện hình ảnh hổ trong nghệ thuật cổ được thấy từ thời kỳ Đồng Sơn qua các chuôi dao gâm thường được kết hợp với voi hay rắn được thấy ở di chỉ Làng Vạc ở Nghệ An chẵng hạn hay các thạp đồng như thạp VạnThắng (Cẩm Xuyên, Phú Thọ). Thạp nầy được trưng bày ở bảo tàng lịch sử quốc gia với bốn tượng hổ cập mồi rất sinh động quay vòng trên nấp thạp hay chiếc qua đồng có hình hổ được khắc hai mặt với những chấm trên thân được nhà khảo cứu Pháp Louis Pajot sưu tầm và đưa về trưng bày ở bảo tàng Finot (nay là bảo tàng lịch sử quốc gia ở Hànội). Ngoài ra còn có các hình hổ trang trí bằng họa tiết chìm. Điều nầy thể hiện được nghệ thuật điêu khắc và trang trí của người Đồng Sơn mang tính tả thực và ước lệ. So với các hình ảnh rồng, phượng, hưu, cá, vịt vân vân thì hình ảnh hổ rất hiếm hoi trên đồ gốm. Tuy nhiên thạp gốm hoa nâu nổi tiếng nhất là thạp hoa nâu khắc hình ba con hổ đuổi nhau được thấy ở bảo tàng Guimet (Paris).
Những hình hổ được thấy ngày nay không còn mang ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng hay sợ hải nữa mà chỉ dùng để thể hiện sự phong phú đa dạng trong việc trang trí trên các đồ gốm hay tạo ra bằng đá nhầm để lại một dấu ấn riêng biệt theo sở thích của người đặt mua hàng.
Pour la grande majorité des Vietnamiens, le tigre est un animal redoutable. Par peur de vengeance, ils donnent aux tigres des signes d’adoration à travers des temples dédiés aux tigres, souvent dispersés dans la forêt profonde des montagnes. Jusqu’à présent, de nombreux groupes ethniques des régions montagneuses vénèrent encore les tigres. Cela peut être lié aux croyances animistes des anciens habitants. Outre la force imposante et majestueuse du tigre, il est aussi souvent considéré comme un animal capable d’écouter leurs conversations, ce qui fait de lui connu sous le nom « Monsieur l’écouteur (Ông thính) ». Pour éviter de l’appeler sous son propre nom « Hổ ou cọp), les Vietnamiens se réfèrent aux tigres avec le nom « Monsieur Trente ». Avant même de le tuer après l’avoir attrapé, ils n’ont pas oublié de lui rendre un dernier hommage en lui organisant au préalable un rituel. Ils se comparent souvent aux tigres à travers le proverbe suivant:
Le tigre mort laisse sa peau et l’homme décédé sa réputation.
Malheureusement, il n’y a pas beaucoup de tigres en Indochine aujourd’hui. Ces derniers sont en voie d’extinction car toutes les organes de leur corps sont utilisés dans la médecine traditionnelle chinoise et sont vendues à prix d’or sur le marché noir. C’est le cas de la poudre issue d’os de tigre et proposée avec un prix élevé de 100 grammes à 1 000 dollars.
On voit apparaître les images des tigres souvent associées à des éléphants ou des serpents dans l’art ancien à l’époque de Đồng Sơn, sur les lames des poignards trouvés sur le site de Làng Vạc à Nghệ An par exemple, ou bien des situles en bronze comme la situle Vạn Thắng. (Cẩm Xuyên, Phú Thọ). Cette dernière est exposée au musée national de l’histoire avec quatre blocs de statues de tigres capturant la proie et répartis de manière circulaire sur le couvercle de la situle ou la hache en bronze (qua đồng) recueillie par le chercheur français Louis Pajot qui a eu le mérite de l’offrir au musée Finot (*). On trouve l’image d’un tigre gravée sur les deux faces de la hache avec des points. Il existe également des images de tigre décorées de motifs en creux. Cela montre que l’art de la sculpture et de la décoration du peuple dôngsonien est réaliste et conventionnel. Comparées aux figures de dragons, de phénix, de cerfs, de poissons, de canards etc., celles des tigres sont très rares sur la céramique. Pourtant le vase à glaçure brune le plus célèbre est celui de trois tigres dans la poursuite, trouvé au musée Guimet (Paris). Les images des tigres vues aujourd’hui ne reflètent plus le caractère spirituel, religieux ou de peur. Elles sont utilisées uniquement dans le but de montrer la richesse et la diversité de la décoration dans la céramique ou dans la pierre et de laisser ainsi une marque particulière selon le goût et les préférences de l’acheteur.
(*) C’est le musée national de l’histoire de Hanoï.
For the vast majority of Vietnamese people, the tiger is a formidable animal. Out of fear of revenge, they show signs of worship to tigers through temples dedicated to tigers, often scattered deep in the mountain forests. To this day, many ethnic groups in mountainous regions still venerate tigers. This may be related to the animist beliefs of the ancient inhabitants. Besides the imposing and majestic strength of the tiger, it is also often considered an animal capable of listening to their conversations, which is why it is known as « Mr. Listener (Ông thính). » To avoid calling it by its own name « Hổ or cọp, » the Vietnamese refer to tigers as « Mr. Thirty. » Even before killing it after catching it, they do not forget to pay it a last tribute by organizing a ritual in advance. They often compare themselves to tigers through the following proverb:
The dead tiger leaves its skin and the deceased man his reputation.
Unfortunately, there are not many tigers in Indochina today. They are endangered because all the organs of their bodies are used in traditional Chinese medicine and are sold at exorbitant prices on the black market. This is the case with powder made from tiger bones, which is offered at a high price of $1,000 per 100 grams.
Images of tigers often appear alongside elephants or snakes in ancient art from the Đông Sơn period, such as on the blades of daggers found at the Làng Vạc site in Nghệ An, or on bronze situlas like the Vạn Thắng situla (Cẩm Xuyên, Phú Thọ). The latter is exhibited at the National History Museum along with four blocks of tiger statues capturing prey, arranged in a circular manner on the lid of the situla, or the bronze axe (qua đồng) collected by the French researcher Louis Pajot, who had the merit of donating it to the Finot Museum (*). The image of a tiger is engraved on both sides of the axe with dots. There are also images of tigers decorated with incised patterns.This shows that the art of sculpture and decoration of the Đông Sơn people is realistic and conventional. Compared to figures of dragons, phoenixes, deer, fish, ducks, etc., those of tigers are very rare on ceramics. However, the most famous brown-glazed vase is the one with three tigers in pursuit, found at the Guimet Museum (Paris). The images of tigers seen today no longer reflect spiritual, religious, or fearsome characteristics. They are used solely to showcase the richness and diversity of decoration in ceramics or stone and thus leave a particular mark according to the taste and preferences of the buyer.
(*) This is the National Museum of History in Hanoi.