Singapour (Tân Gia Ba)

Tân Gia Ba

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nói đến Singapore  thì không thể nào không nhắc đến ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew). Chính nhờ ông mà Singapore, một đất nước chỉ vỏn vẹn 640 km2 cùng 5 triệu dân trở thành ngày nay một cường quốc kinh tế ở châu Á. Trước đó ở thời kỳ Singapour chưa có độc lập còn nằm  trong liên bang Mã Lai  thì chỉ là một trạm trung chuyển hàng hóa và mậu dịch do người Anh, Sir Thomas Stamford Rafles lập ra có 200 năm qua công ty Đông Ấn (East India) sau khi ông nầy thuyết phục được vua Johor nhường lại mãnh đất nầy cho Anh quốc (1819). Vì bất đồng quan điểm chính trị với chính phủ liên bang, Singapore bị trục xuất ra khỏi liên bang vào năm 1965. Trong những năm đầu độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều vấn đề như nạn thất nghiệp, hoà giải dân tộc vì Singapore là một quốc gia có sắc tộc đa dạng (nguời Hoa, người Ấn, người Mã Lai, người Âu Á), tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, một nền kinh tế nhược tiểu dựa lúc đầu trên các ngành sản xuất đã có ở trên đảo và đến từ các nguồn nhu cầu của các đồn quân trú người Anh  vân vân …

Thế mà nhờ tâm huyết của ông, cái nhìn sâu sắc của một nhà lãnh đạo yêu nước về vị trí quan trọng chiến lược của Singapore,  lòng tin cậy của người dân, Lý Quang Diệu đã thành công giải quyết từng vấn đề bức thiết và lúc nào cũng xem thương mại và dịch vụ là hai yếu tố chính trong sự nghiệp phát triển của Singapore. Hiện nay, Singapore được xem là một cảng lớn nhất trên thế giới vì nó thu hút hàng chục công ty giao dịch hàng hóa toàn cầu và kết nối qua các tuyến đường biển với thị trường Trung Quốc. Singapour trở thành trong những năm gần đây một quốc gia xanh, một đất nước có một môi trường sống sạch sẽ. Chổ nào có một tí đất trống là có vườn, có cây. Đến đây,  du khách  sẻ thoả mái đường xá sạch sẽ không bị ô nhiễm   nhưng phải cẩn thận  cần phải biết nhiều những điều cấm kỵ: xả rác, khạc nhổ trên đường và nơi công cộng, ăn uống trên tàu điện ngầm, nhay kẹo cao su, đi tiểu mà không giật nước bồn cầu   vân vân bị phạt dưới hình thức tài chánh đôi khi còn bị trục xuất nếu còn tiếp diễn, ăn buffet lấy nhiều mà ăn bỏ mứa không hết phải trả tiền nhé.

Có dịp đến Singapore, tớ chỉ nhớ đến một đất nước có kỷ luật rất nghiêm khắc, một quốc gia ít tham nhũng như ở các nước Bắc Âu (Pays Nordiques) theo khảo sát của TI (Transparency International) vì có chính sách giám sát chặt chẽ để đãm bảo tính minh bạch trong hệ thống quan chức nhà nước chớ các điểm vui chơi ở  đảo Sentosa thì tớ cũng thấy có ở các quốc gia khác như Mỹ và Âu Châu mà thôi.  Có đến thì cũng có học hỏi ít nhiều về đất nước nhỏ bé nầy.

Version française

Quand on évoque Singapore, on ne peut pas ignorer Lee Kuan Yew. C’est grâce à lui que le pays dont la superficie n’est que de 640 km2 avec une population de 5 millions d’habitants devient aujourd’hui une puissance économique en Asie. À l’époque où Singapore n’avait pas encore l’indépendance et faisait partie de la fédération de Malaisie, Singapore n’était qu’un hub de transport maritime et commercial que Sir Thomas Stamford Rafles, un Anglais de renom a crée il y a 200 ans par l’intermédiaire de la compagnie britannique des Indes orientales (East India) après avoir réussi de convaincre le sultan de Johor de lui céder ce petit bout de territoire en 1819. À cause du différend politique avec la fédération malaise, Singapore fut exclu de cette dernière en 1965. Durant les premières années de son existence en tant qu’un état indépendant, Singapore dut affronter un tas de problèmes comme le chômage d’une population non qualifiée, la nécessité d’une réconciliation nationale  due à la présence d’une population multi-ethnique (Chinois, Indiens, Malais, Européens etc.), le manque de ressources naturelles, la faiblesse d’une économie basée essentiellement sur la production industrielle locale liée en grande partie aux besoins des garnisons britanniques et malaises etc.

Pourtant  grâce à la constance de son implication et de son dévouement, la vision d’un dirigeant patriote sur la position stratégique de Singapore et la confiance de son peuple, Lee Kuan Yew réussît à résoudre progressivement tous les problèmes recensés et à considérer toujours le commerce et les services comme  les deux éléments majeurs dans le développement de la prospérité de l’île. Aujourd’hui, Singapore est considéré comme l’un des plus grands ports de commerce mondiaux car il héberge des dizaines de sociétés de commerce mondiales et il établit des liens avec toutes les routes maritimes pour accéder au marché chinois. Singapore se distingue depuis quelques années comme  la  cité verte la plus durable de l’Asie et revendique son attachement à un cadre de vie  dans un environnement à la fois propre et écologique.  La verdure est omniprésente partout à Singapore. En venant ici, le touriste se sent plus satisfait  car les rues sont propres et la pollution est moindre qu’ailleurs. Mais il doit connaître une série d’interdits : jeter quoi que ce soit par terre, cracher par terre, manger dans le tramway, mâcher ou porter sur soi le chewing gum, quitter la toilette sans tirer la chasse d’eau  etc. Il sera verbalisé toute de suite avec une forte amende. En cas de récidive, il pourra  être expulsé et interdit de séjourner à Singapore. Pour un buffet à volonté, il faut manger tout ce qui est pris dans l’assiette  sinon il faut payer ce qu’on n’arrive pas à finir.

Ayant eu l’occasion de venir à Singapore, je rappelle que c’est un pays où la sévérité de la loi est implacable. Selon TI (Transparency International),  la corruption y est moindre comme les pays nordiques dans la mesure où il y a une politique de contrôle très sévère, claire et transparente sur les dirigeants du pays. Par contre, les jeux et les divertissements à  l’île Sentosa n’ont rien de spécial, on peut les trouver ailleurs (USA  et Europe). Malgré cela, il me paraît utile quand même car mon séjour m’a permis de mieux connaître la Suisse de l’Asie.

Version anglaise

When Singapore is mentioned, one cannot ignore Lee Kuan Yew. It is thanks to him that the country, which has an area of only 640 km2 with a population of 5 million inhabitants, has become today an economic power in Asia. At the time when Singapore was not yet independent and was part of the Malaysian federation, Singapore was only a maritime and commercial transport hub that Sir Thomas Stamford Raffles, a renowned Englishman, created 200 years ago through the British East India Company after successfully convincing the Sultan of Johor to cede this small piece of territory to him in 1819. Due to political disputes with the Malaysian federation, Singapore was expelled from it in 1965. During the first years of its existence as an independent state, Singapore had to face a host of problems such as unemployment among an unskilled population, the need for national reconciliation due to the presence of a multi-ethnic population (Chinese, Indians, Malays, Europeans, etc.), the lack of natural resources, the weakness of an economy essentially based on local industrial production largely linked to the needs of British and Malaysian garrisons, etc.

Yet thanks to the consistency of his involvement and dedication, the vision of a patriotic leader on Singapore’s strategic position and the trust of its people, Lee Kuan Yew gradually managed to solve all the identified problems and always considered trade and services as the two major elements in the development of the island’s prosperity. Today, Singapore is considered one of the largest global trading ports as it hosts dozens of global trading companies and establishes links with all maritime routes to access the Chinese market. For several years, Singapore has stood out as the most sustainable green city in Asia and claims its commitment to a living environment that is both clean and ecological. Greenery is omnipresent everywhere in Singapore. When coming here, the tourist feels more satisfied because the streets are clean and pollution is lower than elsewhere. But they must know a series of prohibitions: throwing anything on the ground, spitting on the ground, eating on the tram, chewing or carrying chewing gum, leaving the toilet without flushing, etc. They will be fined immediately with a heavy penalty. In case of repeat offense, they may be expelled and banned from staying in Singapore. For an all-you-can-eat buffet, you must eat everything taken on the plate; otherwise, you have to pay for what you cannot finish.

Having had the opportunity to come to Singapore, I recall that it is a country where the severity of the law is relentless. According to TI (Transparency International), corruption is lower there, like in the Nordic countries, because there is a very strict, clear, and transparent control policy over the country’s leaders. On the other hand, the games and entertainment on Sentosa Island are nothing special; they can be found elsewhere (USA and Europe). Despite this, it still seems useful to me because my stay allowed me to better understand the Switzerland of Asia.

Galerie des photos

singapore
« of 2 »

[Return PAYS DE L’ASIE DU SUD EST]

Architecture du Laos (Kiến trúc của Ai Lao)

Architecture du Laos 

 

Version anglaise
Version vietnamienne
Galerie des photos

Malgré une influence notable provenant des Thai et des Cambodgiens, l’architecture du Laos a quand même son caractère original à travers ses pagodes célèbres trouvées à Luang Pra Bang et Vientiane. On trouve partout au Laos des pagodes, ce qui me donne la conviction que les Laotiens ont la ferveur bouddhique et sont orientés toujours vers la spiritualité. Les Laotiens sont de nature très pacifique. Lors de mon séjour au Laos, je n’étais jamais inquiet de rentrer tardivement le soir comme au Vietnam.

Despite a notable influence from the Thai and Cambodians, the architecture of Laos still has its original character through its famous pagodas found in Luang Prabang and Vientiane. Pagodas are found everywhere in Laos, which convinces me that the Laotians have a Buddhist fervor and are always oriented towards spirituality. Laotians are naturally very peaceful. During my stay in Laos, I was never worried about returning late at night as I was in Vietnam.

Kiến trúc ở Lào có cái đặc trưng của nó nhất là qua các chùa chiền nổi tiếng ở Luang Prabang hay Vientiane dù nó có ảnh hưởng ít nhiều của người Thái và người Cao miên. Ở Lào, ở đâu, cũng thấy chùa chiền cả khiến mình có thể nhận định rằng người Lào rất trọng đạo Phật và sống nhiều về tâm linh lắm. Người dân cũng hiền hoà. Lúc mình đến đây trong thời gian du lịch, không bao giờ mình cảnh giác lo sợ đi chơi về khuya như ở Việt Nam.

Kiến Trúc Ai Lao

archi_laos

[Retour LAOS]

  

Old Las Vegas (Trung tâm củ Las Vegas)

Version anglaise
Version vietnamienne
Galerie des photos

De passage à Las Vegas, les touristes ont l’habitude de visiter «Strip» ou bien le boulevard de Las Vegas, une longue avenue de 5 kilomètres connue dans le monde entier pour ses gratte-ciel comme Wynn, Bellagio, Venitian etc. Peu de gens connaissent le centre historique de Las Vegas qui est loin de quelques kilomètres de Strip et qui n’est pas tellement accessible pour ceux qui n’ont pas les moyens de transport, en particulier la voiture. C’est à cet endroit que le touriste a l’occasion de connaître le début de construction de Las Vegas.

Ici la plupart des visiteurs rencontrés sont des Américains de taille impressionnante y comprises les femmes (plus de 100 kilos). Ici, il n’y a pas des méga casinos hôtels comme à Strip. Le jour où j’étais à Las Vegas avec mon ami, j’étais tellement séduit par l’exhibition des anciennes voitures américaines que je n’accordais aucune importance à l’histoire de Las Vegas. C’est pour cela que je n’ai pas pris beaucoup de photos sur ce centre historique. Mais c’est intéressant quand même pour ceux qui veulent connaître entièrement l’enfer resplendissant de Las Vegas. Un lieu à ne pas manquer si on a l’occasion de visiter Las Vegas.

Galerie des photos

old las vegas

Old Las Vegas

Đến Las Vegas, các du khách thường chỉ biết tham quan Strip tức là đại lộ Las Vegas, một con đường giao thông dài có gần 5 cây số mà được thế giới biết đến vì dọc theo đường có những khách sạn chọc trời như Wynn, Bellagio, Venitian vân vân. … Ít ai biết đến Old Las Vegas vì nó ở cách xa đó mấy cây số, đường đi cũng khó khăn nếu không có phương tiện đi xe. Chính ở nơi nầy du khách sẻ tìm thấy lại trung tâm củ lịch sử của Las Vegas. Chính nhờ bạn mình mà mình mới biết nơi nầy. Nó không có hoành tráng và lộng lẫy như Strip nhưng nó còn giữ nét thô sơ mộc mạc của buổi ban đầu thành lập Las Vegas.

Nơi đây rất ít ngoại quốc mà rất đông người Mỹ, vóc dáng nhìn cũng khủng khiếp ít nhất cũng hơn 100 kí từ đàn ông đến đàn bà. Nơi nầy cũng có các sòng bài nhưng không có sang trọng bằng ở Strip. Hôm tớ đến mãi mê cuộc triển lảm xe cổ Mỹ nên chỉ lo chụp các xe xưa nên ít có chú trọng nhiều về nơi nầy nhưng cũng là một nơi nên biết lắm nếu ai muốn biết trọn vẹn về địa ngục rực rỡ của Las Vegas.

Passing through Las Vegas, tourists are accustomed to visiting the « Strip » or the Las Vegas Boulevard, a long 5-kilometer avenue known worldwide for its skyscrapers like Wynn, Bellagio, Venetian, etc. Few people know the historic center of Las Vegas, which is a few kilometers away from the Strip and is not very accessible for those without means of transportation, especially a car. It is in this place that tourists have the opportunity to learn about the beginnings of Las Vegas’ construction.

Here, most of the visitors encountered are impressively large Americans, including women (over 100 kilos). Here, there are no mega casino hotels like on the Strip. The day I was in Las Vegas with my friend, I was so captivated by the display of old American cars that I paid no attention to the history of Las Vegas. That is why I did not take many photos of this historic center. But it is still interesting for those who want to fully understand the dazzling hell of Las Vegas. A place not to be missed if you have the chance to visit Las Vegas.

Galerie des photos
old las vegas

Toronto (Capitale de l’Ontario)

 

Version vietnamienne

Toronto n’est pas non seulement l’une des grandes villes du Canada mais elle est aussi la capitale de la province Ontario. Au moment de notre passage au quartier chinois , la brume matinale envahit de loin la tour célèbre CN connue comme la plus haute tour du monde de 1975 à 2007. Elle est devancée aujourd’hui par la tour Burj Khalifa de Dubai et la tour de télévision et de tourisme de Canton. Malgré cela, elle reste l’un des attraits touristiques canadiens avec 2 millions de visiteurs par an et l’un des symboles importants du Canada. Comme dans d’autres lieux, la ville Toronto possède aussi un quartier chinois qui est moins animé qu’à Paris, les gens étant plus calmes. La vie locale paraît plus agréable et moins stressée qu’à Paris. À cause de la brume matinale, il nous est interdit de monter jusqu’au sommet de la tour CN pour pouvoir faire une photo panoramique sur la ville. C’est dommage pour moi mais il vaut mieux se contenter de ce qu’on a et faire quelques photos car je sais que je ne reviens pas car j’ai d’autres endroits à visiter. Ce qui compte pour moi c’est d’être ensemble avec deux amis d’enfance à l’époque où nous étions âgés de 7 ou 8 ans à l’école et partager tout ce qu’on a de la bouffe jusqu’aux histoires drôles durant le séjour au Canada lorsque nous venons de loin, de trois pays différents (France, USA et Canada). C’est une chance unique d’avoir ce moment de bonheur et de joie dans la vie.

Toronto

Version vietnamienne

Toronto không những là một trong các thành phố đông dân nhất của Gia Nã Đại mà còn là thủ đô của tỉnh Ontario. Hôm đến tham quan sáng sớm thành phố bị sương mù dày đặc buông xuống che khuất từ đằng xa tháp CN khi lúc tụi nầy ở khu tàu, một ngọn tháp nổi tiếng là cao nhất ở thế giới từ năm 1975 đến năm 2007 nay bị vượt qua bỡi tháp Burj Khalifa (Dubai) và tháp truyền hình và du lịch của Quảng Châu. Tuy nhiên nó vẫn thu hút khoảng 2 triệu khác một năm và là một biểu tượng quan trọng của Canada. Cũng như mọi nơi, Toronto cũng có một khu tàu nhưng nó không có đông đúc như ở Paris, người dân cũng trầm lặng không có ồn ào. Cuộc sống cũng thấy có phần thỏa mái nhiều hơn Paris, cũng có tramway. Vì sương mù phủ xuống tháp CN tụi nầy không được lên ngọn tháp CN chụp toàn cảnh của Toronto. Rất tiếc nhưng thôi có chi thì cứ chụp nhất là mình biết sẻ không trở lại nhưng rất vui là lúc nào ba anh em quen biết từ thưở nhỏ chia sẻ cùng nhau từ các chuyện vui đến các thức ăn nhất là đến từ ba quốc gia khác nhau (Pháp, Mỹ và Gia Nã Đại), đây là cái duyên hy hữu trong cuộc sống.

 

Tự Đức (Empereur Tự Đức)


tuduc

Hồng Nhậm

(1847-1883)

Tôn kính một hoàng đế thi sĩ qua 4 câu thơ lục bát:

Ngậm ngùi thương xót phận mình
Làm vua chẳng có quang vinh chút gì
Thực dân chiếm đất ở lì
Trẩm đây buồn tủi, sử thì kết oan

Version française
Version anglaise

Là ông vua thứ tư  của triều Nguyễn, ông có tên là Hồng Nhậm khi ông còn là một hoàng tử. Ông là con thứ hai của vua Thiệu Trị và được vua Thiệu Trị đổi ý chọn làm người nối ngôi vua trong di chúc thay vì thái tử Hồng Bảo bị vua xem như người chỉ biết ham vui chơi bời. Hồng Bảo phẫn uất thổ huyết nằm giữa cung điện khi lúc làm lễ  đăng quang cho Hồng Nhậm (Tự Đức). Sau đó Hồng Bảo bị mang tội thông đồng với các cha cố đạo Tây Phương âm mưu đảo chánh Tự Đức và bị giết trong tù khiến vua Tự Đức cũng bị chỉ trích ít nhiều về sau qua các bài thơ của các quan triều đình. Vua thiếu lòng cao thượng mà Tào Phi con trưởng của Tào Tháo dành cho em Tào Thực, một nhà thi sĩ lỗi lạc ở thời Tam Quốc trong lúc tranh giành quyền lực. Đây là trường hợp của danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh. Một ngày, khi  lúc dùng cơm vua bi lưỡi cọ với  răng nên đau,  liền có ý tưởng chọn cho chủ đề thơ là «chấn thương bởi răng » và ra lệnh cho quân thần làm thơ với chủ đề tài nầy.   Lợi dụng thời cơ nầy, Nguyễn Hàm Ninh mới ngỏ lời cùng vua qua bốn câu thơ như sau:

Ta ra đời trước chú chưa sinh
Chú phận làm em, ta phận anh
Ngọt bùi sao chẳng cùng san sẽ
Mà nỡ đau thương cốt nhục tình?

Nguyễn Hàm Ninh  được vua khen thưởng nhờ có tài năng phi thường với một số lượng vàng không ít  nhưng đồng thời ông cũng nhận được cho mỗi câu thơ sáng tác của ông một roi vì mỗi câu đều có ý nghĩa và sâu sắc. Tự Đức là một đai thi sĩ của thời ông. Đó là lý do tại sao ông có một sỡ thích không thể chối cải được là ông rất trọng các nhà thơ vĩ đại trong thời đại của ông. Họ được đánh giá rất cao với giá trị thực sự của họ ngay cả quyền lực luôn cả lòng tự trọng của Tự Đức đôi khi có thể bị coi thường bởi những lời chỉ trích mạnh mẽ và gay gắt từ những người có tính cách độc lập như Cao Bá Quát. Ông nầy không ngừng chế nhạo vua  nhiều lần trước mặt bá quan nhưng vua không ngần ngại khen ngơi khi Cao Bá Quát đã thành công trong việc thể hiện lại được cách nói đối ngẫu của vua bằng cách dựa trên lời nói đưa ra của vua qua  một trò chơi chữ khéo léo. Lợi dụng sự hiện diện của Cao Bá Quát, vua Tự Đức mới ra câu đối như sau: 

Nhất bào song sinh, nan vi huynh, nan vi đệ
Một bọc sinh đôi, khó làm anh, khó làm em.

Vì vua muốn nhắc lại là Cao Bá Quát có một người anh sinh đôi là Cao Bá Đạt, hai anh em giống nhau, khó mà phân biệt được ai là anh ai là em. Cao Bá Quát trả lại ngay câu đối như sau:

Thiên tài thất ngộ, hữu thi quân, hữu thi thần
Nghìn năm gặp một, có vua ấy có tôi ấy

để nhắc lại với Tự Đức  có một vua đa tài thì cũng có một tôi tớ rất giỏi giang. Tự Đức không vui chi cho mấy vì ông biết Cao Bá Quát muốn trêu ông qua câu ca dao ‘Vỏ quýt dày, móng tay nhọn’ đấy. Một lần khi đi qua cửa của điện Cần Chánh, Cao Bá Quát không  hài lòng khi thấy treo hai câu đối ngẫu của vua Tự Đức:

Tử năng thừa phụ nghiệp
Thần khả báo quân ân.

Vua Tự Đức thấy vậy mới hỏi vì lý do gì mà Cao Bá Quát không vui. Chữ ‘Tử’ không thể đứng trước chữ ‘phụ’.  Luôn cả chữ ‘Thần’ không thể đứng trước được chữ ‘quân’ vì thể thức viết nó không phù hợp với tôn ti thứ tự. Tự Đức bảo Cao Bá Quát sửa lại sự sai lầm nầy. Cao Bá Quát mới đáp lại với hai câu đối như sau:

Quân Ân, thần khả báo
Phu nghiệp, tử năng thừa.

Dù có một tâm hồn lãng mạn và có khí chất ốm yếu, Tự Đức là một hoàng đế ít biết đến sự thư thản và bình tâm suốt thời kỳ ông ngự trị. Ông không những phải đối đầu với sự bành trướng của   chủ nghĩa tư bản của phương tây mà còn dẹp các cuộc biến loạn trong nước như việc loại trừ Hồng Bảo và vây cánh, giặc Châu Chấu do Cao Bá Quát cầm đầu vân vân….Chuyện mất 6 tỉnh ở Nam Bộ lúc nào cũng ám ảnh ông và làm ông buồn rầu triền miên vì ông là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại Nguyễn có phần trọng trách để mất đi một phần đất của Vietnam cho ngoại bang nhất là mãnh đất  của quê mẹ của ông. Chuyện ông không có con vì ông bị bệnh đầu mùa  từ thưở nhỏ và nhất là sự tự sát của sĩ phu Phan Thanh Giản, tổng trấn của các tỉnh miền tây Nam Bộ khiến làm ông lúc nào cũng có  tâm tư buồn bã và khiến ông thường tìm nơi ẩn dật qua các nhà thủy tạ màu đỏ Du Khiêm Xung Khiêm mà nay trở thành những nơi du khách ngoại quốc và Việtnam rất thích khi có dịp đến tham quan các lăng mộ ở Huế. Chính ở nơi nầy vua Tự Đức có làm ra rất nhiều bài thơ nhưng nổi tiếng vẫn là bài thơ “Khóc Bằng Phi” với hai câu thơ để đời khi nhắc đến:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi

Ông là một đứa con hiếu thảo thường có mẹ bao bọc đó là bà thái hậu Từ Dũ. Ông thường xem xét và chú ý đến những gì mẹ của ông đề nghị. Một hôm, qua vở kich Trung Hoa “Đường Chinh Tây”, bà Từ Dũ bị sốc khi thấy nữ anh hung Phàn Lê Huê giết cha. Để làm vui lòng mẹ, ông buộc lòng truyền lệnh cho quan trọng trách lo các trò giải trí sửa đổi trọn vẹn nội dung lại để tránh màn thảm kịch nầy đi ngược lại với tinh thần Khổng giáo. Chuyện khai phục chức Hàn Lâm Viện điển tịch cho sĩ phu Phạm Phú Thứ cũng có liên quan đến sự qưở trách mà Từ Đức nhận được từ bà thái hậu Từ Dũ. Chính Phạm Phú Thứ dân sớ lên cho Tự Đức chỉ trích và hặc cái tính lười biếng của vua Tự Đức  nhất là vua thường bãi bỏ các buổi thiết triều quan trọng và không  giải quyết các đơn thỉnh cầu từ khi ông lên làm vua. Mặc dầu bị mang tội phạm thượng khi quân, Phạm Phú Thứ không bị sa thải mà trở thành một đại thần nổi tiếng dưới thời Tự Đức. Vì bị ảnh hưởng quá lớn của  nhóm quan lại nho giáo, Tự Đức không thể cải cách kịp thời và bất chấp những lời cảnh báo và ghi nhớ thảm hại của học giả yêu nước Nguyễn Trường Tộ. Ông không tận dụng những cơ hội thuận lợi để đưa Viêtnam trên con đường hiện đại mà còn chìm lún sâu hơn một chút trong sự cô lập, buồn bã và cô đơn từ khi chính quyền thực dân Pháp thôn tính 6 tỉnh  Nam Bộ. Để giải khuây nổi buồn triền miên của Tự Đức, bà Từ Dũ hứa thưởng ai có công làm vua Tự Đức cười.  Ông thường có thói quen đi xem kịch.  Một hôm, lợi dụng sự hiện diện của Tự Đức, một kép hát tên Vung sấn đến trước mặt vua Tự Đức lúc ông đang hút thuốc lá và nói rằng:

Ông có thể cho tớ mồi một hơi không?

Cử chỉ của Vung làm kinh ngạc mọi người vì ai cũng biết đây là một việc phạm thượng nhưng lúc đó vua Tự Đức phì cười và nói rằng: Mi quá gan thế.  Nhờ thế Vung khỏi bị tội khi quân và được bà Từ Dũ trọng thưởng. Thật đáng   tiếc khi gán cho  vua Tự Đức  một ông vua chuyên chế có trách nhiệm để chính quyền thực dân cướp đất. Số phận của đất nước cũng như của dân tộc Vietnam đã  bị quyết định từ lâu từ khi ông nội của ông, hoàng đế Minh Mạng và cha ông hoàng đế Thiệu Trị đã chọn lựa chính sách đàn áp người công giáo và người truyền giáo nước ngoài. Nhờ vậy chính quyền Pháp mới biện minh được sự can thiệp và thôn tính của họ. Chính sách thực dân Pháp đã tiến hành từ lâu.

Qua những giai thoại nầy, chúng ta biết rằng Tự Đức là một hoàng đế khoan dung và hiếu nghĩa, một người có trái tim và một nhà thơ vĩ đại của thời ông. Số phận của đất nước buộc Tự Đức,  bất chấp chính mình, trở  thành một hoàng đế và giết chết anh trai của mình vì cộng tác với ngọai bang. Chúng ta có thể làm tốt hơn Tự Đức không? Đây là câu hỏi mà  chúng ta  tự nêu ra nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của vua Tự Đức.  Qua bao nhiêu năm chúng ta  cũng không tìm thấy được  câu trả lời nhưng chúng ta biết có một điều là vua Tự Đức không thể  thờ ơ với những biến cố đang ập lên một cách tàn nhẫn trên đầu ông và dân tộc của ông. Ông cũng không đứng dậy nổi được trước nỗi đau buồn thống khổ nầy  khi nhìn thấy  sự sụp đổ của đất nước mà ông  là người bị buộc tội vì có nhiều trọng trách trong lịch sử Vietnam.

Pictures gallery

 

[Return DYNASTIE]

 

Les serres royales de Laeken ( Nhà kính hoàng gia Bỉ)

Les serres royales de Laeken

Version vietnamienne
Version française
Version anglaise
Pictures gallery

Cứ mỗi năm nhà kính hoàng gia Bỉ tọa lạc ở cung điện Laeken chính thức mở cửa chỉ trong vòng ba tuần đón tiếp công chúng ở khắp nơi trên thế giới, năm nay từ ngày 19/4 đến 10/5. Nhà kính nầy có hơn 100 năm tuổi và được thiết kế bởi kiến trúc sư Alphonse Balat dưới triều đại của vua Léopold II (1865-1909).  Công trình nầy là một quần thể kiến trúc hoàn toàn bằng kính và kim khí nằm trong một quan cảnh đồi núi và mất gần 12 năm mới được hoàn thiện với diện tích có đến 2,5 ha. Có luôn cả một tháp Nhật Bản. Nơi nầy, có các loại thực vật rất nổi tiếng nhất là các loại hoa thơm như phong lữ, đỗ quyên, cẩm tú cầu hay hoa trà. Dù thời gian đón khách du lịch rất ngắn (có 3 tuần), nhà kính hoàng gia vẫn là nơi được du khách biết đến rất nhiều, có ít nhất 800.000 người đến tham quan mỗi năm. Tiền thu thập được dùng để sùng tu nhà kính hay dành cho các việc từ thiện của nữ hoàng hay là mua các tác phẩm nghệ thuật cho bộ sưu tập hoàng gia.

Version française

Chaque année, les serres royales de Laeken sont ouvertes au public et aux touristes étrangers durant trois semaines. Cette année l’ouverture commence le 19 Avril et se termine le  10 Mai. Ayant plus  de 100 ans d’âge, ces serres royales ont été conçues  par l’architecte Alphonse Balat sous le règne du roi Léopold II (1865-1909).  Elles sont en fait un complexe architectural  réalisé entièrement en métal et en verre et implanté  dans un paysage vallonné. On compte presque 12 ans dans la réalisation de ce complexe superbe avec une superficie ayant au moins 2,5 ha. Une tour japonaise est visible de loin. C’est ici qu’on trouve des plantes très connues, en particulier  des fleurs parfumées comme les géraniums, les rhododendrons, les hortensias ou les camélias. Bien que  l’ouverture au public soit  de courte durée (3 semaines), les serres royales de Laeken sont très connues par les touristes étrangers. Il y au moins chaque année  800.000 visiteurs. L’argent récolté est destiné entièrement aux œuvres caritatives de la reine, aux opérations de restauration ou à l’acquisition des œuvres d’art pour enrichir la Collection Royale.

Version anglaise

Every year, the Royal Greenhouses of Laeken are open to the public and foreign tourists for three weeks. This year the opening starts on April 19 and ends on May 10. More than 100 years old, these royal greenhouses were designed by the architect Alphonse Balat during the reign of King Leopold II (1865-1909). They are actually an architectural complex made entirely of metal and glass and set in a hilly landscape. It took almost 12 years to complete this superb complex with an area of at least 2.5 hectares. A Japanese tower is visible from afar. It is here that very well-known plants are found, particularly fragrant flowers such as geraniums, rhododendrons, hydrangeas, or camellias. Although the opening to the public is of short duration (3 weeks), the Royal Greenhouses of Laeken are very well known among foreign tourists. There are at least 800,000 visitors each year. The money collected is entirely intended for the queen’s charitable works, restoration operations, or the acquisition of artworks to enrich the Royal Collection.

Serres royales de Laeken

Serres royales de Laeken

[Retour Pays d’Europe]

Bruxelles au cœur de l’Europe

Bruxelles au cœur de l’Europe

Bruxelles

[Retour PAYS D’EUROPE]

Pulluciampelle (Cù Lao Chàm)

Poulo Cham

Version vietnamienne
English version
Galerie des photos

Située à 18km de l’estuaire du fleuve Thu Bỗn de la vieille ville Hội An, l’île Poulo Cham ou Pulluciampelle (Cù Lao Chàm) par UNESCO comme une réserve de biosphère du monde en 2009. Elle est en fait constituée de huit îlots : Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông avec une superficie totale de 15 km2. Sa population répartie sur ces îlots est estimée à peu près de 3000 habitants. Autrefois, Poulo Cham était le point de relais destiné aux navigateurs pour pouvoir être approvisionnés en nourriture et en eau dans leur long voyage sur la mer de l’Est et appartenait au royaume du Champa. C’est pourquoi on trouve ici beaucoup d’anciens puits et elle est connue sous le nom de l’île du Champa. De passage dans cette île, le touriste a l’occasion de découvrir un environnement riche et varié non seulement en quantité mais aussi en genre de poissons trouvés dans la zone côtière tropicale de la mer de l’Est à travers un bâtiment d’exposition.

On y trouve aussi une coutume que le chercheur Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) a considérée comme une caractéristique typique trouvée chez les Vietnamiens vivant le long de la côte du Centre et du Sud Vietnam car les gens du Nord ne l’ont pas eue. C’est le culte de la baleine. Selon certains érudits vietnamiens tels que Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước ou Trần Hàm Tấn, ce culte appartenait aux Chams. Lors de l’occupation de leur territoire par les Vietnamiens, ceux-ci n’hésitaient pas à l’adopter comme la déesse Po Nagar à Nha Trang. Mais cette hypothèse n’est pas très convaincante dans la mesure où aucun document n’apporte jusqu’aujourd’hui la certitude sur cette appartenance chame. Selon le père Léopold Cadière, cette coutume n’est pas une exception car les Vietnamiens étaient animistes et polythéistes. C’est dans cette île qu’on découvre un temple dédié au culte de la baleine. Ce mammifère marin est vénéré comme un génie. Selon l’érudit Thái văn Kiểm, sous le règne de l’empereur Gia Long, la baleine reçut un brevet de génie et le titre d’amiral des mers du Sud car l’empereur Gia Long dut sa vie à ce mammifère marin lors d’une noyade. Rien ne contredit pas ce que le chercheur anglais Ruddle Kenneth a remarqué dans son livre: le culte de la baleine renforce la cohésion de la communauté des pêcheurs vietnamiens vivant le long de la côte du centre et du Sud Vietnam. En passant une journée dans cette île, je m’aperçois que les ressources naturelles sont énormes sans parler de la réserve du pétrole. Le Vietnam est désigné souvent par l’expression suivante: Rừng vàng biển bạc pour dire que le Vietnam est gâté par la nature ( » La forêt « dorée » et « la mer « argentée« ). Comment les pêcheurs vietnamiens sont-ils si pauvres et si malheureux ? C’est une question que chacun de nous en tant que Vietnamien se demande la cause de cette tragédie et reconnait qui est le coupable afin d’éviter d’être blâmé par notre conscience et par nos ancêtres.

Version vietnamienne

Cù lao Chàm nằm cách bờ biển Cửa Đại  của  Hội An 18 cây số. Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009.  Nó gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với tổng diện tích là 15km2. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người. Thưở xưa, Cù Lao Chàm là nơi dừng chân của các thuyền nhân để tiếp vận lương thực và nước ngọt  trong cuộc hành trình trên biển Đông và thuộc về vương quốc Chămpa. Vì vậy mới  thấy nơi nầy còn rất nhiều giếng cổ và có tên là cù lao Chàm. Đến đây, du khách sẻ nhận thấy  một  môi trường phong phú và đa dạng của vùng biển nhiệt đới về số lượng cũng như số loại cá trên biển Đông qua một nhà trưng bày hải sản.

Cũng ở nơi nầy, du khách sẻ khám phá một tập quán mà theo nhà nghiên cứu Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) là một đặc tính của người Việt ở vùng biến  chớ ở miền Bắc thì không có đó là tục lệ thờ cá ông (hay cá voi) nhưng cho đến giờ các nhà học giả Việt như Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước hay Trần Hàm Tấn thì nghĩ rằng đây là một tập quán cũa người Chàm mà người Việt tiếp nhận  cũng như ở Nha Trang với thánh mẫu Po Nagar nhưng cho đến giờ không có sách vỡ nào chứng minh là thuộc về dân tộc Chàm. Theo cố cả Léopold Cadière thì đúng hơn là người dân Việt  theo thuyết duy linh và đa thần nên chuyện thờ cá ông cũng không ngoại lệ. Ở cù lao chàm có một đền thờ cá ông hẳn hòi.   Người dân Việt kính nể cá ông như  cha mẹ  và thần thánh. Theo lời nhà học giả Thái văn Kiểm, dưới thời vua Gia Long, cá ông được chứng chỉ sắc phong làm thống chế của các biển phía nam vì cá ông đã giúp vua Gia Long thoát chết đuối. Cũng có phần đúng với sự nhận xét của học giả Anh Quốc Ruddle Kenneth như sau: chuyện thờ cúng cá ông cũng là một thể thức nhẳm cố liên kết chặt chẻ các ngư dân Việt sống ở vủng biển. Đến đây mới thấy tài nguyên cũa đất nước rất lớn ở biển Đông với bao nhiêu loại tìm thấy trong hải sản chưa nói đến dầu lửa. Rừng vàng biển bạc dùng để ám chỉ đất nước Việt Nam của chúng ta. Thế mà ngư dân Việt vẫn khốn đốn nghèo khổ.? Câu hỏi  nầy mỗi nguời Việt chúng ta  tự hỏi lòng mình từ đâu,  tự nhân diện nó là ai  để khỏi hổ thẹn với lương tâm và ông cha của chúng ta.

Tàl liệu tham khảo

Charles J. H. MacDonald:  Le culte de la baleine, une exception vietnamienne 
Trần văn Phước: Chronique: Funérailles d’une baleine . Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, tome XLIX, no2, 1974, p 273-282
Thái Văn Kiểm: Le culte de la baleine . Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, tome XLIX, no2, p 311-326
Ruddle Kenneth : Traditional community based coastal marine fisheries  management in Vietnam . Ocean and Coastal management,  Elsevier Science Ltd, 40, p 1-22
Cadière Léopold:  Croyances et pratiques religieuses. Tomes I et II. Saigon,  Imprimerie nouvelle d’Extrême Orient 1955-1958

Picture Gallery

Located 18 km from the estuary of the Thu Bồn River in the old town of Hội An, Poulo Cham Island or Pulluciampelle (Cù Lao Chàm) was recognized by UNESCO as a world biosphere reserve in 2009. It actually consists of eight islets: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, and Hòn Ông, with a total area of 15 km². Its population spread across these islets is estimated to be about 3,000 inhabitants. In the past, Poulo Cham was a relay point for navigators to be supplied with food and water during their long journey on the East Sea and belonged to the Champa kingdom. This is why many ancient wells are found here, and it is known as the Island of Champa. Visitors passing through this island have the opportunity to discover a rich and varied environment, not only in the quantity but also in the variety of fish found in the tropical coastal zone of the East Sea through an exhibition building.

There is also a custom that the researcher Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) considered a typical characteristic found among the Vietnamese living along the coast of Central and Southern Vietnam, as the people of the North did not have it. It is the whale cult. According to certain Vietnamese scholars such as Thái Văn Kiểm, Trần Văn Phước, or Trần Hàm Tấn, this cult belonged to the Chams. During the occupation of their territory by the Vietnamese, they did not hesitate to adopt it, like the goddess Po Nagar in Nha Trang. But this hypothesis is not very convincing since no document to date provides certainty about this Cham affiliation. According to Father Léopold Cadière, this custom is not an exception because the Vietnamese were animists and polytheists. It is on this island that one discovers a temple dedicated to the whale cult. This marine mammal is revered as a spirit. According to the scholar Thái Văn Kiểm, under the reign of Emperor Gia Long, the whale received a spirit patent and the title of admiral of the Southern seas because Emperor Gia Long owed his life to this marine mammal during a drowning incident. Nothing contradicts what the English researcher Ruddle Kenneth noted in his book: the whale cult strengthens the cohesion of the community of Vietnamese fishermen living along the coast of Central and Southern Vietnam.

Spending a day on this island, I realize that the natural resources are enormous, not to mention the oil reserves. Vietnam is often referred to by the following expression: Rừng vàng biển bạc, meaning that Vietnam is blessed by nature (« the golden forest » and « the silver sea »). How are Vietnamese fishermen so poor and so unhappy? This is a question that each of us, as Vietnamese, asks ourselves to understand the cause of this tragedy and to recognize who is to blame in order to avoid being condemned by our conscience and by our ancestors.

[Return to CHAMPA]

Paris je t’aime

 

Version vietnamienne

Version anglaise

Paris est l’une des plus belles villes du monde, en particulier la nuit. Comme l’écrivain américain Ernest Hemingway disait qu’il n’y a que Paris pouvant lui apporter  à tout instant,  l’inspiration dans la création de ses œuvres littéraires. Pour lui, Paris était considéré  toujours comme  une fête (The Moveable feast) lors de son séjour à la fin des années 1950. Il y a non seulement la Seine coulant paisiblement  sous les ponts  ayant chacun une architecture particulière mais aussi des lieux très célèbres comme le jardin de Luxembourg, la cathédrale Notre Dame, la tour Eiffel, le musée du Louvre etc. C’est pour cela que Paris lui a exercé un attrait irrésistible même il était de passage à Paris pour une fois. C’est aussi Paris  qui a fait de lui un écrivain célèbre.

Version vietnamienne

Paris là một trong những thành phố đẹp nhất thế giới nhất là về đêm. Cũng như nhà văn hào Mỹ Ernest Hemingway nói   chỉ có Paris có thể đem lại cảm hứng sáng tác cho ông bất kỳ lúc nào. Chính vì thế ông xem Paris lúc nào cũng như ngày lễ hội.  Không những  có  sông Seine trôi lặng lẽ dưới các cây cầu có một  kiến trúc độc đáo  mà còn các nơi nổi tiếng  như vườn hoa Luxembourg,  nhà thờ Notre Dame,  tháp Eiffel, bảo tàng viện Louvre vân vân khiến   Paris trở thành nơi có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với ông dù ông chỉ có một lần đến Paris.  Chính Paris làm ông trở thành một nhà văn hào nổi tiếng.

Version anglaise

Paris is one of the most beautiful cities in the world, especially at night. As the American writer Ernest Hemingway said, only Paris could bring him inspiration at any moment in the creation of his literary works. For him, Paris was always considered a feast (The Moveable Feast) during his stay in the late 1950s. There is not only the Seine flowing peacefully under the bridges, each with its own unique architecture, but also very famous places like the Luxembourg Garden, Notre Dame Cathedral, the Eiffel Tower, the Louvre Museum, etc. That is why Paris exerted an irresistible attraction on him, even if he was only passing through Paris once. It is also Paris that made him a famous writer.

 

Cây khèn bè (Khène)

Version française
English version  

Chúng ta  thường đặt câu hỏi về nguồn gốc của nhạc cụ mà được gọi là khèn bè.  Có nhiều nhà khoa học cho rằng nhạc cụ nầy đến từ nước Lào. Nhưng cũng không ít người ngần ngại và hoài nghi. Đó là trường hợp  của nhà nghiên cứu Pháp Noël Péri của  Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO).

Đối với ông nầy, nếu người  dân Việt không dùng nhạc cụ nầy  như người Lào nhưng nhạc cụ mà được trông thấy  thường ở người Muờng, một dân tộc rất gần gũi với người Việt về văn hóa và tập quán và người Hmong,  cũng giống  như khèn bè của người Lào. Hơn nửa nhạc khí nầy được thể hiện không những ở trên các trống và thạp đồng mà còn ở các vật dụng của văn hóa Đồng Sơn. Đó là trường hợp cái cán của một cái môi bằng đồng được trang trí với một nhân vật nam giới ngồi đang thổi khèn bè và được trưng bày  hiện nay  ở bảo tàng viện lịch sữ ở Saïgon (thành phố Hồ Chí Minh).

Chúng ta  dẫn đến đến kết luận và  khẳng định một cách quả quyết  là nhạc khí nầy có từ thời đồ đồng  (giữa 3000 và 1200 trước công nguyên ở Đông Nam Á) và được sáng chế bỡi người thuộc chủng Nam Á (Austro-asiatique) trong đó có các dân tộc Lào,  Hmong, Mường, Việtnam và Mnong vân vân… mà chúng ta thường gọi là đại tộc Bách Việt. Cũng không nên quên có một thời điểm nào trong quá khứ dân tộc Lào (chi nhánh Tây Âu) và dân tộc Việt (chi nhánh Lạc Việt) cùng nhau hiệp  sức trong việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán và  chống cự lại  quân Tần của  Tần Thủy Hoàng.  Theo bà khảo cứu Pháp Madeleine Colani thì các khèn bè nầy không bao giờ vượt qua dãy núi Hy Mã Lập Sơn và thung lũng Bramahpoutre của Ấn Độ. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

joueur_khen2

Khène

 Đó là truờng hợp  các khèn bè của dân tộc Dayak ở đảo Bornéo (Nam Dương) vì trước khi họ định cư trên đão nầy, họ đã sống trước đó dọc theo bờ biển phía đông của Đông Dương.  Dựa trên khèn bè của người thuộc chủng Nam Á, người Trung Hoa cũng sáng chế một nhạc cụ thường gọi là lusheng mà được nhắc đến trong kinh nhạc của Đức Khổng Tử.

Theo nhà nghiên cứu Victor Goloubew, người Đồng Sơn tức là tổ tiên của người Việt hiện nay cũng biết thổi khèn bầu.

Khèn bè được xuất hiện dưới nhiều hình dạng mà theo bà Madeleine Colani thi khèn bè của dân tộc Lào xem là óng chuốt và tao nhã nhất.  Nói chung thì  cây khèn bè  thông thường có một cấu tạo ống theo số chẵn, làm bằng tre và ở mỗi cái ống có một lỗ nhỏ  thường gọi là lỗ thổi và  bên trong ống có một  lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Các ống nầy được lắp ráp theo cặp với  chiều dài giống nhau, theo thứ tự  và giảm dần từ miệng của cái bầu khèn được cung  cấp không khí bởi hơi thổi của người chơi khèn. Chiều dài của các ống xác định độ cao của nốt. Cây khèn càng dài thì âm điệu càng thấp. Số ống dùng để thổi không có cố định và còn có liên hệ đến truyến thống văn hóa của mỗi dân tộc.  Như người Hmong ở các dãy núi phiá bắc Việtnam hay là người Mnong ở Tây Nguyên, thì  trên cây khèn chỉ có thấy 6 ống mà thôi. Còn với người Thái ở vùng Mai Châu, số ống  lên đến 14.

Khèn có  6 ống (hay Mbuot) của dân tộc Mnong ở Tây Nguyênm_buot  

Còn khèn của nguời Lào thì số ống có thể biến đổi: hoặc 6 ống với chiều dài có thể lên  đến 40 cm thì gọi là khène hot hoặc là 14 ống với   khène jet

hoặc là 16 ống với   khène baat.  Khèn nầy được trọng dụng nhiều nhất ở Lào.  Để phát âm tiếng, nguời chơi khèn phải  giữ giữa hai bàn tay nhạc cụ  mà  ở nơi đó  có miệng khèn   dùng để thổi và đưa không khí vào khèn, xem như là nơi để tụ không khí.   Cùng lúc đó người thổi  khèn phải bịt ở đầu các ống với các ngón tay khiến làm rung chuyển các lưỡi gà phù hợp  qua sự  hít vào hay thở ra của mình.

khenz_bambou

Khèn lào (16 ống)

Khèn thường có liên hệ mật thiết với các nghi lễ tôn giáo và các sự kiện quan trọng ( hội chợ, đám cưới, tang lễ vân vân …).  Có thể thổi khèn một mình hay là  với một nhóm người  nhằm để kèm theo các điệu nhảy  hay ca hát.  Mỗi dân tộc có sự tích cá biệt về khèn. Tiếng khèn cũng làm cho  thế giới con người  đến   gần với thế giới tâm linh. Đối với dân tộc Lào cũng như các dân tộc thiểu số ở Vietnam (Hmong, Thái vân vân..), cây khèn bè biểu tượng  bản sắc văn hóa. Đối với dân tộc Hmong, có một cây khèn trong nhà là niềm hãnh diện được có một người đàn ông tài hoa và khí phách trong gia đình.

Trong ngạn ngữ của người  Lào, muốn được xem là người Lào đích thực, thì phải biết thổi khèn, ăn cơm nếp với cá ươn  (padèk) và ở nhà sàn.

Dù có một vai trò rất  quan trọng như các cồng chiền Tây Nguyên (Việtnam), cây khèn bè tiếp tục bị bỏ rơikhene_laotien  theo ngày tháng bởi giới trẻ  vì muốn   thông thạo trong việc thổi khèn bè thì không những cần có sự kiên nhẫn mà cần có khiếu về  âm nhạc. Bởi vậy khèn bè không phải ai cũng thổi được mà cần phải biết diễn xuất một số giai điệu căn bản và biết nhảy hòa nhịp  theo tiếng khèn. Một số giai điệu có thể gợi lên các khía cạnh của thiên nhiên và cuộc sống. Có hơn 360 giai điệu dành cho tang lễ. Chính vì thế cây khèn bè có một vị trí quan trọng trong đời sống dân gian và tinh thần của các dân tộc thiểu số.


Tài liệu tham khảo

Essai d’ethnographique comparée. Madeleine Colani, BEFEO, 1936,Vol 36, N°1, pp. 214-216
Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam.
Rapport sur une mission officielle d’étude musicale en Indochine. Péri Noël, G. Knosp. BEFO. 1912. Tome 12, pp 18-2
Pour continuer d’entendre le son du khèn des Hmongs. Hoàng Hoa. Courrier du Vietnam, 24.03.2012

[Retour Vietnam des 54 minorités]