Lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm)

Le lac de l’épée restituée

Version vietnamienne
Version anglaise
Liste des photos
Seconde liste des photos

Étant lié étroitement à l’histoire du peuple vietnamien, ce lac situé au cœur de la capitale est un lieu incontournable pour la plupart des Hanoïens. Il est le symbole de l’indépendance nationale car c’est ici que selon la légende, le roi Lê Lợi , après avoir vaincu les Ming, a restitué à la tortue dorée la précieuse épée qu’il avait reçue auparavant. Il est le lac des souvenirs car il garde le secret des amours intenses et des douleurs nées des sentiments perdus, ce qui le rend plus romantique et plus languissant avec ses saules pleureurs, ses eaux vertes colorées par une algue, son temple Ngọc Sơn plongé souvent dans des brumes matinales. Les mots ne suffisent plus. Il n’y a que les photos qui permettent d’immortaliser ces rêveries romantiques.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

        Traducteurs: Lê Tư Thục, Nguyễn văn Tú

  • C’est ici que furent établies les traditions culturelles,
  • Il y a cinq cents ans.
  • Il ne reste qu’aujourd’hui une petite motte de terre.   

Hồ gươm

Version vietnamienne

Được xem  có  liên quan mật thiết với lịch sữ Việtnam và  nằm ở trung tâm thủ đô, hồ nầy  là một địa điểm  mà người Hànội không thể không biết đến  được.  Hồ còn  là một biểu tượng độc lập quốc gia  vì chính ở nơi nầy, theo truyền thuyết, vua Lê Lợi  sau khi thắng được quân Minh, trả lại gươm báu cho Rùa thần mà ông đã nhận được trước đó. Với  bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, hồ nầy   âm thầm chôn vùi  biết  bao nhiêu mối tình nồng nàn và đau đớn khi tình yêu  nó bị rạn nứt  càng làm nó   lãng mạn và tương tư với các thùy liễu rũ rượi,  màu nứớc xanh biếc  từ các rong biển, đền Ngọc Sơn chìm đắm trong sương mù buổi sáng. Dù có bao  từ diễn tả chăng nửa cũng không bằng những ảnh chụp để nó gợi đến muôn thưở những mơ mộng lãng mạn.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

Version anglaise

Closely linked to the history of the Vietnamese people, this lake located in the heart of the capital is a must-visit place for most Hanoians. It is a symbol of national independence because it is here that, according to legend, King Lê Lợi, after defeating the Ming, returned the precious sword he had previously received to the golden turtle. It is the lake of memories because it holds the secret of intense loves and the pains born from lost feelings, which makes it more romantic and more languid with its weeping willows, its green waters colored by algae, and its Ngọc Sơn temple often shrouded in morning mist. Words are no longer enough. Only photographs can immortalize these romantic reveries.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

  • It is here that cultural traditions were established,
  • Five hundred years ago.
  • Today, only a small mound of earth remains.

 

Pictures gallery

[RETURN]

Temple Ngọc Sơn (Đền Ngọc Sơn)

Le temple Ngọc Sơn

au cœur du vieux quartier Hồ Hoàn kiếm

Đền Ngọc Sơn   

Version française
Liste des photos
Version anglaise
Seconde liste des photos

Ai đến thủ đô Hànội cũng có dịp đến tham quan đền Ngọc Sơn. Đền nầy nó nằm ở trên gò đất nổi của Đảo Ngọc  ở giữa Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm. Đền nầy đã có từ lúc Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long với cái tên là  Ngọc Tượng rồi sau đó đổi tên là Ngọc Sơn dưới đời nhà Trần nhầm để tôn vinh và tưởng niệm Đức Trần Hưng Đạo và  các anh hùng liệt sỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến chống Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt. Ở đây còn có thấy thờ về sau  Văn Xương đế quân,  Phật A-di-đà, Lã Động Tân, Quan Vân Trường khiến thể hiện được tinh thần đoàn kết, hòa hợp tam giáo (Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo)  của người dân Việt.

Chính ở nơi nầy ở hai bên cửa của cổng chính còn có hai chữ Hán « Phúc » và « Lộc » được dựng và tạc theo mô hình do danh sĩ của thế kỷ 19 Nguyễn Văn Siêu. Chính ông trùng tu lại đền Ngọc Sơn dưới thời vua Tự Đức 18 của nhà Nguyễn  (1865)  mà chúng ta  vẫn còn giữ được nguyên vẹn công trình kiến trúc  như ngày hôm nay.  Ông có công dựng thêm tháp bút, đài nghiên, đình Trấn Ba để ngăn chặn làn sóng văn hoá, cổng Đắc Nguyệt Lâu. Có bút thì phải có nghiên mà có luôn ở trên thân nghiên  bài thơ của  ông thể hiện được tư tưởng của con người ở thời phong kiến theo sự nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc nhưng dù sao đi nữa cũng mang đậm màu sắc của Đạo giáo qua hai câu đối: 

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

cho thấy rõ tâm tư của ông  như nhà thơ Tô Đông Pha của  thời nhà Tống là không có cuộc sống nào như ý, chỉ có thể tự mình nhìn thấu cõi đời mà sống với một tâm hồn cao thượng của một người trí thức chân chính dùng văn hóa làm trụ cột cho tinh thần dân tộc. Ông có công khôi phục lại diên mạo của Hà Nôi, có công tạo nên sự hài hoà giữa môi trường thiên nhiên của Hồ Hoàn Kiếm  và một công trình kiến trúc độc đáo  khiến người Hà Thành  có  được một không gian tâm linh, văn hoá và lịch sử có một không hai làm họ muôn đời ghi nhớ. Tài năng của ông khiến vua Tự Đức phải thốt lên: « Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán »  có nghĩa là « Tài văn của Nguyễn văn Siêu  và Cao Bát Quát thì đời Tiền Hán phải chịu » vì thời Tiền Hán rất nổi tiếng về văn, nhất là lối văn chép sử như Tư Mã Thiên, Ban Cố (hay Mạnh Kiên).

Sau cổng chính lại có ngôi tháp bút gồm có ba chữ Hán « Tả Thanh Thiên » (viết lên trời xanh) được  thấy ở trên thân. Sau đó đến cổng có bảng Rồng và bảng Hổ ở hai bên tượng trưng cho hai bảng cao quý dùng  để  nêu tên những người thi  khoa đỗ rồi lại có cổng  thứ  ba thường được gọi là  cổng đài nghiên, nơi có tường cao, có  một cửa  cuốn, có một  mái  mà trên đó  có một nghiên đá xanh được ba con cóc đội trên lưng, hình nữa trái đào  nhầm tôn vinh nền văn hiến của dân tộc Việt và  sau cùng là đến cái cầu sơn màu đỏ sẫm, được biết đến với cái tên thơ mộng « Thê Húc (cầu đón nắng ban mai) » để đi đến cổng đền Ngọc Sơn. Theo nhà văn Hoàng Đạo Thúy trong quyển sách tựa đề là: « Người và cảnh Hà Nội » thì khi mặt trời  mọc lên thì bóng ngọn bút tháp sẽ chấm vào nghiên mực. Cầu Thê Húc có hình dáng cong cong như cầu vồng xưa với màu sơn đỏ sẫm khiến làm cầu nổi bật hơn. Có người cho rằng tựa như tấm dải lụa đào vắt qua làn nước xanh thổ của Hồ Gươm. Qua cầu thì đến cổng đền Ngọc Sơn. Cổng nầy được gọi là Đắc Nguyệt Lâu gồm có hai tầng, có hai cửa sổ  tròn và có hai mái ở tầng hai.  Đấy là  tên được lấy từ câu thơ cổ: Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, (Ở cận bên nước nên  toà lầu đài đón được trăng trước cả). Còn có  hai bức tranh được gắn bằng mảnh sứ vỡ, bên trái là Thần Quy Lạc Thư và bên phải là Long Mã Hà Đồ ám chỉ  đến nguồn gốc văn hoá  của dân tộc Bách Việt hay người Việt cổ.

Đền Ngọc Sơn nầy được xây dựng theo mô hình chữ Tam .  Trước đền thì  có một kiến trúc có kích thước và quy mô nhỏ so với các đại đình  ở  các làng và được gọi là phương đình. Đây là đình Trấn Ba được Nguyễn Văn Siêu xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1865 đến 1866  trước kề bề nước nhầm ngụ ý là phương đình nầy như cột trụ đứng vững giữa các làn sóng văn hóa.  Có  người cho rằng nhầm chặn đứng các làn sóng du nhâp của thời đó .Trong đền Ngọc Sơn thì có hai khu thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và  Văn Xương đế quân (chủ quản văn chương, khoa cử). Ngoài ra còn thấy thờ cả Phật A-di-đà, Lã Động Tân, Quan Vân Trường vân vân…

Còn có luôn con ngựa xích thố của Quang Vân Trường  và con rùa của Hồ Gươm. Đền Ngọc Sơn không những là một quần thể kiến trúc cổ kính có lâu đời  và mơ mộng ở phố cổ được du khách ngoại quốc  đến tham quan nhiều nhất mà cũng là nơi sĩ tử thường xuyên lui tới mỗi khi có mùa thi cử. Không nên bỏ qua nơi nầy khi có dịp đến Hà Nôi.

Le temple Ngọc Sơn au fil de la nuit

Version française

Le temple du mont de jade

Quiconque débarque à la capitale Hanoï a l’occasion de  visiter le temple Ngọc Sơn (ou le temple du mont de jade). Situé sur l’ilôt de Jade (Đảo Ngọc) au milieu du lac de l’épée restituée (ou Hồ Hoàn Kiếm), ce temple exista de l’époque du transfert de la capitale à Thăng Long par le roi Lý Thái Tổ (le fondateur de la dynastie des Lý) avec le nom qu’il porta, Ngọc Tượng. Celui-ci fut remplacé plus tard par le nom Ngọc Sơn sous la dynastie des Trần dans le but d’honorer la gloire du généralissime Trần Hưng Đạo et ses héros martyrs ayant laissé leur vie sur le champ de bataille dans la guerre contre les Mongols Kubilai Khan. C’est ici qu’on trouve plus tard  non seulement la vénération d’un personnage mythique et gardien de la littérature de nom Văn Xương  mais aussi Bouddha Amitâbha, l’alchimiste taoïste Lü Dongbin (Lã  Động Tân), ou le héros  Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) des Trois Royaumes (Tam Quốc), ce qui montre l’esprit de solidarité et l’entente harmonieuse entre les trois religions (bouddhisme, taoïsme et confucianisme) trouvés chez le peuple vietnamien.

C’est ici qu’on trouve sur les deux côtés de l’entrée principale du temple les deux idéogrammes chinois « Phúc (Bonheur)» và « Lộc (Prospérité) » gravés selon le modèle établi par l’illustre lettré Nguyễn Văn Siêu d’époque 19ème siècle. C’est lui qui  fut chargé par l’empereur Tự Đức de superviser la restauration de ce temple en  1865, ce qui nous permet de garder encore intact aujourd’hui son état architectural.  Il eut le mérite d’y ajouter aussi  la tour de pinceau, le socle de l’encrier, le pont  de couleur pourpre Thê Húc,  le belvédère Trấn Ba  destiné à  empêcher les  flots de la culture, la porche Đắc Nguyệt Lâu. Quand on a le pinceau on doit posséder également l’encrier. De plus on trouve sur le corps de l’encrier son poème évoquant la pensée de l’homme à l’époque féodale selon l’observation du chercheur vietnamien Nguyễn Vinh Phúc mais l’empreinte de religion taoïste y est présente à travers les deux sentences suivantes:

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

La nuit au clair de lune, on croit aux fées en voyant les grues s’envoler.
Sur le pont du fleuve Hào, c’est une bonne nouvelle que les hommes ne soient pas des poissons.

Cela permet d’élucider sa pensée  analogue à celle du poète chinois Su Dongpo (Tô Đông Pha) de l’époque de la dynastie des Song: Il n’y a aucune vie qui donne  satisfaction à notre souhait. C’est à nous de transpercer le monde par nous-mêmes et vivre avec l’âme noble d’un vrai intellectuel employant la culture comme le pilier de l’esprit national.

Il a le mérite d’avoir restauré le visage de la capitale Hanoï et de créer une harmonie entre l’environnement naturel du lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm)  et son œuvre architecturale inégalée, ce qui permet aux Hanoïens d’avoir un espace spirituel, culturel et historique unique et de garder pour toujours une profonde reconnaissance envers lui.

Son talent a fait s’exclamer l’empereur Tự Đức: « Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán ». Cela  signifie que les styles littéraires de Nguyễn Văn Siêu et Cao Bát Quát sont reconnus volontiers par la dynastie des Han car celle-ci s’est distinguée par son art littéraire, en particulier celui d’écrire l’histoire comme Sima Qian (Tư Mã Thiên), Pan Gu (Ban Cố hay Mạnh Kiên).

Derrière le portail principal se trouve la tour du pinceau ayant sur son corps  les trois idéogrammes chinois  « Tả Thanh Thiên (Ecrire sur l’azur du ciel). Puis le portail suivant  est flanqué de chaque côté un bas-relief, l’un portant l’image du tigre et l’autre celle du dragon pour faire allusion aux deux  tableaux destinés à relever  les noms des candidats ayant réussit aux concours mandarinaux. On se retrouve ensuite avec le troisième portail. C’est ici qu’on trouve le socle vert de l’encrier porté par les trois crapauds sur leur dos au sommet de ce  portail et en forme d’une demi-poire, une porte roulante, un mur assez haut, le tout étant destiné à  honorer les belles traditions de la culture vietnamienne. Enfin on arrive au pont célèbre de couleur pourpre connu sous le nom romantique « Thê Húc (cầu đón nắng ban mai ou pont recevant des lueurs matinales) » pour  donner accès au porche du temple Ngọc Sơn. D’après le livre intitulé « Người và cảnh Hà Nội (L’homme et les paysages de Hanoï)  de l’écrivain Hoàng Đạo Thúy, quand le soleil se lève, l’ombre de la tour de pinceau va pointer sur le creux de l’encrier. Le pont Thê Húc  a la forme incurvée  comparable à un vieil  arc-en-ciel  avec une peinture rouge foncé  le rendant plus embellissant.

Certains prétendent que ce pont ressemble à une bande de tissu en soie traversant par-dessus les flots d’un bleu turquoise du lac de l’épée restituée. En prenant ce pont, on arrive devant le porche du temple. Connu sous le nom Đắc Nguyệt Lâu, celui-ci  a deux fenêtres rondes, l’une se trouvant sur la face devant et l’autre sur la face derrière et deux étages dont le deuxième  comporte deux toits. Son nom est emprunté  dans le vers d’un ancien poème : Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, (Ở cận bên nước nên  toà lầu đài đón được trăng trước cả). Étant situé à proximité de l’eau, le bâtiment reçoit en premier la lumière du clair de lune. De plus il y a deux bas-reliefs en céramique relatant la culture de Bai Yue dont font partie des Proto-Vietnamiens. 

Le temple Ngọc Sơn a été construit selon l’idéogramme chinois  Tam (Trois). C’est pourquoi on le voit réparti en trois parties. La première partie est occupée par un édifice  architectural de petite taille connu sous le nom «phương đình ou belvédère » si l’on compare avec la maison communale des villages.  C’est le pavillon Trấn Ba que le lettré  Nguyễn Văn Siêu a construit  à proximité de l’eau du lac durant la période  1865-1866  et a considéré comme le pilier solide au milieu des flots de culture. Quant aux deux parties restantes, on les retrouve dans le temple lui-même.  Elles sont destinées à vénérer  le généralissime Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn et l’empereur Văn Xương. Celui-ci est le patron de la littérature  et des concours.  En outre, on voit aussi les autels dédiés au bouddha Amitâbha,  à l’illustre alchimiste taoïste Lã Động Tân (ou Lü Dongbin),  au général de l’époque des Trois Royaumes, Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) etc… Même son cheval de bataille légendaire (Xích Thố)  y figure  aussi ainsi que la tortue géante du lac de l’épée restituée. 

Le temple du mont de jade  (Ngọc Sơn) n’est pas non seulement un complexe architectural très ancien et très pittoresque du vieux quartier de Hanoï que la plupart des touristes étrangers  fréquentent  le plus mais aussi le lieu où les candidats vont venir souvent lors de la saison des examens.  Ce temple fait partie de la liste des sites à visiter et à ne pas manquer si on a l’occasion de venir à la capitale Hanoï.

 

 

 

English version

Anyone arriving in the capital Hanoi has the opportunity to visit the Ngọc Sơn Temple (or the Jade Mountain Temple). Located on Jade Islet (Đảo Ngọc) in the middle of the Restored Sword Lake (or Hồ Hoàn Kiếm), this temple dates back to the time of the transfer of the capital to Thăng Long by King Lý Thái Tổ (the founder of the Lý dynasty) under the name Ngọc Tượng. This was later replaced by the name Ngọc Sơn during the Trần dynasty to honor the glory of the great general Trần Hưng Đạo and his heroic martyrs who gave their lives on the battlefield in the war against the Mongols under Kublai Khan. Here, one can later find not only the veneration of a mythical figure and guardian of literature named Văn Xương but also Amitabha Buddha, the Taoist alchemist Lü Dongbin (Lã Động Tân), and the hero Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) of the Three Kingdoms (Tam Quốc), which demonstrates the spirit of solidarity and harmonious understanding among the three religions (Buddhism, Taoism, and Confucianism) found among the Vietnamese people.

Here, on both sides of the main entrance of the temple, one finds the two Chinese ideograms « Phúc (Happiness) » and « Lộc (Prosperity) » engraved according to the model established by the illustrious scholar Nguyễn Văn Siêu from the 19th century. He was entrusted by Emperor Tự Đức to oversee the restoration of this temple in 1865, which has allowed us to preserve its architectural state intact to this day. He also had the merit of adding the brush tower, the inkstand base, the purple-colored Thê Húc bridge, the Trấn Ba pavilion intended to prevent the waves of culture, and the Đắc Nguyệt Lâu porch. When one has the brush, one must also possess the inkstand. Furthermore, on the body of the inkstand, there is his poem evoking the thoughts of people in the feudal era according to the observation of the Vietnamese researcher Nguyễn Vinh Phúc, but the imprint of Taoist religion is present through the following two lines:

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

By moonlit night, one believes the cranes taking flight are immortals.
On the Hào river bridge, it is a joy that men are not fish.

clearly shows his sentiments like the poet Tô Đông Pha of the Song Dynasty that no life is perfect; one can only see through the world and live with the noble soul of a true intellectual who uses culture as the pillar of the national spirit. He contributed to restoring the appearance of Hanoi, creating harmony between the natural environment of Hoan Kiem Lake and a unique architectural work that gives the people of Hanoi a spiritual, cultural, and historical space like no other, making them remember it forever. His talent made King Tu Duc exclaim: « Wen ru Sieu, Quat wu qian Han, » meaning « The literary talent of Nguyen Van Sieu and Cao Bat Quat surpasses that of the Pre-Han era, » as the Pre-Han period was very famous for literature, especially the historical writing style of Sima Qian and Ban Gu (or Meng Jian).

After the main gate, there is the Pen Tower with three Chinese characters « Tả Thanh Thiên » (writing up to the blue sky) seen on its body. Then comes the gate with Dragon and Tiger plaques on either side, symbolizing two noble boards used to list the names of those who passed the imperial exams. Next is the third gate, often called the Inkstand Gate, where there is a high wall, an arched door, and a roof on which sits a green stone inkstand supported by three toads, shaped like half a peach, meant to honor the cultural heritage of the Vietnamese nation. Finally, there is the dark red painted bridge, known by the poetic name « Thê Húc » (the bridge that welcomes the morning sunlight), leading to the Ngoc Son Temple gate.

According to writer Hoàng Đạo Thúy in the book titled « People and Scenes of Hanoi, » when the sun rises, the shadow of the pen tower will touch the inkpot. The Thê Húc Bridge has a curved shape like an ancient rainbow bridge, with a deep red paint color that makes the bridge stand out more. Some people think it resembles a strip of peach silk draped over the blue-green water of Hoan Kiem Lake. Crossing the bridge leads to the gate of Ngoc Son Temple. This gate is called Đắc Nguyệt Lâu, consisting of two floors, with two round windows and two roofs on the second floor. The name is taken from an ancient poem: « Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, » (Near the water, the tower receives the moon first). There are also two paintings made from broken porcelain pieces; on the left is the Turtle God carrying the stele, and on the right is the Dragon Horse with the River Map, symbolizing the cultural origins of the Bach Viet people or the ancient Vietnamese.

Ngoc Son Temple was built in the shape of the character « Tam » (three). In front of the temple, there is a smaller architectural structure compared to the main communal houses in villages, called the Phương Đình. This is the Trấn Ba communal house, built by Nguyễn Văn Siêu between 1865 and 1866, located next to the water, implying that this Phương Đình stands firm like a pillar amidst cultural waves. Some believe it was meant to block the influx of foreign cultural waves at that time. Inside Ngoc Son Temple, there are two worship areas for Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn and Văn Xương Đế Quân (the deity in charge of literature and examinations). Additionally, there are altars for Amitabha Buddha, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, and others.

There is also the red horse of Quang Van Truong and the turtle of Ho Guom. Ngoc Son Temple is not only an ancient and dreamy architectural complex in the old quarter, visited by many foreign tourists, but also a place frequently visited by scholars during examination seasons. This place should not be missed when you have the chance to come to Hanoi.

[RETOUR]

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) 6ème partie

pagode5

Sixième partie

Une fois l’indépendance retrouvée, le bouddhisme commença à trouver un écho favorable en la personne du roi Đinh Tiên Hoàng. Celui-ci nomma Ngô Chấn Lưu, disciple du moine Văn Phong de la pagode Khai Quốc (Hànội) en tant que Tăng Thống (Chef suprême du clergé bouddhiste). Il lui décerna le titre de Khuông Việt Đại Sư ( Grand Maître, soutien du pays Việt) pour sa participation aux affaires de l’état en tant que conseiller. Issu de l’école du moine chinois Vô Ngôn Không, Ngô Chấn Lưu fut réputé pour ses connaissances approfondies de la doctrine Dhyana (ou Thiền). Puis l’élan bouddhiste continua à s’affermir avec le grand roi Lê Đại Hành (ou Lê Hoàn). Ce dernier, lors d’une expédition au Champa en 985, réussit à ramener dans son pays un bonze indien (Thiên Trúc) qui était en train de séjourner dans le monastère de Đồng Dương.

C’est sous le règne de ce roi que les moines jouèrent un rôle important dans la vie politique vietnamienne car ils étaient les seuls détenteurs du savoir. C’est le cas du moine Ngô Chấn Lưu chargé par le roi Lê Đại Hành de recevoir une délégation diplomatique chinoise de la dynastie des Song (Tống triều) conduite par l’ambassadeur Li Jiao (ou Lý Giác). Celui-ci, de retour en Chine, fut accompagné par un morceau de chant lyrique (ou từ en vietnamien) rédigé par le moine Khuông Việt lui-même (ou Ngô Chấn Lưu). Outre les documents officiels, ce morceau ayant pour titre vietnamien Ngọc Lang Quy (ou Vương Lang Quy) devint ainsi la première oeuvre littéraire vietnamienne qu’on considère encore aujourd’hui comme un document précieux et important non seulement dans la relation sino-vietnamienne mais aussi dans la littérature vietnamienne. On n’oublie pas non plus l’échange verbal improvisé en sentences par le moine poète de nom Lạc Thuận, déguisé en sampanier avec Li Jiao. Frappé d’admiration, ce dernier n’hésita pas à adresser des compliments au roi Lê Đại Hành en le comparant à son roi dans un poème.

Selon ce qu’a rapporté Thiền Uyển Tập Anh (Floriflège du jardin du Thiền), avant sa disparition, Khuông Việt rédigea un poème intitulé « Le bois et le Feu » (Cây và Lửa) et destiné à enseigner le dhyana à son disciple éminent thiền sư Đa Bảo:

Trong cây sẵn có lửa
Có lửa lửa lại sinh
Nếu bảo ây không lửa
Cọ xát làm sao phát sinh?

Le bois contient en essence le feu
Et ce feu parfois renaît
Pourquoi dire qu’il n’y réside pas,
Si le feu jaillit quand on fore le bois.

Nguyễn Khắc Viện (Traduction)

Il se servit de ce kê (une sorte de stance bouddhique) pour laisser entendre que le bois désigne la personne et le feu, la nature du Bouddha (Phật tính) que la personne en question a toujours dans son coeur. Il évoqua ainsi le problème de la vie et de la mort en rappelant à son disciple de ne pas s’en inquiéter à cause du changement constant de la nature et en lui laissant le soin de trouver sa voie de l’éveil par l’amélioration de ses efforts individuels.

Le bouddhisme vietnamien trouva son âge d’or sous les dynasties Lý (1009-2225) et Trần (1226-1400) . Selon le chercheur Nguyễn Thế Anh, le Vietnam était essentiellement un pays bouddhiste sous ces deux dynasties comme c’était le cas du royaume theravàda d’Ayutthaya. Mais il y a quand même une dissemblance visible dans la mesure où ce royaume siamois continue à lire les textes bouddhiques en sankscrit et en pali et à considérer le salut comme la résultante des efforts accomplis par l’individu lui-même pour atteindre à la bouddhéité. Quant au bouddhisme vietnamien, il accepte d’emprunter non seulement le chinois classique pour lire ces textes bouddhiques mais aussi la voie collective dans le salut.

Avant d’être le fondateur de la dynastie des Lý, Lý Công Uẩn (974-1028) entama sa jeunesse dans la pagode Cổ Pháp où son père adoptif, le moine Khánh Vân le présenta, à l’âge de 7 ans, à un moine célèbre Vạn Hạnh de l’école Vinitaruci qui deviendra plus tard son conseiller éminent en matière de politique intérieure et de diplomatie. Il nous laissa avant sa mort un kê intitulé Thi Đệ Tử (Conseil aux disciples) :

Thân như bóng chớp có rồi không
cối xanh tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông

La vie de l’homme est un éclair sitôt né sitôt disparu
Verdoyant au printemps, l’arbre se dépouille à l’automne
Grandeur et décadence pourquoi s’en effrayer?
Epanouissement et déclin ne sont que des gouttes de rosée perlant sur un brin d’herbe
Nguyễn Khắc Viện


Hiérarchie religieuse dans la pagode

Les moines sont des « tăng » et les femmes des « ni » en vietnamien. Les petits novices sont appelés des « tiểu ». Au bout d’un certain temps de pratique dans la pagode, ils obtiennent le grade de sadi (ou sư bác). Le moine peut être élevé au rang de « ti-kheo » ou « đại đức » sur la proposition des autres religieux. Il pourra être promu « thượng tọa » après avoir entamé au moins 25 ans de pratique et un certain niveau de la connaissance du bouddhisme. Il sera hoà thượng s’il arrive à remplir les deux conditions suivantes: 40 ans au moins dans la religion et la possession indiscutable des vertus morales. Lire la suite (Tiếp theo)


 

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) 5ème partie

pagode5

Cinquième partie

Malgré son arrivée prématurée au Vietnam au début de l’ère chrétienne, le bouddhisme trouva seulement son plein essor et son épanouissement après l’indépendance de ce pays. Le bouddhisme vietnamien dont le courant est mahayaniste tient compte davantage du salut collectif que du salut individuel tandis que le bouddhisme theravàda considérait le salut comme le résultat des efforts accomplis par l’individu pour atteindre l’éveil et pour devenir un boddhisattva. Au commencement de son implantation, le bouddhisme ne rencontra aucune réticence de la part des Vietnamiens car il accepta facilement leur paganisme traditionnel. Les légendes Thích Quang Phật et Man Nương Phật Mẫu témoignèrent de la facilité d’agréger les croyances populaires au bouddhisme. De plus, cette religion importée de bonne heure fut sous l’influence indienne qui selon le chercheur Hà Văn Tấn, dura jusqu’au Vème siècle. Le gouverneur chinois Sĩ Nhiếp (177-266) était accompagné souvent en ville par des religieux venant de l’Inde (người Hồi) ou de l’Asie Centrale (Trung Á) à chaque sortie. À la fin du IIè siècle, fut établi à la citadelle Luy Lâu (Bắc Ninh), un premier centre bouddhique avec une vingtaine de pagodes. Beaucoup de religieux indiens et étrangers tels que Ksudra (Khâu Đà Là), Mahajivaca, Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian ne tardèrent pas y séjourner et y prêcher l’enseignement du Bouddha. Le nombre de moines étrangers fut si important que Giao Châu devint en quelques années plus tard le centre de traduction des sutras parmi lesquels figurait le fameux sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) traduit par le moine Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi) dans le courant du IIIè siècle. Il est aussi important de noter que dans une courte période de six ans (542-547), le roi Lý Nam Đế (Lý Bí) de la dynastie des Lý antérieurs réussit à libérer le Vietnam de la domination chinoise et ordonna la construction de la pagode Khai Quốc (Fondation de la Nation) qui devient aujourd’hui la pagode célèbre Trấn Quốc à Hànội. Le nouveau nom Trấn Quốc data du règne du roi Lê Hy Tông (1680-1705). Selon le moine Thích Nhất Hạnh, on a été porté à croire par erreur dans le passé que le moine indien Vinitaruci introdusit le bouddhisme dhyana vietnamien (Thiền) à la fin du VIè siècle. Lors de son passage à Luy Lâu en l’an 580, il résida dans le monastère Pháp Vân appartenant à l’école dhyana. C’est aussi à cette époque que le moine dhyana Quán Duyên était en train d’y enseigner le dhyana. D’autres moines vietnamiens furent allés en Chine pour enseigner le dhyana avant l’arrivée du fameux moine Bodhidharma reconnu comme le patriarche de l’école dhyana chinoise. Désormais, on sait que c’est au moine Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) le mérite d’introduire le bouddhisme dhyana au Vietnam.

Né à Giao Châu et issu d’une famille d’origine sogdiane, le moine Khương Tăng Hội n’est pas seulement le précurseur du bouddhisme dhyana vietnamien mais aussi l’un des premiers maîtres ayant enseigné le dhyana en Chine. Plusieurs sectes dhyana commencèrent à se développer et à prospérer à Giao Châu (Vietnam). Parmi celles-ci, il y a trois sectes importantes: Vinitaruci (Tì Ni Đa Lưu Chi), Vô Ngôn Thông et Thảo Đường. C’est avec Vinitaruci qu’on traite le sujet de la nature de l’éveil et qu’on trouve les méthodes de méditation visant à détruire les attachements mentaux. Il y a l’influence notable du bouddhisme tantrique (Mật Tông) dans cette école. C’est Vinitaruci qui a initié ses disciples à la notion du sceau de l’esprit (Tâm Ấn) d’origine tantrique. Cette école convient parfaitement à la mentalité de la masse populaire vietnamienne dans la mesure où la vie religieuse n’est pas séparée de la vie du peuple. Cette secte dura du VIè siècle jusqu’au XIIIè siècle. Les illustres moines ( La Qúi An, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Sùng Phạm, Đạo Hạnh, Minh Khộng) étaient issus de cette école.

La secte que le moine chinois Vô Ngôn Thông fonda au Vietnam en l’an 820 prêcha la doctrine de l’Eveil soudain(satori )( ou Giác Ngộ nhanh chóng en vietnamien ). Les disciples célèbres Khuông Việt, Thiền Lão, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Không Lộ, Thường Chiếu faisaient partie de cette école. Celle-ci ne put durer que 4 siècles (du IXè siècle jusqu’au XIIIè siècle).

Quant à l’école Thảo Đường, elle fut fondée en l’an 1069 par un maître illustre chinois de nom Thảo Đường, un prisonnier de guerre que le roi Lý Thánh Tôn avait réussi à capturer à Đông Dương lors d’une expédition militaire au Champa. Etant disciple d’un grand moine poète chinois de nom Siue-Teou, Thảo Đường prêcha un enseignement porté plutôt sur les aspects littéraires et intellectuels. Parmi les disciples célèbres de cette école, il y a le roi Lý Thánh Tôn, Bát Nhã, Ngộ Xá, Không Lộ, le roi Lý Cao Tôn etc.. Cette école fut de courte durée (de 1069 à 1205) mais cela n’empêcha pas de favoriser la synthèse bouddhéo-confucianiste et l’influence notable sur les deux autres écoles Vinitaruci et Vô Ngôn Thông dans les années à venir. Lire la suite (Tiếp theo)

 


Références bibliographiques

Histoire du bouddhisme vietnamien. Thích Nhất Hạnh. Ecole pratique des hautes études. Sciences historiques et philologiques. Annuaire 1974-1975. 1975 pp. 941-944

Le bouddhisme dans la pensée politique du Vietnam traditionnel. Nguyễn Thế Anh. BEFEO. Tome 89, 2002, pp 127-143

Chùa Việtnam. Hà Văn Tấn. Nhà Xuất Bãn Khoa Học Xã Hội. Hànội 1993

Mille ans de littérature vietnamienne. Une anthologie Nguyễn Khắc Viện. Hữu Ngọc. Edition Picquier poche. Janvier 2000

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) 4ème partie

 

pagode3

Quatrième partie

Avec le troisième caractère Tam, il y a trois rangées transversales parallèles reliées souvent au milieu par des petits ponts ou par un couloir. C’est le cas des pagodes Kim Liên (Hànội) et Tây Phương (Hà Tây). La première rangée correspond à un groupe de bâtiments dont le premier s’appelle souvent sous le nom « salle antérieure ou tiền đường ». Connu parfois sous le nom vietnamien de « bái đường », celui-ci sert à recevoir tous les fidèles. Il est protégé à son entrée par les divinités gardiennes (ou dvàrapalàs ou hộ pháp) qui, aux traits menaçants, portent la cuirasse et montrent leurs armes (hallebarde, heaume etc..). Parfois, trônent aux côtés de cette salle antérieure les dix rois des enfers (Thập điện diêm vương ou Yamas) ou au couloir les 18 arhats (Phật La Hán) dans leurs différentes postures. C’est le cas de la pagode (Chùa Keo) où sont présents les 18 arhats dans la salle antérieure. Parfois il y a aussi les génies du sol ou le génie protecteur des biens de la pagode (Đức Ông). L’une des caractéristiques de la pagode vietnamienne est la présence de la déesse mère Mẫu Hạnh (Liễu Hạnh Công Chúa), l’un des 4 personnages adorés par les Vietnamiens. Sa vénération est visible par exemple dans la salle antérieure de la pagode Mía (Chùa Mía, Hà Tây). Puis dans un deuxième bâtiment légèrement surélevé par rapport au premier, on trouve des brûle-parfums ainsi que la stèle de pierre racontant l’histoire de la pagode. C’est pourquoi il a pour nom « nhà thiêu hương (ou salle de consommation d’encens) ». C’est aussi au fond de ce bâtiment qu’il y a un autel devant lequel les moines récitent les prières avec les fidèles en frappant sur un grelot en bois (mõ) et une cloche renversée en bronze (chuông). Il est possible de rencontrer parfois dans ce groupe de bâtiments la cloche si l’emplacement du clocher (gác chuông) n’est pas prévu à côté (ou à l’étage) du porche. Quelle que soit la taille de la pagode, on doit trouver au minimum trois bâtiments pour cette première rangée.

Après celle-ci, on se retrouve avec la rangée la plus importante de la pagode qui correspond à la salle des autels principaux (thượng điện). C’est ici qu’on a le panthéon aussi riche que hiérarchisé. Celui-ci est réparti sur trois socles. On trouve sur le plus haut socle adossé contre le mur du fond, l’autel des Bouddhas des Trois Eres (Tam Thế). Sur cet autel, figurent dans la conception du bouddhisme Màhayàna (Phật Giáo Đại Thừa) les trois statues représentant le Passé (Quá Khứ), le Présent (Hiện Tại) et le Futur (Vị Lai), chacune assise dans un trône de lotus. Sur le deuxième socle posé légèrement inférieur au premier trônent les trois statues dites trois existences avec le Bouddha Amitabha (Phật A Di Đà) au milieu, le Boddhisattva Avalokitecvara à gauche (Bồ Tát Quan Âm) et le Boddhisattva Mahasthanarrata à droite (Bồ Tát Đại Thế Chí). D’une manière générale, le Bouddha Amitabha est de stature plus imposante par rapport aux deux autres. Leur présence témoigne de l’importance accordée par les Vietnamiens à l’existence de la Terre pure (Tịnh Độ) dans le bouddhisme.

Cette croyance est tellement populaire auprès des Vietnamiens car selon eux, il existe le Paradis de l’Ouest (Sukhàvati ou Tây Phương cực lạc) auquel préside le Bouddha de la Lumière Infinie (Amitabha) et vers lequel ce dernier guide les âmes des morts. En faisant appel à son nom, le dévot pourrait accèder à ce paradis grâce à sa demande de la grâce auprès du Boddhisattva Avalokitecvara agissant comme intercesseur. Selon le chercheur vietnamien Nguyễn Thế Anh, c’est le moine Thảo Đường ramené au pays par le roi Lý Thánh Tôn lors de son expédition militaire au Champa (Đồng Dương), qui proposerait ce procédé de l’illumination au moyen de l’intuition et de l’engourdissement de l’esprit par la récitation du nom de Bouddha. C’est aussi pour cela que les bouddhistes vietnamiens ont l’habitude de prononcer A Di Đà (Amitabha) à la place du mot « bonjour » lorsqu’ils se rencontrent.

Schéma de l’agencement d’intérieur de la

pagode avec le caractère Công

pagode4

Enfin sur le dernier socle plus bas et plus large que les deux autres, se trouvent Cakyamouni, le Bouddha du Présent et ses deux plus grands disciples: Kasyapa (Đại Ca Diếp) et son cousin Ananda (Tôn Giả A Nan). Dans certaines pagodes, il y a un quatrième socle sur lequel figure le Bouddha du Futur Maitreya avec un boddhisattva Samantabhadra (Phổ Hiền Bồ Tát), symbole de la pratique à sa droite et un boddhisattva Manjusri (Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi), symbole de la sagesse à sa gauche. Le nombre de statues exposées sur les autels varie en fonction de la renommée de la pagode en question. Il est dû en grande partie à des offrandes de la part des fidèles. C’est le cas de la pagode Mía (Chùa Mía) où on dénombre 287 statues, celui de la pagode Trăm Gian (Hà Tây) avec 153 statues etc…

Quant à la dernière rangée de la pagode (ou hậu đường), elle correspond à la salle postérieure et elle a le caractère multifonctionnel. Certaines pagodes la réservent à l’habitation des religieux (tăng đường). D’autres s’en servent pour la faire devenir lieu de culte des génies ou des héros comme Mạc Đĩnh Chi (pagode Chùa Dâu) ou Đặng Tiến Đông (pagode Trăm Gian, Hà Tây). C’est pourquoi on est habitué à dire: tiền Phật hậu Thần ( Le Bouddha devant et les Génies derrière). C’est le schéma inverse qu’on doit retrouver dans un temple (đình): Tiền Thần, Hậu Phật. (Les génies devant et le Bouddha derrière). On y trouve parfois un clocher ou un pavillon des Mânes pour les trépassés. 

Parfois, on réserve une pièce ou un autel dédié à ceux qui ont investi beaucoup d’argent dans la construction ou l’entretien de la pagode. La plupart des donateurs étaient des femmes, celles ayant une influence notable dans les affaires d’état. C’est le cas de la princesse Mía, l’une des concubines du seigneur Trịnh. On lui a réservé spécialement dans la pagode Mía un autel proche de celui du Bouddha. Dans la pagode Bút Tháp, on trouve carrément une salle destinée à la vénération des donatrices telles que la grande reine Trịnh Thị Ngọc Cúc, les princesses Lê Thị Ngọc Duyên et Trịnh Thị Ngọc Cơ. Ce sont des personnages ayant participé financièrement à la construction de cette pagode au XVIIème siècle. 

Dans l’arrière-cour de la pagode, on découvre soit un jardin avec des stupas soit un mare aux nénuphars. C’est le cas de la pagode Phát Tích dont l’arrière-cour comporte 32 stupas de taille différente dans son jardin. On trouve parfois dans l’agencement intérieur de la pagode vietnamienne la forme du caractère Đinh (丁). Celui-ci est le quatrième signe du cycle décimal usité dans le calendrier chinois. C’est le cas de la pagode Nhất Trụ construite par le roi vietnamien Lê Đại Hành à Hoa Lư (Ninh Bình), ancienne capitale du Vietnam et de la pagode Phúc Lâm (Tuyên Quang) édifiée sous la dynastie des Trần (XIII-XIVème siècle).

Le caractère auquel la plupart des pagodes vietnamiennes ont recours souvent dans leur agencement intérieur reste le caractère Công (工). Outre les rangées principales détaillées à l’intérieur de la pagode, il existe deux longs couloirs reliant la salle antérieure (tiền đường) à la salle postérieure (hậu đường). Cela crée un cadre ayant la forme d’un rectangle et englobant ainsi les rangées principales citées jusqu’alors dans le caractère Tam. Cette disposition a l’aspect du caractère Công à l’intérieur de la pagode mais vu de l’extérieur, on a l’impression d’avoir le caractère Quốc ( 国) avec l’encadrement complété par les deux longs couloirs. 

 

Pagode du Việt Nam: 2ème partie (VF)

pagode2

Version vietnamienne
Version anglaise

On se donne le nom « Thầy ou maître » car c’est ici que le moine bouddhiste Từ Đạo Hạnh, a inventé et enseigné à la population locale un art unique en son genre: le théâtre des marionnettes sur l’eau. Il y a aussi la pagode Côn Sơn située sur le mont de même nom, à 60km de Hànội dans la province de Hải Dương. Constituée d’une vingtaine d’édifices, celle-ci se niche dans la pinède au sommet d’un escalier de quelques centaines de marches. C’est ici qu’en se retirant de la vie politique, l’humaniste célèbre Nguyễn Trãi nous a laissé un poème inoubliable intitulé « Le Chant de Côn Sơn (Côn Sơn Ca) » où il a décrit le paysage magnifique de ce mont et il a tenté de résumer la vie d’un homme qui ne peut durer que cent ans au plus et pour laquelle chacun cherche ce qu’il désire avant de retomber finalement en herbes et poussière. Mais la pagode la plus visitée reste celle des Parfums (Chùa Hương). Celle-ci est en fait un complexe d’édifices construits dans les falaises de montagne. Située à 60 km au sud-ouest de la capitale, elle est l’un des sanctuaires nationaux fréquentés par la plupart des Vietnamiens avec la pagode Bà Chúa Xứ (Châu Đốc) à proximité de la frontière du Cambodge lors de la fête du Tết. Au centre du Vietnam, la pagode de la Dame céleste (Chùa Thiên Mụ), située en face de la rivière des Parfums (sông Hương) ne manque pas de charme tandis qu’au sud, dans la province de Tây Ninh, non loin de Saïgon, se blottit sur le mont de la Dame noire (núi Bà Đen) une pagode portant le même nom.

Dans la seule capitale Hanoï, on recense au moins 130 pagodes aux alentours. Il y autant de villages que de pagodes. Il est difficile de tout énumérer. Mais à cause des caprices du temps et des ravages provoqués par la guerre, il existe un nombre infime d’édifices ayant réussi à garder intact le style architectural et sculptural datant des dynasties Lý, Trần et Lê.

Parfois le méfait humain est responsable de la destruction de certaines pagodes célèbres. C’est le cas de la pagode Báo Thiên dont l’emplacement a été cédé aux autorités coloniales françaises pour la construction de l’église de style néo-gothique Saint-Joseph qu’on voit aujourd’hui au coeur de la capitale, non loin du lac célèbre de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm) (Hànội). D’une manière générale, la plupart des pagodes d’aujourd’hui, gardent visiblement la trace de restauration et de rénovation sous la dynastie des Nguyễn. Par contre, leurs objets cultuels, leurs statues en pierre et en bronze ont été moins altérés et ont conservé l’état initial au fil des siècles. De plus, lorsqu’on s’avance dans le centre et dans le Sud du Vietnam, on s’aperçoit que les influences chame et khmère ne sont pas absentes dans l’architecture des pagodes car ces territoires appartenaient dans le passé respectivement aux royaumes du Champa et du Founan.

Malgré le nombre considérable de pagodes et la variété de leur taille, l’agencement de leurs bâtiments s’opère de façon immuable. Il est facile de le reconnaître grâce aux 6 caractères célèbres chinois suivants:. Nhất, Nhị, Tam, Đinh, Công et Quốc (ou 一, 二 , 三 ,丁, 工 et en chinois). La simplicité est visible dans le modèle identifié par le premier caractère Nhất où les bâtiments se succèdent en une seule rangée transversale face au porche (Tam Quan). C’est ce qu’on trouve dans la plupart des pagodes des villages n’ayant aucune subvention de l’état ou dans le delta du Mékong au Sud Vietnam. Le deuxième caractère Nhị signifiant « deux » rappelle bien la disposition de deux rangées transversales parallèles face au porche. Celui-ci a l’avantage d’avoir au moins trois portes latérales et dessert une cour où la végétation est luxuriante et omniprésente grâce aux bosquets d’arbustes et aux fleurs en pots. Parfois on se retrouve avec une mare aux lotus et aux nénuphars, ce qui ne manque pas de rappeler la sérénité en accord avec la nature. 

Avec le troisième caractère Tam, il y a trois rangées transversales parallèles reliées souvent au milieu par des petits ponts ou par un couloir. C’est le cas des pagodes Kim Liên (Hànội) et Tây Phương (Hà Tây). La première rangée correspond à un groupe de bâtiments dont le premier s’appelle souvent sous le nom « salle antérieure ou tiền đường ». Connu parfois sous le nom vietnamien de « bái đường », celui-ci sert à recevoir tous les fidèles. Il est protégé à son entrée par les divinités gardiennes (ou dvàrapalàs ou hộ pháp) qui, aux traits menaçants, portent la cuirasse et montrent leurs armes (hallebarde, heaume etc..). Parfois, trônent aux côtés de cette salle antérieure les dix rois des enfers (Thập điện diêm vương ou Yamas) ou au couloir les 18 arhats (Phật La Hán) dans leurs différentes postures. C’est le cas de la pagode (Chùa Keo) où sont présents les 18 arhats dans la salle antérieure. Parfois il y a aussi les génies du sol ou le génie protecteur des biens de la pagode (Đức Ông). L’une des caractéristiques de la pagode vietnamienne est la présence de la déesse mère Mẫu Hạnh (Liễu Hạnh Công Chúa), l’un des 4 personnages adorés par les Vietnamiens. Sa vénération est visible par exemple dans la salle antérieure de la pagode Mía (Chùa Mía, Hà Tây). Puis dans un deuxième bâtiment légèrement surélevé par rapport au premier, on trouve des brûle-parfums ainsi que la stèle de pierre racontant l’histoire de la pagode. C’est pourquoi il a pour nom « nhà thiêu hương (ou salle de consommation d’encens) ». C’est aussi au fond de ce bâtiment qu’il y a un autel devant lequel les moines récitent les prières avec les fidèles en frappant sur un grelot en bois (mõ) et une cloche renversée en bronze (chuông). Il est possible de rencontrer parfois dans ce groupe de bâtiments la cloche si l’emplacement du clocher (gác chuông) n’est pas prévu à côté (ou à l’étage) du porche. Quelle que soit la taille de la pagode, on doit trouver au minimum trois bâtiments pour cette première rangée.

Après celle-ci, on se retrouve avec la rangée la plus importante de la pagode qui correspond à la salle des autels principaux (thượng điện). C’est ici qu’on a le panthéon aussi riche que hiérarchisé. Celui-ci est réparti sur trois socles. On trouve sur le plus haut socle adossé contre le mur du fond, l’autel des Bouddhas des Trois Eres (Tam Thế). Sur cet autel, figurent dans la conception du bouddhisme Màhayàna (Phật Giáo Đại Thừa) les trois statues représentant le Passé (Quá Khứ), le Présent (Hiện Tại) et le Futur (Vị Lai), chacune assise dans un trône de lotus. Sur le deuxième socle posé légèrement inférieur au premier trônent les trois statues dites trois existences avec le Bouddha Amitabha (Phật A Di Đà) au milieu, le Boddhisattva Avalokitecvara à gauche (Bồ Tát Quan Âm) et le Boddhisattva Mahasthanarrata à droite (Bồ Tát Đại Thế Chí). D’une manière générale, le Bouddha Amitabha est de stature plus imposante par rapport aux deux autres. Leur présence témoigne de l’importance accordée par les Vietnamiens à l’existence de la Terre pure (Tịnh Độ) dans le bouddhisme.

Cette croyance est tellement populaire auprès des Vietnamiens car selon eux, il existe le Paradis de l’Ouest (Sukhàvati ou Tây Phương cực lạc) auquel préside le Bouddha de la Lumière Infinie (Amitabha) et vers lequel ce dernier guide les âmes des morts. En faisant appel à son nom, le dévot pourrait accèder à ce paradis grâce à sa demande de la grâce auprès du Boddhisattva Avalokitecvara agissant comme intercesseur. Selon le chercheur vietnamien Nguyễn Thế Anh, c’est le moine Thảo Đường ramené au pays par le roi Lý Thánh Tôn lors de son expédition militaire au Champa (Đồng Dương), qui proposerait ce procédé de l’illumination au moyen de l’intuition et de l’engourdissement de l’esprit par la récitation du nom de Bouddha. C’est aussi pour cela que les bouddhistes vietnamiens ont l’habitude de prononcer A Di Đà (Amitabha) à la place du mot « bonjour » lorsqu’ils se rencontrent.

Schéma de l’agencement d’intérieur de la

pagode avec le caractère Công

pagode4

Enfin sur le dernier socle plus bas et plus large que les deux autres, se trouvent Cakyamouni, le Bouddha du Présent et ses deux plus grands disciples: Kasyapa (Đại Ca Diếp) et son cousin Ananda (Tôn Giả A Nan). Dans certaines pagodes, il y a un quatrième socle sur lequel figure le Bouddha du Futur Maitreya avec un boddhisattva Samantabhadra (Phổ Hiền Bồ Tát), symbole de la pratique à sa droite et un boddhisattva Manjusri (Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi), symbole de la sagesse à sa gauche. Le nombre de statues exposées sur les autels varie en fonction de la renommée de la pagode en question. Il est dû en grande partie à des offrandes de la part des fidèles. C’est le cas de la pagode Mía (Chùa Mía) où on dénombre 287 statues, celui de la pagode Trăm Gian (Hà Tây) avec 153 statues etc…

Quant à la dernière rangée de la pagode (ou hậu đường), elle correspond à la salle postérieure et elle a le caractère multifonctionnel. Certaines pagodes la réservent à l’habitation des religieux (tăng đường). D’autres s’en servent pour la faire devenir lieu de culte des génies ou des héros comme Mạc Đĩnh Chi (pagode Chùa Dâu) ou Đặng Tiến Đông (pagode Trăm Gian, Hà Tây). C’est pourquoi on est habitué à dire: tiền Phật hậu Thần ( Le Bouddha devant et les Génies derrière). C’est le schéma inverse qu’on doit retrouver dans un temple (đình): Tiền Thần, Hậu Phật. (Les génies devant et le Bouddha derrière). On y trouve parfois un clocher ou un pavillon des Mânes pour les trépassés. 

Parfois, on réserve une pièce ou un autel dédié à ceux qui ont investi beaucoup d’argent dans la construction ou l’entretien de la pagode. La plupart des donateurs étaient des femmes, celles ayant une influence notable dans les affaires d’état. C’est le cas de la princesse Mía, l’une des concubines du seigneur Trịnh. On lui a réservé spécialement dans la pagode Mía un autel proche de celui du Bouddha. Dans la pagode Bút Tháp, on trouve carrément une salle destinée à la vénération des donatrices telles que la grande reine Trịnh Thị Ngọc Cúc, les princesses Lê Thị Ngọc Duyên et Trịnh Thị Ngọc Cơ. Ce sont des personnages ayant participé financièrement à la construction de cette pagode au XVIIème siècle. 

Dans l’arrière-cour de la pagode, on découvre soit un jardin avec des stupas soit un mare aux nénuphars. C’est le cas de la pagode Phát Tích dont l’arrière-cour comporte 32 stupas de taille différente dans son jardin. On trouve parfois dans l’agencement intérieur de la pagode vietnamienne la forme du caractère Đinh (). Celui-ci est le quatrième signe du cycle décimal usité dans le calendrier chinois. C’est le cas de la pagode Nhất Trụ construite par le roi vietnamien Lê Đại Hành à Hoa Lư (Ninh Bình), ancienne capitale du Vietnam et de la pagode Phúc Lâm (Tuyên Quang) édifiée sous la dynastie des Trần (XIII-XIVème siècle).

Le caractère auquel la plupart des pagodes vietnamiennes ont recours souvent dans leur agencement intérieur reste le caractère Công (). Outre les rangées principales détaillées à l’intérieur de la pagode, il existe deux longs couloirs reliant la salle antérieure (tiền đường) à la salle postérieure (hậu đường). Cela crée un cadre ayant la forme d’un rectangle et englobant ainsi les rangées principales citées jusqu’alors dans le caractère Tam. Cette disposition a l’aspect du caractère Công à l’intérieur de la pagode mais vu de l’extérieur, on a l’impression d’avoir le caractère Quốc () avec l’encadrement complété par les deux longs couloirs. 

[Retour RELIGION]


Références bibliographiques

À la recherche de la culture vietnamienne. Hữu Ngọc. Editions Thế Giới 2011

Quan Thế Âm Bồ Tát . Facebook

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam): 2ème partie

 

pagode1

Deuxième partie

Jusqu’à aujourd’hui, on ne réussit pas à élucider encore l’origine du mot « Chùa ». Aucun lien n’est trouvé dans l’étymologie du mot chinois « tự (pagode) ». Selon certains spécialistes, il faut chercher son origine dans le mot pali « thupa » ou « stupa » écrit en sanksrit car au début de sa construction, la pagode vietnamienne avait l’apparence d’un stûpa. Comme les Vietnamiens sont habitués à écourter dans leur prononciation syllabique les mots importés de l’étranger, le mot « stupa » devient dès lors le mot « stu » ou « thu » pour aboutir rapidement au fil des années au mot « chùa ». Selon le chercheur vietnamien Hà Văn Tấn, ce n’est qu’une hypothèse.

Quant au mot « Chiền » trouvé dans la langue ancienne du Vietnam (tiếng Việt cổ), il est utilisé aujourd’hui en association avec le mot « Chùa » pour évoquer l’architecture de la pagode. Pourtant ce mot « Chiền » est mentionné souvent seul dans le passé pour désigner la pagode. C’est ce qu’on a trouvé dans le poème intitulé « Chiền vắng am thanh (pagode désertée, asile solitaire) » du roi zhen Trần Nhân Tôn ou celui de Nguyễn Trãi « Cảnh ở tự chiền (ou Paysage de la pagode) ». Pour un grand nombre de gens, ce mot « Chiền » trouve son origine soit dans le mot pali « cetiya » soit dans le mot sanksrit « Caitya » pour désigner en tout cas l’autel du Bouddha.

L’édification de la pagode nécessite autant de temps que d’efforts dans la recherche et l’exploration préalable du terrain. Celui-ci doit répondre rigoureusement à un certain nombre de critères définis dans la géomancie car selon les Vietnamiens, cette science pourrait exercer une influence néfaste ou non sur la vie sociale des villageois. Le moine Khổng Lộ de l’école Vô Ngôn Thông (1016-1094), conseiller de la dynastie des Lý, a eu l’occasion d’aborder ce sujet dans l’un de ses poèmes avec le vers suivant: Tuyển đắc long xà địa khả cư (Chọn được đất rồng rắn có thể ở yên)( ou le choix du meilleur terrain peut apporter le confort de vie au quotidien). On est habitué à construire la pagode soit sur une colline ou un tertre soit sur une étendue assez élevée pour qu’elle puisse dominer les habitations des villageois. C’est pourquoi l’expression « Lên Chùa ( ou monter à la pagode ) liée incontestablement à la topographie de la pagode est employée habituellement par les Vietnamiens même lorsque cet édifice en question est situé sur un terrain plat.

Dans la plupart des pagodes, en particulier dans celles localisées au Nord du Vietnam, le cadre est à la fois serein, mystique et magnifique. Les cours d’eau, les montagnes, les collines, les ruisseaux etc .. y sont toujours présents, ce qui donne parfois des paysages à couper le souffle par leur intégration harmonieuse avec la nature. C’est le cas de la pagode Thầy (ou la pagode du maître) entre montagne et eau. Elle se perche sur le mont de Thầy dans la province de Hà Tây, à 20 km de la capitale Hànội. Lire la suite (Tiếp theo)

 


Références bibliographiques

Pagodes du Vietnam. Ann Helen Unger. Walter Unger Abbe Ville Press. Paris 1997

130 pagodes de Hànộï. Nguyễn Thế Long- Phạm Mai Nùng. Editeur Thế Giới 2002

Chùa Việtnam. Hà Văn Tấn. Nhà Xuất Bãn Khoa Học Xã Hội. Hànội 1993

Kiến trúc Phật Giáo Việt Nam, Nguyễn Bá Lăng. Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saìgòn, 1972

Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam/ Mai Thanh Hải. NXB Văn hóa Thông Tin. 2004

Recherche sur l’identité de la culture vietnamienne. Trần Ngọc Thêm Editions Thế Giới 2008

Un livre des moines bouddhistes dans le Việt Nam d’autrefois. L’École de l’Esprit aux X-XIIe siècles. Philippe Langlet, Dominique De Miscault, Paris, Aquilon, 2005

Pagode Bút Tháp (Bắc Ninh)


English version
Vietnamese version
Liste des photos 

La pagode Bút Tháp

est située approximativement à 30km de Hànội dans la province de Bắc Ninh.  Selon l’explication trouvée dans le livre intitulé « Địa chí Hà Bắc » (1982), son existence data de l’époque du roi  Trần Thánh Tông  (1258-1278).  Les gens locaux l’appellent fréquemment sous le nom « Pagode Bút Tháp »  car elle a une tour en forme de pinceau à écrire pour la calligraphie.  En dépit des restaurations multiples  entreprises dans le passé, cette pagode continue à garder son charme original.C’est le plus beau et le plus grand temple bouddhiste du Vietnam. C’est ici qu’on trouve les plus belles pièces de sculpture en bois du 17è siècle. (les statues de Tây Thiên Ðông Ðỗ Lịch Ðại Tổ et de Quan Âm) .

English version 

Bút Tháp pagoda is located approximatively at 30km from Hà-Nội in Bắc Ninh province. According to the explanation found in the book intituled ”Địa chí Hà Bắc” (1982), its existence was from the time of Trần Thánh Tông king  (1258-1278). The local people frequently  call it under the name ”Bút Tháp” because it has a tower in the paintbrush shape for calligraphy. Despite multiple restorations undertaken in the past, this pagoda continues to keep its original charm.
It is the most beautiful and largest Buddhist temple of Vietnam. It is here that one finds many beautiful pieces of wood sculpture dating from 17th century. (Tây Thiên Ðông Ðỗ Lịch Ðại Tổ and Quan Âm statues)


Chùa Bút Tháp 

Nằm cách xa Hànội khoảng chừng 30 cây số thuộc tỉnh Bắc Ninh.  Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa nầy  có từ đời vua Trần Thánh Tông  (1258-1278).  Sở dĩ dân chúng trong vùng gọi thường là chùa Bút Tháp vì chùa nầy có một tháp hình dáng tựa như  bút nghiên dùng trong thư pháp.   Dù bao lần trùng tu, sửa chữa , chùa nầy vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ của nó. Đây cũng là một trong những chùa đẹp   nhất ở miền Bắc. Ở nơi trong, còn có những pho tượng phật điêu khắc bằng gỗ tuyệt đẹp của thế kỹ 17 chẳng hạn như tượng  Tây Thiên Đông Đỗ Lịch Đại Tổ và Phật Bà Quan Âm.

Galerie des photos

 

[Return RELIGION]

Les mudras du Bouddha (Thủ Ấn)

English version
Vietnamese version

Les gestes symboliques du Bouddha icone_lotus

En fonction du pays de fabrication de la statue du Bouddha, l’artiste peut la représenter d’une manière différente. Par contre, il y a toujours certains caractères rituels immuables qu’il doit respecter scrupuleusement dans la statuaire bouddhique. C’est le cas du port et des gestes des mains du Bouddha (mudras). Etant en nombre limité, ceux-ci, complétés par la posture du corps (asana), permettent aux fidèles de tirer bénéfice de l’enseignement et de la philosophie du bouddhisme. On a l’habitude d’associer ces gestes symboliques aux différents épisodes de la vie du Bouddha (méditation sous l’arbre de Bodhi, prise de la terre à témoin, premier prédicat à Sarnath etc.).

Au lieu des textes bouddhiques auxquels peu de gens du peuple ont accès, ces mudras dans les représentations iconographiques du Bouddha sont de véritables outils de transmission religieuse. L’image est plus parlante car elle est basée sur des gestes simples et lisibles par tous à la place des textes bouddhiques parfois incompréhensibles. Conçues au départ par les yogis et les prêtres de l’époque védique en Inde, les mudras seront reprises et interprétées selon les sectes de Mahâyâna pour devenir au fil du temps l’une des techniques de représentation très codifiée. Elles constituent ainsi un langage extrêmement puissant car à travers un certain nombre de signes et de symboles, cela permet d’identifier le personnage sacré, de définir son rang et d’évoquer ses qualités.

mudras

Thủ Ấn

C’est le cas des divinités du panthéon bouddhique (Bodhisattvas, Amithâba etc..). C’est ce qu’on retrouve aussi dans de multiples pratiques à caractère religieux (danses, rites, méditations etc.) sans oublier de rappeler ce qu’on a vu aussi dans l’iconographie chrétienne avec ses saints placés à l’entrée des cathédrales du Moyen âge. Quelques mudras importantes sont fréquemment rencontrées dans l’iconographie bouddhique.

Abhaya mudra 

Mudra d’absence de la peur

 

(Ấn xúc địa) (Bhumisparsa Mudra)

Prise de la terre à témoin avec sa main droite.

C’est la Bhumiparsha-mudra. Dans ce geste, on voit que sa main droite est soulevée au dessus de son genou droit tandis que sa main gauche est posée en face de son ventre dans la position du lotus. Il prit la terre à témoin et appela la déesse de la terre Torani à sa rescousse. Pour tuer les hordes du Mal représenté par Mara, cette divinité fit déferler les flots en dénouant ses cheveux. Cette mudra annonce l’imminence de l’éveil. Au sortir de cette méditation, il annoncera les quatre nobles vérités (Tứ Diệu Đế): Dukka (souffrance), Samudaya (soif insatiable), Nirohda (extinction de la souffrance) et Marga Sacca (Voie du Bouddha vers l’extinction) pour atteindre le nirvana (libération finale).

Mudra de la méditation ( Ấn thiền )

Le Bouddha est assis avec les deux mains posées, paumes retournées sur ses jambes croisées en lotus. C’est la mudra de méditation qu’on retrouve souvent dans l’école zen. C’est la période de méditation du Bouddha sous l’arbre de l’éveil (bodhi) à Bihar.

 

Mudra de la charité  (Varada mudra)

Mudra d’argumentation et de l’enseignement (Ấn giáo hóa)

Assis en position de lotus, le Bouddha maintient sa main droite à la hauteur de son épaule, paume à l’extérieur, le pouce et l’index se touchant et les autres doigts étant relevés. Cette posture correspond bien à la discussion et à l’argumentation.

[Return RELIGION]

 

Le Caodaïsme (Cao Đài Giáo)

 

titre_caodai

English version
French version
Galerie des photos

Cao Đài gíáo được xem là một tôn giáo quan trọng đứng hàng thứ ba  ở Việtnam sau Phật giáo và Công giáo. Cao Đài  tức là nơi cao mà Thượng  để ngự trị.  Cao Đài giáo là một tôn giáo có tính pha trộn rất nhiều các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Công giáo,  Ấn Độ giáo, Hồi giáo,  Do Thái giáo,  Đạo giáo và nhất là kính trọng các truyền thống Vietnam. Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là đấng chí cao  sáng lập ra các tôn giáo và luôn cả vũ trụ này và thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời. Toà thánh Tây Ninh được tọa lạc tại thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh và cách xa khoảng 90 cây số  về phía đông nam của thành phố Saïgon. Số tín đồ theo đạo Cao Đài ước chừng 7 triệu người ở Việtnam và 30.000 ở hải ngoại nhất là ở Á Châu, Úc Châu, Gia Nã Đại, Âu Châu và Mỹ quốc.

Có 3 thời kỳ quan trọng trọng lịch sữ của đạo nầy.   Thời kỳ đầu và nhì được diễn ra ở thế kỷ 6 TCN.  Lần đầu thường được gọi là Nhất kỳ Phổ độ, Thượng đế xuất hiện dưới hình dạng của người lãnh tụ của Do Thái giáo, Đức  Phật  (Nhiên Đăng cổ Phật) ở Ấn Độ và Phục Hi ở Trung Hoa.  Lần thứ nhì thường gọi Nhị kỳ Phổ độ, ngài đến với Phật giáo qua  Sakyamuni, Khổng Giáo với Đừc Khổng Tử, Công Giáo với Đức Chúa Giêsu, Đạo giáo với Lão Tử và Hồi giáo với Mahomet.  Lần sau cùng là  Tam kỳ Phổ độ, ngài quyết định xuất hiện để truyền giảng cho tín đồ một cách trực tiếp qua hình thức cơ bút. Tất cả tôn giáo được xuất hiện trước Cao Đài giáo chỉ thể hiện dưới  các hình dạng khác nhau (tôn giáo) nhưng  cùng một chân lý mà còn tùy ở thời đại, nơi  phát hiện, phong tục tập quán của dân gian nhằm  để giáo dục nhân loại và dẫn đến con đường nhân nghĩa  hạnh phúc  dưới sự dìu dắt của Thầy.  Triết lý và niềm tin tín ngưỡng mà đạo Cao Đài giảng dạy rất giản dị nhưng tạo ra không ít sự hoang mang vì  đạo nầy rất thích hợp  với đạo lý nhiều hơn là mang tính chất huyền bí.  

  • Thờ cúng tổ tiên.
  • -Luyện tập thiền định.
  • -Thực tập ăn chay trong đời sống
  • -Bất  bạo động
  • -Tôn trọng mọi  hình thức tín ngưỡng
  • -Tu tập giải thoát luân hồi

Tránh làm 5 điều tối kỵ như sau:

  • Không giết bất cứ sinh vật
  • Không có gian dối
  • Không có uống rượu
  • Không có ngoại tình
  • Không có làm tổn thương qua lời nói

Cầu nguyện một lần trong ngày và ăn chay ít nhất  10 ngày trong tháng.  Các lễ  cầu nguyện được diễn ra  ở  toà thánh Tây Ninh mỗi ngày với các giờ chỉ định: 6 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ. 

Version française

Le caodaïsme est la troisième religion importante au Vietnam après le bouddhisme et le christianisme. Cao signifie « Haut » et Ðài  » Palace ». Cao Đài est la suprême palace où règne Dieu. Le caodaïsme est une religion syncrétique qui englobe et combine plusieurs éléments à partir des religions principales: le Bouddhisme, le Confucianisme, le Catholicisme, l’Hindouisme, l’Islam, le Judaïsme et le Taoïsme tout en prenant en compte les traditions vietnamiennes. Le Saint Siège se trouve à Tây Ninh, à 90 km du Nord-Ouest de Saigon. Le nombre de ses fidèles s’élève à 7 millions au Vietnam et 30.000 à l’étranger, en particulier en Asie, Australie, Canada, Europe et les Etats-Unis.

Galerie des photos

Article: Être caodaïste (Tôi là người Cao Đài)

img_9502 On trouve dans l’histoire de cette religion les trois périodes importantes de révélations. La première et la deuxième avaient lieu VIème siècle avant notre ère. Au cours de la première manifestation, Dieu fut apparu sous les trois formes du leader judaïste en Moyen-Orient, de Bouddha Dipankara en Inde et de Fou-Hi symbolisant le culte de l’humanité en Chine. Au cours de la deuxième manifestation, le bouddhisme réapparut sous la forme Sakyamuni, le confucianisme sous celle de Confucius, le christianisme sous celle de Jésus-Christ, le taoïsme sous celle de Lao- Tseu et l’Islam sous celle de Mahomet. Quant à la troisième manifestation, Dieu a décidé de se révéler lui-même. Cette troisième manifestation basée sur le bouddhisme est appelée souvent sous le nom « Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ« . Toutes les religions qui ont précédé la révélation du caodaïsme ne sont que des formes différentes issues de la même vérité  suivant l’époque, les lieux de révélations, les us et coutumes des peuples en vue d’éduquer l’humanité et de l’amener vers le chemin du Bien dans la voie de Dieu. La philosophie et la profession de foi du caodaïsme sont d’une simplicité déconcertante, plus proche de la morale que de la transcendance mystique.

  • -Respect du culte des ancêtres
  • -Pratique de la méditation.
  • -Pratique du végétarisme.
  • -Suppression de la violence
  • -Respect de toutes les formes religieuses.
  • -Recherche de la libération du cycle de réincarnations

Respect des 5 interdictions suivantes:

  • Ne tuer aucune vie
  • Ne pas être malhonnête
  • Ne pas boire
  • Ne pas commettre l’adultère
  • Ne pas offenser par des mots

Prier au moins une fois par jour et pratiquer un régime végétarien au moins 10 jours par mois. La messe a lieu au saint siège de Tây Ninh tous les jours et se déroule à des heures bien précises:
6h, 12 heures, 18 heures et 24 heures.

[Return RELIGION]