Pagode Dâu (Bắc Ninh)

 

Pagode Dâu, berceau du bouddhisme vietnamien
 

La pagode Dâu vue à partir de sa porche 

Version vietnamienne
English version
Galerie des photos

Loin de Hanoï d’une trentaine de kilomètres, la pagode Dâu est la pagode la plus ancienne du Vietnam car elle fut édifiée au début de l’ère chrétienne dans la région Dâu connue fréquemment à cette époque sous le nom « Luy Lâu ».  Au temps des Han (les Chinois), Lũy Lâu  fut considérée comme la capitale de Giao Châu ( Giao Chỉ) de  111 av. J.C jusqu’à 106 av. J.C. À cette époque, elle reçut très tôt, selon le chercheur vietnamien Hà Văn Tấn,  l’influence bouddhiste venant de l’Inde jusqu’au Vème siècle. Le gouverneur chinois Shi Xie ( Sĩ Nhiếp en vietnamien)  (177-266) était accompagné souvent en ville par des religieux venant de l’Inde (người Hồi) ou de l’Asie Centrale (Trung Á) à chaque sortie. À la fin du IIème siècle, Luy Lâu devint le premier centre bouddhique vietnamien avec les cinq pagodes anciennes: la pagode Dâu dédiée au Génie des nuages  Pháp Vân (“thần mây”), la  pagode  Đậu au Génie des Pluies Pháp Vũ ( “thần mưa”), la  pagode  Tướng au Génie du tonnerre  Pháp Lôi  (“thần sấm”),  la pagode Dàn au Génie des éclairs  Pháp Điện ( “thần chớp”) et la pagode principale à  Man Nương, la mère de ces 4 génies (ou  Tứ Pháp en vietnamien). Étant les mots sino-vietnamiens,  les noms Dâu, Đậu, Tướng, Dàn   ont été préférés   par les Vietnamiens à la place des noms   Mây, Mưa, Sấm , Chớp (Nuages, Pluie, Tonnerre et Éclairs), qui sont en étroite relation avec la force naturelle trouvée dans le milieu agricole. Le système basé sur ces 4 génies évoque  l’association subtile entre le bouddhisme et les croyances populaires d’origine primitive au Việtnam.

Dès lors,  beaucoup de religieux indiens et étrangers tels que Ksudra (Khâu Đà Là), Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaca), Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian ne tardèrent pas à  séjourner à Luy Lâu et à y  prêcher l’enseignement du Bouddha. Le nombre de moines étrangers fut si important que Lũy Lâu  devint en quelques années plus tard le centre de traduction des sutras parmi lesquels figurait le fameux sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) traduit par le moine kouchan Cương Lương Lâu Chi  (Kalasivi)  dans le courant du IIIème  siècle. Selon le vénérable Thích Nhất Hạnh, on a été porté à croire par erreur dans le passé que le moine indien Vinitaruci introdusit le bouddhisme dhyana vietnamien (Thiền) à la fin du VIème  siècle. Lors de son passage à Luy Lâu en l’an 580, il résida dans le monastère Pháp Vân appartenant à l’école dhyana. C’est aussi à cette époque que le moine dhyana Quán Duyên était entrain d’y enseigner le dhyana.

D’autres moines vietnamiens furent allés en Chine pour prêcher la loi bouddhique  avant l’arrivée du fameux moine Bodhidharma reconnu comme le patriarche de l’école dhyana et de l’art martial chinois. Désormais, on sait que c’est au moine sogdiane  Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) le mérite d’introduire le bouddhisme dhyana au Vietnam. C’est à Luy Lâu que le bouddhisme commençait  à s’implanter par le biais de l’histoire de Man Nương et ne rencontrait aucune réticence de la part des Vietnamiens car le bouddhisme acceptait  la tolérance et le paganisme traditionnel.  Les légendes Thích Quang Phật et Man Nương Phật Mẫu témoignaient de la facilité d’agréger les croyances populaires au bouddhisme.  On peut dire que c’est le mariage réussi entre le bouddhisme et les croyances populaires  (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) trouvées dans ce coin. L’anniversaire de  ‎Siddhartha Gautama était  aussi celui des 4 génies devenus Bouddhas. La mère Man Nương  de ces 4 génies devenait  également Avalokiteśvara.  On n’hésitait pas à mettre dans les endroits où les 4 génies ont été vénérés, un autel pour le Bouddha. Dès lors, le bouddhisme commença à se propager dans d’autres régions du Tonkin.

Le bouddhisme vietnamien était le mahayana et prenait deux voies dans sa propagation: voie maritime à partir du sud du Vietnam (Founan et Chămpa) et voie terrestre à partir du Nord du Vietnam (Yunnan).

 Galerie des photos

[Return RELIGION]

Chùa Dâu (Bắc Ninh)

 

Chùa Dâu, cái nôi của Phật giáo Vietnam

 

Chùa Dâu nhìn từ tam quan, tháp Hoà Phong ở chính giữa

Cách xa Hànội khoảng 30 cây số, chùa Dâu là chùa có lâu đời nhất ở Việt Nam vì  được xây dựng từ buổi đầu Công Nguyên ở vùng Dâu mà thường được gọi là Luy Lâu . Lúc thởi Hán thuộc, Luy Lâu nầy  được xem  là thủ phủ của cả Giao Châu (Giao Chỉ) từ năm 111 TCN đến 106 TCN. Ở thời đó, Luy Lâu được  tiếp  thu  sớm,  theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn ,  ảnh hưởng Phật giáo từ Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ năm. Thái thú Sĩ Nhiếp (177-266) thường được tháp tùng khi đi dạo trong thành phố với các tu sĩ đến từ Ấn Độ hay Trung Á. Cuối thế kỷ thứ hai, Lũy Lâu trở thành trung tâm đầu tiên Phật giáo ở Việt Nam với  năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (« thần mây »), chùa Đậu thờ Pháp Vũ ( « thần mưa »), chùa Tướng thờ Pháp Lôi  (« thần sấm »), chùa Dàn thờ Pháp Điện ( « thần chớp ») và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Những cái tên Dâu, Đậu, Tướng, Dàn đó là những tên nôm dân dã cũa các nữ thần được thờ trong các chùa nầy mà người dân thích  gọi thay vì Mây, Mưa, Sấm , Chớp, những cái tên làm ta nghĩ đến  các sức mạnh thiên nhiên của cư dân sống về nông nghiệp. Hệ thống Tứ Pháp nói lên đây sự kết hợp tinh vi  giữa Phât giáo với  các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thủy ở Việtnam. 

Kể từ đó, nhiểu tu sĩ Ấn và ngọai quốc nổi tiếng như Khâu Đà La  (Ksudra), Ma Ha Kỳ Vực ( Mahajivaca) , Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian đều có đến tá túc nơi nầy để nghiên cứu, biên soạn, giảng kinh Phật và đào tạo tăng đồ. Số người tu sĩ  càng ngày càng đông khiến Luy Lâu chỉ vài năm sau trở thành một trung tâm phiên dịch  các kinh phật  trong đó có Pháp Hoa Tam Muội  (Saddharmasamadhi sutra ) của pháp sư Cương Lương Lâu Chi  (Kalasivi) , người nước Đại Nhục Chi vào thế kỷ thứ ba. Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh, ai cũng tưởng lầm thiền sư nam thiên trúc  Tỳ Ni Đa Lưu Chi  (Vinaturaci) là người sáng lập dòng thiền ở Việtnam vào cuối thế kỷ thứ sáu nhưng khi ông đến Lưu Lâu vào năm 580, ông ở chùa Dâu (hay Pháp Vân).  Chính lúc đó nơi nầy đã có thiền sư Quán Duyên đang dạy thiền học và cũng có nhiều tu sĩ  từ nơi nầy sang Trung Hoa để  thuyết pháp   trước khi  tu sĩ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma)  có mặt ở Trung Hoa và được công nhận là người sáng lập   thiền học và võ thuật Trung Hoa.

Chính là thiền sư Khương Tăng Hội, người nước Khương Cư,  có công là người sáng lập  dòng thiền ở Việtnam. Chính ở Luy Lâu nầy Phật giáo gia nhập vào đất nước Việtnam qua chuyện nàng Man Nương  mà không có găp sự khó khăn trở ngại  nào cả vì Phật giáo rất khoan dung , hòa đồng và chấp nhận dễ dàng  tín ngưỡng của dân bản xứ. Đây là cuộc hôn phối huyền diệu giữa đạo phật với tín ngưỡng bản địa, tiền thân của Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu. Ngày sinh của Đức Phật Thích Ca cũng là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt Nam). Bà Man Nương, mẹ của Tứ Pháp  được tôn sùng làm Phật mẫu.  Nơi nào có thờ Tứ Pháp , những nữ thần  nông nghiệp thì có thêm bàn thờ Phật.  Các nữ thần đuợc Phật hóa trở  thành Phật mẫu.

 Từ đó Phật giáo mới lan tỏa ra các vùng khác Bắc Bộ. Phật giáo du nhập ở Việtnam là Phật giáo đại thừa  (Mahayana) và theo hai ngã: đuờng biển, từ phiá nam Việt Nam (Phù Nam và Chămpa) và đường bộ, từ phía bắc Việt Nam (Vân Nam).

 

Hình ảnh chùa Dâu

[Return RELIGION]

Village ancien Đường Lâm (Làng cổ)

Portail du village Đường Lâm

Version vietnamienne
English version 
Pictures Gallery

Ayant occupé  à peu près 800 ha, le village  Đường Lâm est localisé approximativement à 4km à l’ouest de la ville provinciale Sơn Tây. Il est consacré pratiquement à l’agriculture. Il est rare de trouver encore  aujourd’hui l’un des villages ayant conservé les traits caractéristiques d’un village traditionnel vietnamien.  Si la baie de Hạ Long est l’œuvre de la nature, Đường Lâm est par contre l’ouvrage crée par l’homme.  Il est plus riche de signification que la baie de Hạ Long. C’est ce qu’a remarqué le chercheur thaïlandais Knid Thainatis. Effectivement Đường Lâm est riche non seulement en histoire mais aussi en tradition.

Dans les temps anciens,  il s’appelait encore  Kẻ Mia (pays de la canne à sucre). Selon  une légende populaire,  le métier de fabriquer de la mélasse de canne à sucre à Đường Lâm rapportait  comment la princesse Mi Ê a trouvé une plante semblable à un roseau. Elle a pris une section de cette plante et a senti sa douceur fraîche et son goût aromatique. Elle a tellement aimé cette plante si bien qu’elle  a conseillé aux gens de la cultiver. Au fil du temps,  la canne à sucre poussait tellement dense qu’elle couvrait une grande surface comme le bois. La population locale a commencé à produire de la mélasse ainsi que des bonbons à partir de celle-ci. D’où le nom « Kẻ Miá ».

Grâce aux fouilles archéologiques aux  alentours des contreforts de la montagne Ba Vi, on découvre que  Đường Lâm était le territoire des Proto-Vietnamiens. Ces derniers y vivaient en grande concentration à l’époque de la civilisation de Sơn Vi. Ils continuaient à s’y établir encore durant les quatre cultures suivantes: Phùng Nguyên (2000-1500 BC), Đồng Dậu (1500-1000 BC), Gò Mun (1000-600 BC) et Đồng Sơn (700 BC-100 AD).

Le village  est aussi  la terre de deux rois célèbres Phùng Hưng et Ngô Quyền. Le premier, connu sous le nom « Bố Cái Đại Vương »  (ou Grand roi père et mère du peuple) est adulé comme le  libérateur de la domination chinoise à l’époque des Tang tandis que le deuxième a réussi à mettre fin à l’occupation chinoise de 1000 ans en défiant la flotte des Han du Sud (Nam Hán) sur le fleuve de Bạch Đằng. C’est aussi ici qu’on retrouve l’autel dédié à l’ambassadeur Giang Văn Minh auprès de la cour de Chine. Ce dernier fut tué par  l’empereur des Ming  Zhu Youjian (Sùng Trinh)  car il a osé l’affronter en lui répondant du tac au tac avec le vers mémorable suivant: 

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng (Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu)
Le fleuve Bạch Ðằng continue à être teinté avec du sang rouge.

pour lui rappeler    les victoires éclatantes et décisives des Vietnamiens contre les Chinois sur le fleuve Bạch Ðằng,  suite au vers arrogant qu’il a reçu de la part de l’empereur chinois: 

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến giờ vẫn xanh vì rêu).
Le pilier en bronze continue à être envahi par la mousse verte. (évoquant ainsi la période de pacification du territoire vietnamien par le général chinois Ma Yuan à l’époque des Han).

 Làng cổ Đường Lâm 

L’une des caractéristiques de ce village  antique réside dans la préservation  de son  portail (porte principale) par lequel tout le monde doit passer. Le visiteur peut s’égarer facilement s’il n’arrive pas à repérer la maison communale Mông Phụ.  Celle-ci est un bâtiment colossal édifié au centre du village avec son imposante charpente en bois de fer (gỗ lim). La plupart des maisons sont protégées  par des blocs de murs en   latérite et leurs porches  sont parfois des petits chefs-d’œuvre qui ne peuvent pas laisser indifférent le visiteur.  Le village Đường Lâm continue à garder son charme séculaire face à l’urbanisation galopante qu’on ne cesse pas de voir dans d’autres villages.

Version vietnamienne

Có khoảng chừng 800 mẫu, làng cổ Đường Lâm nằm cách chừng 4 cây số về phiá tây của thị xã Sơn Tây.  Làng nầy chuyên sống về canh nông.  Rất hiếm còn tìm lại được ngày nay một trong những làng cổ còn giữ được những nét cá biệt của một làng Việtnam truyền thống. Nếu vịnh Hạ Long là một tác phẩm của tạo hóa thì làng cổ Đường Lâm ngược lại là một sản phẩm do con người tạo ra. Nó còn giàu có ý nghĩa  nhiều hơn vịnh Hạ Long. Đây là sự nhận xét của nhà nghiên cứu Thái Knid Thainatis. Thật vậy Đường Lâm rất phong phú không những về lịch sữ mà còn luôn cả tập quán. 

 Thời xưa, Đường Lâm  vẫn được gọi là Kẻ Mia (vùng đất trồng mía). Theo truyền thuyết, nghề làm mật mía ở Đường Lâm liên quan đến việc công chúa Mi E tìm thấy một loại cây giống cây sậy. Cô lấy một phần của cây này và ngửi thấy vị ngọt và hương vị thơm mát của nó. Cô rất yêu thích loài cây này nên đã khuyên mọi người nên trồng nó. Theo thời gian, cây mía mọc rậm rạp phủ kín cả một vùng rộng lớn như rừng. Người dân địa phương bắt đầu sản xuất mật mía cũng như kẹo từ nó. Do đó nó có tên là « Kẻ Miá« .

Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ xung quanh ở chân núi Ba Vi, người ta phát hiện ra Đường Lâm là lãnh thổ của người Việt cổ. Những người sau này sống tập trung ở đây  trong thời kỳ của nền văn hóa Sơn Vi. Họ  vẫn tiếp tục định cư ở nơi nầy tiếp theo cho bốn nền văn hóa sau đây: Phùng Nguyên (2000-1500 TCN), Đồng Dậu (1500-1000 TCN), Gò Mun (1000-600 TCN) và Đồng Sơn (700 TCN-100 SCN).

Nơi nầy  cũng là đất của hai vua cự phách Phùng Hưng và  Ngô Quyền. Vua đầu tiên thường  gọi là « Bố Cái Đại Vương » rất  đuợc ngưỡng mộ vì ông là lãnh tụ khởi  cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường còn Ngô Quyền thì có công trạng kết thúc sự đô hộ quân Tàu có gần một thiên niên kỹ qua cuộc thách thức hải quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.  Cũng chính nơi nầy mà cũng tìm thấy nhà thờ của thám hoa Giang Văn Minh. Ông đuợc đề cử sang Tàu xưng phong dưới thời Hậu Lê. Ông bị trảm quyết bỡi  vua Tàu Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vì ông không để vua Tàu làm nhục Việtnam dám đối đáp thẳng thắn  với  một  vế đối lại như sau: Ðằng giang tự cổ huyết do hồng  (Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu) nhắc lại những chiến công hiển hách trêng sông Bạch Đằng khi nhận một vế  ngạo mạn của vua Tàu:  Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến giờ vẫn xanh) vì rêu  ám chỉ đến cột đòng  Mã Viện , thời kỳ quân Tàu đô hộ nước Việt dưới thời Đông Hán. 

Một trong những  đặc trưng  của làng cổ nầy là  sự gìn giữ cái cổng làng mà bất cứ ai đến làng cũng phải đi qua cả.  Người du khách có thể bị lạc đường  nếu không nhận ra hướng đi đến đình Mông Phụ.   Đây là một toà nhà to tác được dựng ở giữa trung tâm của làng với một mái hiên oai vệ bằng gỗ lim.  Tất cả nhà ở làng nầy phân đông được bảo vệ qua các bức tường bằng đá ong và các cổng vào thường là những kiệc tác khiến làm du khách không thể thờ ơ được. Làng cổ  Đường Lâm tiếp diễn giữ  nét duyên dáng muôn thưở dù biết rằng  chính sách đô thị hoá vẫn phát triển không ngừng ở các làng mạc khác.

Version anglaise

Occupying about 800 hectares, the village of Đường Lâm is located approximately 4 km west of the provincial town of Sơn Tây. It is practically dedicated to agriculture. It is rare to still find today one of the villages that has preserved the characteristic features of a traditional Vietnamese village. While Ha Long Bay is the work of nature, Đường Lâm, on the other hand, is a creation made by man. It is richer in meaning than Ha Long Bay. This is what the Thai researcher Knid Thainatis noticed. Indeed, Đường Lâm is rich not only in history but also in tradition.

In ancient times, it was still called Kẻ Mia (land of sugarcane). According to a popular legend, the craft of making sugarcane molasses in Đường Lâm tells how Princess Mi Ê found a plant resembling a reed. She took a section of this plant and felt its fresh sweetness and aromatic taste. She liked this plant so much that she advised people to cultivate it. Over time, the sugarcane grew so densely that it covered a large area like a forest. The local population began to produce molasses as well as candies from it. Hence the name « Kẻ Miá« .

Thanks to archaeological excavations around the foothills of Ba Vi mountain, it was discovered that Đường Lâm was the territory of the Proto-Vietnamese. They lived there in large concentrations during the Sơn Vi civilization period. They continued to settle there during the following four cultures: Phùng Nguyên (2000-1500 BC), Đồng Dậu (1500-1000 BC), Gò Mun (1000-600 BC), and Đồng Sơn (700 BC-100 AD).

The village is also the land of two famous kings, Phùng Hưng and Ngô Quyền. The first, known as « Bố Cái Đại Vương » (or Great King Father and Mother of the People), is revered as the liberator from Chinese domination during the Tang dynasty, while the second succeeded in ending 1,000 years of Chinese occupation by defeating the Southern Han fleet on the Bạch Đằng River. It is also here that the altar dedicated to ambassador Giang Văn Minh to the Chinese court is found. He was killed by the Ming emperor Zhu Youjian (Sùng Trinh) because he dared to confront him with a sharp retort in the memorable verse:

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng (The Bạch Đằng River has always been red because of blood)
The Bạch Đằng River continues to be stained with red blood.

This was to remind him of the brilliant and decisive victories of the Vietnamese against the Chinese on the Bạch Đằng River, following the arrogant verse he received from the Chinese emperor:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến giờ vẫn xanh vì rêu).

The bronze pillar is still green because of moss.
The bronze pillar continues to be overgrown by green moss. (thus evoking the period of pacification of the Vietnamese territory by the Chinese general Ma Yuan during the Han dynasty).

One of the characteristics of this ancient village lies in the preservation of its main gate through which everyone must pass. Visitors can easily get lost if they fail to locate the Mông Phụ communal house. This is a colossal building erected at the center of the village with its imposing ironwood frame (gỗ lim). Most houses are protected by laterite wall blocks, and their porches are sometimes little masterpieces that cannot leave visitors indifferent. The Đường Lâm village continues to retain its centuries-old charm in the face of the rampant urbanization that is constantly seen in other villages.

Làng cổ Đường Lâm

Bibliographie: 

Lê Thanh Hương: An ancient village in Hanoi, Thế Giới publishers, Hànôi 2012

[RETURN]

Paris về đêm

Paris au fil de la nuit

 

[ngg_images source= »galleries » container_ids= »247″ display_type= »photocrati-nextgen_basic_thumbnails » override_thumbnail_settings= »1″ thumbnail_width= »160″ thumbnail_height= »80″ thumbnail_crop= »1″ images_per_page= »32″ number_of_columns= »4″ ajax_pagination= »0″ show_all_in_lightbox= »0″ use_imagebrowser_effect= »0″ show_slideshow_link= »0″ slideshow_link_text= »[Montrer sous forme de diaporama] » template= »/homepages/5/d276592279/htdocs/clickandbuilds/vietnamquehuongtoi/wp-content/plugins/nextgen-gallery/products/photocrati_nextgen/modules/ngglegacy/view/gallery.php » order_by= »pid » order_direction= »ASC » returns= »included » maximum_entity_count= »500″]

Cầu Long Biên (Ancien pont Paul Doumer, Hànội)


Version française
Version anglaise
Liste des photos

Ai có đến Hànôi hay đi tham quan vịnh Hà Long thì ít nhất cũng trông thấy cầu nầy từ đằng xa vì nó là cầu thép nối hai quận Hồ Hoàn Kiếm và quận Long Biên bắc qua sông Hổng, một con sông rất dài xuất phát từ Vân Nam và  đổ ra biển Đông  cuối cùng. Nó mang nhiều tên qua nhiều thế kỷ. Sông nầy  chỉ quen thuộc đối với thời cận hiện đại với  tên sông Hồng  chỉ có từ cuối thế kỷ XIX , dưới thời Pháp thuộc khi người Pháp ho dựa trên màu nước của đất phù sa mà đặt một tên thống nhất. Chính con sông nầy nó làm giàu có vùng đồng Bắc Bộ nơi mà các nhà sữ gia Tây Phương và Việt cho đây   là cái nôi của dân tộc Việt Nam.  Còn cái cầu nầy nó được khởi công xây dựng tháng 9 năm 1898  dưới thời kỳ Pháp thuộc với toàn quyền Paul Doumer và hoàn thành  hơn  3 năm  sau. Cầu nầy được thiết kế do hãng Daydé & Pillé nhưng kiểu dáng quá độc đáo không thua chi  đã trông thấy với các cầu của Gustave Eiffel vì vậy có sự nhầm lẫn nầy vã lại không phải là phương án thiết kế của Gustave Eiffel vì trên trang nhà của các người thừa kế của ông nầy không có liệt kê phương án nầy (http://www.gustaveeiffel.com/ouvrage/routiers.html).

Hiện trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ « 1899 -1902 – Daydé & Pillé – Paris ». Nhưng cũng phải công nhận  đây là một kỳ công về kỹ thuật và công việc hậu cận vì thời đó nó là một trong bốn cầu dài nhất thế giới (nhất là ở Viễn  Đông ) và ngành công nghiệp thép bản  xứ hầu như không có, xứ Pháp thì quá xa vời. Cây cầu dài 1.862m, gồm 19 nhịp dầm thép, đặt trên 20 trụ cầu cao 43,50m. Ở giữa cầu là đường xe lửa, hai bên có đường rộng 1,3m, từng quãng một có những chỗ rộng nhô ra, nơi những ngừơi nghèo thường bán đồ. Toàn bộ chiều dài của cầu lên tới 2.500m.   

Nó là cầu chứng kiến những  thăng trầm lịch sữ của đất nước. Cầu nầy được vua Thành Thái và Toàn quyền Đông Dương đến đầu cầu để làm lễ khánh thành dưới thời Pháp thuộc. Nó cũng  là cầu mà ngày 10/10/1954, quân đội viễn chinh Pháp  lặng lẽ  cuốn gói  rời khỏi Hànội sau trận chiến ở Điện Biên Phủ. Nó bao lần bị oanh tạc hư hao trong thời kỳ chống Mỹ.  Nay sang thời bình, sau thập kỷ 90, cầu Long Biên được sử dụng chỉ cho tàu hỏa, xe đạp, xe máy  và người đi bộ từ khi có cầu Chương Dương  nằm trong mục tiêu đáp ứng nhu cầu đi lại và để phát triển kinh tế, xã hội đô thị ở hai bờ sông Hồng. Với nét cổ kính,  nó còn là nơi lý tưởng dành cho  giới trẻ Hà Thành muốn chụp ảnh đám cưới hay lưu niệm. Hôm tôi đến đây chụp thấy ớn quá chừng có nhiều  người đứng giữa cầu chụp nhất là có tàu hỏa thường tới lui trên cầu. Chỉ có ở đất nước mình mới thấy sự táo bạo như vậy mà thôi. Tôi còn nhớ em đó nói có chi đâu anh khi nghe còi thì chạy  vào mà thôi.  Một hình ảnh khó quên.

Quiconque ayant l’occasion de venir à Hànội ou d’aller à la baie d’Along  peut voir   au loin   ce pont en acier. Celui-ci relie les deux districts Hồ Hoàn Kiếm et Long Biên en enjambant le long  fleuve Rouge issu de la grotte de Yunnan en Chine  et terminant sa course dans la mer de l’Est. Ce fleuve  a plusieurs noms au fil des siècles. Il est  plus connu familièrement sous le nom actuel « Fleuve Rouge » à la fin du XIXème siècle. En voyant la couleur alluviale de son eau et en voulant uniformiser les noms portés par ce fleuve, les Français lui ont donné, à l’époque coloniale, le nom « Fleuve Rouge« . C’est lui qui nourrit et enrichit la région du delta du Nord que les historiens occidentaux et vietnamiens ont considérée toujours comme le berceau de la civilisation vietnamienne. En ce qui concerne le pont, il fut construit à l’époque coloniale en 1898 et achevé 3 ans plus tard sous l’initiative du gouverneur de l’Indochine,   Paul Doumer. Le projet de conception et de réalisation  de ce pont était assumé  par la société  Daydé & Pillé.  Comme sa forme et son style ressemblent à  ceux des ponts de Gustave Eiffel, il y a là une confusion énorme en attribuant cet ouvrage  à ce dernier.

De plus, dans la liste des ponts routiers  réalisés par Gustave Eiffel (http://www.gustaveeiffel.com/ouvrage/routiers.html), le pont Paul Doumer ne figure pas. 

Par contre, on trouve encore aujourd’hui à l’entrée de ce pont,  une plaque métallique  portant le nom de la maison  Daydé & Pillé et sa date de réalisation. Il faut reconnaître que ce pont est un remarquable ouvrage d’art de l’époque, une prouesse technique et logistique,  vu  la faiblesse de la sidérurgie locale et l’éloignement de la France. Il est l’un des quatre ponts les plus longs du monde ( le premier en Extrême Orient). Long de 1862 mètres, il  comprend  19 travées solidaires formées de poutres d’acier du type Cantilever et repose essentiellement  sur une vingtaine  de colonnes solides hautes de   43,50 mètres. De chaque côté du pont, il y a un petit trottoir réservé pour les piétons et une piste  pour les vélos et les motos tandis qu’au milieu se trouvent  les rails pour les trains. La longueur totale de ce pont atteint jusqu’à 2500 mètres.

Il est le témoin majeur des hauts et des bas de l’histoire du Vietnam.  Il fut  inauguré par l’empereur Thành Thái  en présence du gouverneur de l’Indochine Paul Doumer à l’époque coloniale. C’est aussi par ce pont que les troupes françaises  empruntèrent en Octobre 1954   pour quitter Hànoï après la chute de Điện Biên Phủ. Il était maintes fois  la cible privilégiée des bombardements durant la guerre contre les Américains.

Après la décennie des années 1990 marquée par la paix, le pont Long Biên est réservé uniquement pour les trains, les vélos, les scooters et les piétons depuis qu’i l existe  le pont Chương Dương répondant aux développements  économiques et à l’urbanisation de deux côtés du fleuve Rouge.

Avec son charme antique, il devient aujourd’hui l’endroit idéal fréquenté par la jeunesse hanoienne pour immortaliser son mariage ou son souvenir. Le jour où j’étais de passage pour faire des photos, je m’aperçus qu’il y avait quelques jeunes gens empruntant la voie du milieu fréquentée par les trains  pour être photographiés. C’est une audace effarante qu’on peut trouver seulement au Vietnam au détriment de la vie. C’est difficile d’oublier cette scène.

English version

Anyone who has the chance to come to Hanoi or go to Ha Long Bay can see in the distance this steel bridge. It connects the two districts Hồ Hoàn Kiếm and Long Biên by spanning the long Red River, which originates from the Yunnan cave in China and ends its course in the East Sea. This river has had several names over the centuries. It is more familiarly known by its current name « Red River » since the late 19th century. Seeing the alluvial color of its water and wanting to standardize the names carried by this river, the French gave it, during the colonial period, the name « Red River. » It nourishes and enriches the northern delta region, which Western and Vietnamese historians have always considered the cradle of Vietnamese civilization. Regarding the bridge, it was built during the colonial period in 1898 and completed 3 years later under the initiative of the governor of Indochina, Paul Doumer. The design and construction project of this bridge was undertaken by the company Daydé & Pillé. Since its shape and style resemble those of Gustave Eiffel‘s bridges, there is a huge confusion attributing this work to him.

Moreover, in the list of road bridges built by Gustave Eiffel (http://www.gustaveeiffel.com/ouvrage/routiers.html), the Paul Doumer Bridge does not appear.

However, even today at the entrance of this bridge, there is a metal plaque bearing the name of the Daydé & Pillé company and its date of completion. It must be acknowledged that this bridge is a remarkable work of art of its time, a technical and logistical feat, given the weakness of the local steel industry and the distance from France. It is one of the four longest bridges in the world (the first in the Far East). Measuring 1862 meters long, it comprises 19 solid spans formed of Cantilever-type steel beams and rests mainly on about twenty solid columns, each 43.50 meters high. On each side of the bridge, there is a small sidewalk reserved for pedestrians and a lane for bicycles and motorcycles, while in the middle are the rails for trains. The total length of this bridge reaches up to 2500 meters.

It is a major witness to the ups and downs of Vietnam’s history. It was inaugurated by Emperor Thành Thái in the presence of the Governor of Indochina, Paul Doumer, during the colonial era. It was also via this bridge that French troops passed in October 1954 to leave Hanoi after the fall of Điện Biên Phủ. It was repeatedly a prime target for bombings during the war against the Americans.

After the decade of the 1990s marked by peace, the Long Biên Bridge has been reserved only for trains, bicycles, scooters, and pedestrians since the Chương Dương Bridge was built to meet the economic developments and urbanization on both sides of the Red River.

With its antique charm, it has become today the ideal place frequented by Hanoi’s youth to immortalize their wedding or memories. The day I was passing by to take photos, I noticed that there were some young people using the middle lane, frequented by trains, to be photographed. It is a staggering audacity that can only be found in Vietnam at the risk of life. It is hard to forget this scene.

Galerie des photos

[RETOUR]

 

 

Temple Đô ( Đền Lý Bát Đế, Bắc Ninh)

Temple  Đô (Lý Bát Đế)

Version vietnamienne

Version anglaise

Bắc Ninh

Ce temple Đô fut édifié en l’an 1030 lors du retour du roi Lý Thái Tông pour célébrer l’anniversaire de la mort de son père Lý Công Uẫn (Lý Thái Tổ).  Mais cet édifice  a été complètement détruit à l’époque coloniale. C’est pourquoi en 1989 le gouvernement vietnamien décida de le restaurer  en s’appuyant sur les documents historiques encore  conservés. En face de sa portique d’entrée se trouve un pavillon d’eau érigé sur un grand  étang en forme de demi-lune parvenant à communiquer autrefois  au fleuve Tiêu Tương qui n’existe plus aujourd’hui. Ce complexe architectural historique  est dédié au culte des 8 rois de la dynastie Lý que le fameux historien Ngô Sĩ Liên a qualifiée comme une dynastie de clémence dans la collection intitulée  « Les Mémoires historiques du Grand Viet au complet (Ðại Việt Sử Ký toàn thư)  » (1697).

Selon l’adage populaire,  dans l’ouvrage  « Floriflège du jardin du Thiền (Thiền Uyển Tập Anh)   il y a un kệ (ou gâtha)   faisant allusion aux 8 rois de la dynastie des Lý  qu’on aimerait  attribuer soit  au disciple du moine patriarche  Khuôn Việt, Đa Bảo  soit au moine Vạn Hạnh comme suit:

Chữ Bát với nhà Lý

Một bát nước công đức
Tùy duyên hóa thế gian
Sáng choang còn soi đuốc
Bóng mất trời lên cao.

 

Un bol d’eau méritant et généreux, finit par

changer de vie avec la causalité  et la sérénité   en soi. 

Une torche d’une vive clarté continue de s’éclairer.

À la disparition de l’ombre, le soleil s’efface  derrière les montagnes.

Par insinuation, ce Kệ (ou stance)  veut évoquer les 8 rois de la dynastie des Lý , du fondateur Lý Công Uẫn jusqu’au dernier roi Lý Huệ Tông par le biais du mot bát qui signifie à la fois bol et huit  en vietnamien. Quant à Huệ Tông, son prénom est Sảm.   Étant  l’association de deux mots nhật (soleil) et  sơn (montagne) dans l’écriture des caractères chinois Han,  le mot Sảm signifie effectivement « le soleil se cache derrière les montagnes » pour désigner la fin ou la disparition. Ce kê s’avère prémonitoire car la princesse Lý Chiêu Hoàng (fille du roi Lý Huệ Tông) a cédé le trône à son époux Trần Cảnh  qui n’était autre que le roi Trần Thái Tông de la dynastie des Trần. On peut dire que la dynastie des Lý a eu  le royaume par la volonté de Dieu mais c’est aussi par cette dernière qu’elle l’a perdu.

Version vietnamienne

 


Đền Lý Bát Đế

Đền nầy được xây dựng vào  năm Canh Ngọ 1030 khi vua Lý Thái Tông về quê làm giỗ cho vua cha tức là Lý Công Uẫn (Lý Thái Tổ). Nhưng đền bị phá hũy hoàn toàn dưới thời pháp thuộc vì vậy cho đến năm 1989 thì được xây dựng lại dựa theo các tài liệu nghiên cứu còn lưu trữ. Trước đền thì có  thủy tạ trên hồ bán nguyệt thông đến sông Tiêu Tương  ngày xưa, nay không còn nữa. Đền nầy là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua nhà Lý, một triều đại nhân ái được sữ gia Ngô Sĩ Liên nói đến trong  bộ quốc sử   « Ðại Việt Sử Ký toàn thư » (1697). Theo lời truyền dân gian thì có một bài kệ có người cho là của thiền sư Đa Bảo, học trò của thiền sư Khuôn Việt còn có người nói là của sư Vạn Hạnh,   ám chỉ đến tám vua nhà Lý, được ghi lại trong Thiền Uyển Tập Anh như sau:

Nhất bát công đức thủy
Tuỳ duyên hoá thế gian
Quang quang trùng chiếu chúc
Một ảnh nhật đăng san

Một bát nước công đức
Tùy duyên hóa thế gian
Sáng choang còn soi đuốc
Bóng mất trời lên cao.

Bài kệ nấy ám chỉ tám đời vua của triều Lý từ Huệ Tông đến Thái Tổ qua chữ bát còn Huệ Tông tên là Sảm tức là theo Hán tự thì bên trên chữ  nhật là mặt trời, bên dưới chữ sơn là núi, chữ « Sảm » nghĩa là « mặt trời lặn sau núi » có nghĩa là suy. Sau đó đến đời Lý Chiêu Hoàng thì phải nhường ngôi cho  chồng Trần Cảnh  tức là Trần Thái Tông  thuộc nhà Trần. Có thể nói là nhà Lý được nước là tự trời mà mất nước cũng tự trời mà ra.

[RETOUR]

 

 

 

Đình Bảng (Maison communale, Bắc Ninh)

English version

Version vietnamienne

Depuis  longtemps,  Đình Bảng est réputée   dans le Nord du Vietnam  comme la maison communale,  réussissant par  son âge datant plus de 300 ans, à garder son état initial. On attribue sa  ressemblance à une grande maison en bois sur pilotis qu’on ne trouve pas dans d’autres villages du Tonkin. Vue de loin, elle a une structure imposante surélevée, posée solidement sur le sol grâce à   un assemblage de colonnes (60 piliers), d’arbalétriers et de toutes sortes d’éléments en bois de fer (gỗ lim)  soudés par des mortaises et des tenons sans avoir besoin des fondations coulées. C’est le poids de  sa toiture qui permet de la consolider . Selon l’on dit, à l’époque coloniale, cette maison réussît à résister aux assauts  d’un char  français  par l’attelage de sa splendide  charpente avec des chaînes. Grâce à la participation active du mandarin Nguyễn Thạc Lương, originaire du village Đình Bảng et  sa femme Nguyễn Thị Nguyên, cette maison communale édifiée au début du XVIII ème siècle fut  achevée seulement après 36 ans de travaux de construction. Dans  un vieil adage populaire vietnamien , cet édifice  occupe   la seconde place dans la classification des maisons communales du Tonkin. La  première place revient à Đồng Khang qui  n’arrive pas à résister aux aléas du temps tandis que la  maison Đình Diềm occupe la dernière place honorable et   garde seulement aujourd’hui 3 travées au lieu de 5 au moment de sa construction. Il n’y a que Đình Bảng continuant à préserver son état initial au fil des  années.

Située dans le village   Cổ Pháp de la commune Từ Sơn dans la province Bắc Ninh, cette maison communale est dédiée au  culte de trois génies tutélaires (le Génie de l’Eau, le Génie de la Terre et celui des Récoltes). Selon l’on-dit, c’est ici qu’est né Lý Công Uẩn, le fondateur de la dynastie des Lý. De passage à Đình Bảng, il ne faut pas oublier de visiter le temple Đô (Đền Đô) appelé fréquemment sous le nom « Lý Bát Đế (ou temple des 8 rois des Lý).  Ce site n’est pas très loin de la maison communale Đình Bảng ( à peu près  un demi kilomètre à pied). Il y a aussi  une spécialité locale connue sous le nom susê ou phu thê (mari-femme) qu’il ne faut pas oublier de goûter. Ce gâteau a  l’apparence d’un cube   ficelé avec un ruban de couleur rouge. Ce gâteau est composé de la  farine du tapioca, parfumé  au pandan et parsemé de grains de sésame (vừng đen) de couleur noire.  Au cœur de ce gâteau  se trouve une pâte  faite avec des haricots de soja cuits à la vapeur (couleur jaune)  et de la confiture des graines de lotus et de la coco râpée (couleur blanche)  ressemblant énormément à la frangipane trouvée dans les galettes des rois. Sa texture collante rappelle le lien fort  qu’on veut représenter dans l’union. Ce gâteau est le symbole de la perfection de l’amour conjugal et de la loyauté en accord parfait  avec le Ciel et la Terre (théorie du Yin et du Yang).

 

 

Version vietnamienne

Từ lâu, Đình Bảng   được xem là  một ngôi đình ở miền Bắc  còn giữ  đựợc vẻ  nguyên sơ dù nó  được xây dựng đã có 300 năm. Nó còn là ngôi đình có dáng nhà sàn mà ít  trông thấy ở các làng khác. Nhìn  từ đẳng xa, ngôi đình có một cấu trúc nổi,   kê vững  chắc trên mặt đất nhờ qua một   hệ thống  chân cột (60 cột trụ bằng gỗ lim ), kèo và xà giằng nhau, liên kết  không cần chân móng. Mái đình  càng nặng thì sức nén của nó xuống các cột càng lớn khiến ngôi đình càng vững chãi. Nghe nói nhờ vậy dưới thời Pháp thuộc,  đền nầy không có đổ vỡ truớc sự tấn công xe chiến đấu  của quân đội Pháp.

 Đình Bảng (Bắc Ninh)

Nhờ sự tích cực tham gia của quan Nguyễn Thạc Lương, người Đình Bảng và bà vợ là Nguyễn Thị Nguyên, ngôi đình nầy được xây dựng vào đầu thế kỷ 18 kéo dài 36 năm mới được hoàn thành. Đây là ngôi đình thường được dân gian miền Bắc  nói đến qua ngạn ngữ: Thứ nhất là đình Đông Khang, thứ nhì đình Bảng, thứ ba đình Diềm.  Đình Đông Khang bị tàn phá bởi chiến tranh, còn đình Diềm trước có 5 gian nay thì còn 3 gian. Chỉ còn đình Đình Bảng còn giữ đựợc vẻ nguyên sơ qua dòng thời gian. Đình nầy nằm ở  làng Cổ Pháp,  thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn đại vương (thần Núi), Thủy Bá đại vương (thần Nước) và Bách Lệ đại vương (thần Đất). Nơi nầy theo lời tương truyền còn là nơi sinh và lớn lên  của Lý Công Uẩn, người sáng lập triều đình nhà Lý. Đến đây , cũng nên đến tham quan Đền Đô nhà Lý thường được gọi là đền Lý Bát Đế, nơi thờ  tám vị vua đầu tiên nhà Lý. Đền nầy không xa chi cho mấy đi chừng nửa cây số qua cái chợ là đến. Nhớ đừng quên ăn đặc sản của vùng. Đó là bánh phu thê, một  bánh hình  vuông bằng lá dừa, nhân đậu xanh ở  trong hình tròn,  biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương  và nhắc đến tình nghĩa vợ chồng.

 

 

 

 

Chùa Keo (Pagode Keo, Thái Bình)

 


Version vietnamienne
English version
Galerie des photos

En évoquant Thái Bình, on ne cesse pas de penser à sa spécialité locale (soupe de poissons)  et à sa pagode Keo.  Etant préparé minutieusement avec  les morceaux de  carpe  d’eau douce assaisonnés avec de  la poudre de curcuma,, ce plat associé aux nouilles de riz crée à la fois un goût délicieux et aromatique avec les feuilles d’aneth et de basilic,  ce qui lui permet de rivaliser incontestablement avec le phở, le bouillon des Tonkinois.

Quant à la pagode Keo, elle est véritablement un ancien ouvrage  architectural localisé dans le district Vũ Thư avec une superficie de 40.907,9m2. Etant considérée souvent comme une chef d’œuvre d’art basé essentiellement sur l’utilisation des étais  du bois de fer précieux (gỗ lim), cette pagode possède plus de 100 travées de taille diverse et un clocher magnifique à 3 étages  dont chacun possède son propre toit aux tuiles « mủi hài » et une cloche en bronze carrelé.  

On ne conteste pas sa réputation d’être  le plus beau   joyau architectural typique datant de l’époque des Lê postérieurs. Son dôme ressemble à une fleur de lotus épanouie au milieu de la cour de la pagode.

 L’organisation du culte religieux est la particularité de cet édifice  avec   Tiền Phật hậu Thần Thánh ( Bouddha dans la cour avant  et les Génies dans la cour arrière). C’est pourquoi on retrouve  prioritairement Bouddha  dans la salle antérieure (tiền đường) de la pagode  tandis qu’on pratique le culte des génies, en particulier celui  du  moine Dương Không Lộ dans la salle postérieure (hậu đường).    Etant issus des écoles religieuses   Vô Ngôn Thông et Thảo Đường, Dương Không Lộ était non seulement le Maître du Royaume sous la dynastie des Lý mais aussi l’inventeur de la fonderie vietnamienne. Cette pagode est habituée à organiser chaque année le festival des rites traditionnels ayant lieu au printemps (le 4ème jour du 1er mois lunaire), et  à l’automne (entre le 13ème et le 15ème jour du 9e mois lunaire). La fête est tellement importante que les filles ne peuvent pas s’en passer avec le dicton suivant:

Dù cho cha đánh mẹ treo, Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.

Malgré l’interdiction de mes parents,
je ne peux pas  laisser tomber le festival des rites traditionnels au jour du mois lunaire.

Un joyau architectural vietnamien

Galerie des photos 

 
 

 
Version anglaise 

In speaking of Thái Bình province, one does not cease thinking about its local speciality (fish soup) and Keo pagoda. Being carefully prepared with  seasoned pieces  of freshwater carp in turmeric powder, this meal combined with noddles gives simustaneously a delicious  and aromatic taste  by the presence of dill  and basil leaves, which allow it to compete with phở, the Tonkinese soup. For the Keo pagoda, there is an older architectural  artefact located in the  Vũ Thư district and covering a land area of 40.907,9m2. Being considered as a greatest masterpiece  of art and  based essentially on the use of precious wooden struts (gỗ lim), this pagoda has more than 100  various-sized spans and  a magnificient threelevel bell tower,  each of which  posseses its own roof  with  shaped tiles (mũi hài) and a bell in tiled bronze

.One does not deny its reputation for being the most beautiful architectural jewel dating from the time of Later Lê Dynasty. Its dome looks like a flower blossomed in the midst of pagoda’s yart.

The organization of religious worship is the  particularity of this building with Tiền Phật hậu thần thánh (Buddha in front yard and geniuses in rear yard). That is why Buddha is fund in the anterior room (tiền đường) while the cult of geniuses, in particular that of Dương Không Lộ monk takes place in the posterior room (hậu đường). Coming  from religious schools Vô Ngôn Thông and Thảo Đường, Dương Không Lộ was not only the great master of the kingdom under Ly  dynasty but also the inventor of Vietnamese foundry. This pagoda is accustomed to organize each year the religious festival in the spring (4th day of the first lunar month) and autumn (between 13th and 15th day of the 9th lunar month). The festival is so important that girls  cannot do without it with the following saying: 

Dù cho cha đánh mẹ treo, em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
Despite the interdiction of my parents,  I cannot renounce the Keo festival at the lunar day.

 
Chùa Keo,
một kiến trúc đẹp nhất ở Vietnam

Vietnamese version

Nhắc đến Thái Bình thì không thể quên được món canh cá rô và chùa Keo.  Canh cá, món nầy  được kết hợp với bánh đa, tạo ra một hương vị đầm đà với lá thì là, húng bạc hà,   không thua chi món phở của người miền Bắc  còn chùa Keo thì là một công trình kiến trúc cổ  độc đáo nằm trong huyện Vũ Thư  và có diện tích 40.907,9m2.  Đựơc xem là một kiệt tác nghệ thuật bằng gỗ lim, có hơn một trăm gian lớn nhỏ khác nhau và  nhất là có một gác chuông gồm có ba tầng, 12 mái, khung gỗ, mái lợp ngói mũi hài và một chiếc chuông đồng lát gạch.

Gác chuông là một kiến trúc tiêu biểu dưới thời Hậu Lê và được xem là đẹp nhất của vùng Bắc Bộ với hình dáng của một hoa sen vương lên giữa sân chùa.

Chùa Keo  có đặc điểm riêng trong việc thờ tự, ngoài thờ Phật phía sau còn thờ thánh.(tiền Phật, hậu Thánh). Vì vậy phía sau là nơi thờ thiền sư Dương Không Lộ, đựợc phong làm thánh.  Ông thuộc phái Vô Ngôn Thông và phái Thảo Đường, làm Quốc sư dưới triều nhà Lý và được xem là vị tổ của nghề đúc đồng. Chùa nầy hằng năm  còn có tổ chức những ngày lễ hội  truyền thống dành cho mùa Xuân và mùa Thu. Ngày lễ hội quan trọng cho đến đổi  có câu ca dao về hội chùa Keo:

Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.

[Return RELIGION]

 

Old Hànội (Phố cổ Hànội)

Version française
Version vietnamienne
Galerie des photos

Despite the obsolescence of its tubular houses (nhà ống) and  old quarter of 36 streets and guilds, the « old Hanội » make over time the charming and romantic feeling. This old quarter  extending over an area mesuring approximately 82 ha, was established according to the criteria mentioned in the geomancy, a Asian discipline for finding the equilibrium and harmony between water and earth and especially between beneficial wind (Blue Dragon) and  evil wind (White Tiger).

 Each street has its specialty: street consecrated to the silk with multicolored scarves, street reserved only to drugs with the fragrance of aromatic herbs etc … , that is what writer Roland Dorgeles told in his book « On the mandarin road ». In his book entitled « A description of  Tonkin kingdom« , the English merchant Samuel Baron mentioned that with  his illustrations and interesting descriptions.

Despite its insignificant size against that of Vietnam, the old quarter of Hanoï irrefutably  demonstrate the commercial and urban culture of the Vietnamese over many centuries. It is a model sorely needed for knowing in depth the traditional structure of the « town » in the Vietnamese’s rural world.

Pictures gallery 

titre_vieux_hanoi_1

 

Phố Cổ

The old quarter has a thousand years of history even if this latter is chaotic. Hànội has been predicted by Lý Thái Tổ king for ten thousand generations to come during the capital’s transfer. Hànội remains not only the eternal capital of the Vietnamese but also the sole city in South-East Asia  successfully keeping its mercantile city over the centuries.

Thu Quyến Rũ (The seduction of  Autumn of Đoàn Chuẫn-Từ Linh).
Saxophonist Quyền Văn Minh.

This track is taken from the album « Hànội mùa thu và em » (Hànội, the autumn and my love).

 Over night

vieux hanoi la nuit

 

 

 

Quán Thánh temple (Hànôi)

French version
Vietnamese version

Not far from Lake of the West (Hồ Tây), Quán Thánh is one of  the inescapable sites of Hànôi city. This sacred  temple is reserved to the cult of Taoist God named  Huyền Thiên Trấn Vũ considered in Asia as the emperor of the North (Bei Di (or Bắc Đẩu in vietnamese)) ruling on the underwater world. According to  the judicious arrangement of Feng Shui, (Phong Thủy), it is  erected with three  others  for purpose of protecting Thăng Long capital against strangers and  evil spirits, each going in the well-defined direction (Bạch Mã temple Hàng Buồm at the East, Voi Phục (Thủ  Lệ ) temple at the West,  Kim Liên in the South and Quán Thánh in the northern Hanoi). It is often said that this temple was erected in 1010 under the reign of Lý Thái Tổ king. The  statue was made of wood at the beginning of its installation. Despite successive  renovations under the Trần dynasty,  it was  only in 1677 under the reign of Lê Hy Tông king that the restoration was significant with the installation and replacement of the statue in bronze-black and the bell tower of the temple.

Vũ Công Chấn’s altar

This colossal statue of 4 tons and about 4 meters  in height, was placed on a marble platform having one metre in height. In a  sitting position with a square face and barefoot, the statue has a taoist traditional dress. It holds  in the right hand, a sword pointing on the turtle’s back and superbly decorated by the presence of the coiled snake while in the left hand, a Taoist mudra, a codified  ritual sign is visible by way of exorcism. Being associated to the direction of the North and  water, the color must be black  according to the theory of five elements (Ngũ hành). It is the explanation found in the color selection for the statue.

Pictures gallery

Đền Quán Thánh

The fine detail and the imposing size of this statue made almost four centuries ago, unquestionably reveal  the prodigious exploit and  know-how of  Ngũ Xã village steelworkers of this time under the supervision of Vũ Công Chấn.

 This temple is not only  the one of  last Taoist temples found in the capital but also the ideal place for those who like  serenity and calm in the town so loud and vibrant as Hànội city.

[RETOUR]