Pont Mirabeau
Culture
Culture des pays d’Asie du Sud Est, de la Chine ou du monde
Pont Bir Hakeim (Paris)
Pont Bir Hakeim
La Muraille de Chine
Vạn Lý Trường Thành
Vạn lý trường thành gồm rất nhiều đồn lũy quân sự và phòng thủ nằm rải rắc ở các địa điểm khác nhau ở biên giới phía bắc Trung Quốc. Được biết đến với tên tiếng Hoa là “Vạn Lý Trường Thành”, nó bắt đầu ở phía đông tại Sơn Hải Quan, thuộc tỉnh Hà Bắc và kết thúc tại Gia Dục Quan ở phía đông tỉnh Cam Túc. Với chiều dài hơn 5000 cây số, nó là biểu tượng của Trung Quốc ngày nay. Những phần gần Bắc Kinh đã được khôi phục nhưng ở phía Bắc vẫn còn những đoạn tường dễ bị sụp đổ. Công trình phòng thủ rộng lớn này được xây dựng từ thời nhà Chu vào thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên để bảo vệ đất nước tránh sự xâm lăng của dân man rợ ở phương Bắc. Đây là lý do tại sao không chỉ có tường và đường đi cho kỵ sĩ mà còn có cả các tháp canh.
Vào năm 1987, Vạn Lý Trường Thành đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Nó còn được công nhận là công trình kiến trúc nhân tạo duy nhất trên trái đất có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Dưới thời Chiến Quốc, các bức tường khác được các lãnh chúa của các vương quốc này dựng lên nhầm bảo vệ đất nước. Các nhà sử học gọi chúng là “ các bức tường thời tiền Tần”. Sau khi đất nước được thống nhất, người ta kể rằng trong giấc mơ, Tần Thủy Hoàng đã nhìn thấy sự tan rã đế chế của mình bởi những kẻ man rợ từ phương Bắc. Bị ám ảnh bởi giấc mơ này, ngài mới giao cho tướng Mộng Điềm liên kết lại các bức tường của sáu nước bị chinh phục này để chống lại bọn man rợ này. Nhà Minh đã thực hiện công việc tu bổ sửa chửa hoàn tất lại kéo dài khoảng 200 năm.
Đây chính là bức tường nhà Minh mà chúng ta thấy ngày nay. Đây cũng là ý kiến của Arthur Waldron, tác giả cuốn sách có tựa đề “Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc. Từ lịch sử đến thần thoại”. Theo ông, bức tường Trung Quốc không thể tiến xa hơn vào cuối thế kỷ 15 và nửa đầu thế kỷ 15. Nó đi từ đèo Shanhaiguan về phía đông và Jiayuguan đèo Jiayu (Jiayuguan) ở phía tây trên chiều dài 5660 cây số. Có thể nói, việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành chưa bao giờ bị gián đoạn hoàn toàn trong suốt hai ngàn năm, từ thời Chiến Quốc đến thời nhà Thanh. Theo ghi chép lịch sử, việc xây dựng nó có huy động hàng trăm ngàn nông dân. Hơn nữa, trong suốt thời gian làm việc ngày đêm , có hơn 1,5 triệu người tham gia, không quên ghi nhận có sự tham gia đông đảo của binh lính. Người Trung Quốc có thói quen nói ai chưa trèo lên Vạn Lý Trường Thành thì không xứng đáng là hảo hán.
Chính vì lý do này mà Vạn Lý Trường Thành là một trong những địa điểm được người Trung Hoa tham quan nhiều nhất. Đây cũng là chiến tuyến ngăn cách người Hung Nô với người Trung Hoa. Nhiều người đã được gửi đến đây và chết ở mặt trận này. Vạn Lý Trường Thành đã chứng kiến nhiều bi kịch của con người và những cuộc chia ly đau đớn và bi thảm. Điều này làm chúng ta nhớ đến bốn câu trong bài thơ hay Lương Châu Từ của nhà thơ nổi tiếng Vương Hàn (Wang Han) ở thời nhà Đường:
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.
万里长城
Chúng ta cũng có thể nhớ đến truyền thuyết nổi tiếng nhất của Vạn Lý Trường Thành, đó là truyền thuyết về Mạnh Khương nữ (Meng Jiangnu). Nàng không ngần ngại đi bộ hơn 10.000 dặm để đi kiếm chồng mình, một thư sinh tên là Phạm Hỷ Lương (Fan Qiliang), người được hoàng đế Tần Thủy Hoàng gửi đến đèo Shanhaiguan trong ngày cưới để xây tường thành. Ở đó, nàng biết tin chồng mình đã chết vì đói lạnh và nàng không thể tìm thấy thi thể của chồng. Tuyệt vọng, cô khóc không ngừng suốt 3 ngày 3 đêm. Nước mắt của nàng làm xói mòn một phần thành lũy, giúp nàng tìm thấy thi thể chồng mình bị chôn vùi dưới bức tường. Sau khi chôn cất, nàng tự sát bằng cách lao mình xuống biển.
Ngày nay, ở Sơn Hải Quan (Hà Bắc, Hà Bắc) đã có dựng bàn thờ để tưởng nhớ bà. Cũng tại Sơn Hải Quan , tướng nhà Minh Ngô Tam Quế đã từ chối liên minh với Lý Tự Thành, thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa vì lý do đơn giản là Lý Tự Thành cướp vợ thứ của Ngô Tam Quế là Trần Viên Viên nên mở cửa thành đầu quân Mãn Châu. Nhờ đó mới có sự khởi đầu của triều đại nhà Thanh (Mãn Châu).
Sự vững chắc của bức tường thành Vạn Lý này phần lớn là do việc sử dụng gạo nếp và canxi c ủa vôi trong sản xuất vữa vôi dùng để sửa chữa, phục hồi các công trình bằng đá cổ. Theo nhà nghiên cứu người Trung Quốc Zhang Bingjian của Đại học Chiết Giang, đó là Amylopectin (trong tiếng Việt gọi là vữa vôi), một chất có độ bền cơ học cao, giúp các công trình cổ của Trung Quốc, đặc biệt là Vạn Lý Trường Thành, bền vững trước thử thách của thời gian và động đất. Ông đã báo cáo phát hiện này trong bài báo đăng trên tạp chí Hoa Kỳ « Journal of the American Chemical Society, 2010, 132 (19), pp 6855–6861« . Điều này giải thích phong trào biểu tình của quần chúng ở miền nam Trung Quốc, nơi vào thời điểm đó có việc trưng dụng gạo một cách có hệ thống. Mục đích của việc này là dùng để làm vữa nếp và cung cấp thức ăn cho những người chịu có trách nhiệm trùng tu bức tường này vào thời nhà Minh.
Elle est constituée par un grand nombre de fortifications militaires et défensives dans différents endroits à la frontière nord de la Chine. Etant connue sous le nom chinois de « La longue muraille de dix mille li », elle commence à l’est à Shanhaiguan (Sơn Hải Quan), dans la province du Hebei (Hà Bắc) , et se termine à Jiayuguan (Gia Dục quan) dans la province orientale du Gansu (Cam Túc). Ayant plus de 5000 km, elle est le symbole de la Chine d’aujourd’hui. Les sections proches de Pékin ont été restaurées mais dans le Nord mais il reste encore des pans de murs chancelants. Ce grand ouvrage défensif fut construit à l’époque des Zhou au IXème siècle avant J.C. C’est pourquoi on y trouve non seulement des murs, de pistes cavalières mais aussi des tours de guet. C’est en 1987 que la Grande Muraille est classée au patrimoine mondial de l’UNESCO . Elle est reconnue aussi comme le seul ouvrage construit par l’homme sur la terre que l’on puisse voir depuis la lune.
À l’époque des Royaumes Combattants, d’autres murs furent construits par les seigneurs de ces royaumes dans le but de défendre leur pays. Les historiens les qualifient de « murs pré-Qin ». Après l’unification du pays, on dit que dans son rêve, l’empereur des Qin Shi Huang Di aurait vu l’occupation de son empire par les barbares du Nord. Hanté par ce songe, il a chargé le général Meng Tian (Mộng Điềm) de relier les murs de ces six états conquis dans le but de contrer ces barbares. La dynastie des Ming a effectué les travaux de rénovation d’une durée approximative de 200 ans.
C’est la muraille des Ming qu’on voit aujourd’hui. C’est aussi l’avis de Arthur Waldron, auteur du livre intitulé « The Great Wall of China. From history to myth« . Pour ce dernier, la Muraille de Chine ne va pas plus loin au delà de la fin du XVème siècle. Elle va de Shanhaiguan (la passe Shanhai à l’est) et à Jiayuguan (la passe Jiayu à l’ouest) sur une longueur de 5660km. On peut dire que la construction de la grande muraille n’a jamais été interrompue complètement durant 2000 ans, de l’époque des Royaumes Combattants jusqu’à la dynastie des Qing. D’après les registres historiques, sa construction a mobilisé des centaines de milliers de paysans. De plus, durant les périodes de travaux intensifs, plus de 1,5 millions de personnes y sont engagées également sans oublier de noter aussi la participation massive de soldats. Les Chinois ont l’habitude de dire que celui qui n’est pas monté encore sur la Muraille de Chine ne mérite pas d’être un homme valeureux. »Bất đáo Trường Thành phi hảo hán (Chưa đến Vạn lý trường thành chưa phải là hảo hán« . C’est pour cette raison que la Muraille de Chine est l’un des sites les plus visités par les Chinois. Elle est aussi la ligne de front séparant les Barbares des Chinois. Beaucoup de gens ont été envoyés et péri sur ce front. La Muraille de Chine est témoin de plusieurs drames humains et de séparations douloureuses et tragiques. Cela nous fait rappeler les quatre vers du beau poème Liangzhu (Lương Châu Từ) du célèbre poète chinois Vương Hàn (Wang Han) à l’époque de la dynastie des Tang (Nhà Đường):
Bồ đào mỹ tửu dạng quang bôi
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.
Il y a du vin rouge contenu dans ma coupelle étincelante et translucide
Malgré l’envie de le boire, je suis pressé de monter à cheval à cause du son du pipa
Ne ricanez pas si vous me voyez étendu et ivre mort sur le champ de bataille
Depuis toujours et de toutes les guerres, combien de gens en sont-ils revenus?
万里长城
On peut se remémorer aussi la plus célèbre légende de la Muraille de Chine, celle de la pleureuse Mạnh Khương nữ (Meng Jiangnu). Celle-ci n’hésite à marcher plus de 10.000 li pour aller chercher son mari, un étudiant nommé Fan Qiliang (Phạm Hỷ Lương) que l’empereur de Chine Shi Huang Di a envoyé le jour de son mariage à la passe de Shanhaiguan pour construire la muraille. Sur place, elle apprend le décès de son mari mort de faim et de froid et elle ne réussit pas à retrouver son corps. Désespérée, elle pleure incessamment durant 3 jours et 3 nuits. Ses larmes érodent une portion du rempart, ce qui lui permet de retrouver le corps de son mari enseveli sous la muraille. Après l’enterrement, elle se suicide en se jetant dans la mer.
Aujourd’hui, à Shanhaiguan (Sơn Hải Quan) (Hebei, Hà Bắc), il y a l’autel érigé en l’honneur de cette dame. C’est aussi à Shanhaiguan (Sơn Hải Quan) que le général chinois Wu Sanggui (Ngô Tam Quế) de la dynastie des Ming qui refuse de s’allier à Li Zicheng ( Lý Tự Thành ), le chef des rebelles paysans pour la simple raison que ce dernier s’empare de sa concubine Chen Yuanyuan (Trần Viên Viên), a ouvert la porte aux armées mandchoues. C’est ainsi que débute la dynastie des Qing.
La solidité de cette muraille est due en grande partie à l’utilisation du riz glutineux et du calcium de la chaux (vôi) dans la fabrication du mortier servant à la réparation et à la restauration des anciennes constructions en pierres et en roches. Selon le chercheur chinois Zhang Bingjian de l’université Zhejiang ( Chiết Giang), c’est l’Amylopectine (ou vữa en vietnamien ), une substance à haute résistance mécanique qui permet aux constructions anciennes chinoises, en particulier la Muraille de Chine, de résister à l’épreuve du temps et au séisme. Il a rapporté cette découverte dans son article publié dans le journal américain « Journal of the American Chemical Society, 2010, 132 (19), pp 6855–6861« . Cela donne l’explication au mouvement des protestations populaires ayant lieu au sud de la Chine où il y a en ce temps-là la réquisition systématique du riz. Celle-ci a pour but de servir à fabriquer le mortier glutineux et à nourrir les gens chargés de restaurer cette muraille à l’époque des Ming.
It consists of a large number of military and defensive fortifications in different locations on the northern border of China. Known by the Chinese name « The Ten Thousand Li Long Wall », it begins in the east at Shanhaiguan (Sơn Hải Quan), in Hebei Province (Hà Bắc), and ends at Jiayuguan (Gia Dục quan) in the eastern province of Gansu (Cam Túc). With a length of more than 5,000 km, it is the symbol of today’s China. The sections near Beijing have been restored, but in the north, there are still sections of shaky walls. This great defensive work was built during the Zhou period in the 9th century BC. Therefore, it contains not only walls, bridleways but also watchtowers. The Great Wall was declared a UNESCO World Heritage Site in 1987. It is also recognized as the only man-made structure on Earth that can be seen from the moon.
During the Warring States period, other walls were built by the lords of these kingdoms to defend their countries. Historians refer to these as the « pre-Qin walls. » After the unification of the country, it is said that in his dream, the Qin emperor Shi Huang Di saw the occupation of his empire by the northern barbarians. Haunted by this dream, he commissioned General Meng Tian (Mộng Điềm) to connect the walls of these six conquered states in order to counter these barbarians. The Ming Dynasty carried out the renovation work, which lasted approximately 200 years.
This is the Ming wall that we see today. This is also the opinion of Arthur Waldron, author of the book « The Great Wall of China. From History to Myth. » For him, the Great Wall of China does not extend beyond the end of the 15th century. It runs from Shanhaiguan (the Shanhai Pass in the east) to Jiayuguan (the Jiayu Pass in the west) over a length of 5660 km. It can be said that the construction of the Great Wall was never completely interrupted for 2000 years, from the Warring States period to the Qing Dynasty. According to historical records, its construction mobilized hundreds of thousands of peasants. In addition, during periods of intensive work, more than 1.5 million people were also engaged in it, not to mention the massive participation of soldiers. The Chinese are accustomed to saying that he who has not yet climbed the Great Wall of China does not deserve to be a valiant man. « Bất đáo Trường Thành phi hảo hán (Chưa đến Vạn lý trường thành chưa phải là hảo hán ». This is why the Great Wall of China is one of the most visited sites by the Chinese. It is also the front line separating the Barbarians from the Chinese. Many people were sent and perished on this front. The Great Wall of China is witness to several human dramas and painful and tragic separations. This reminds us of the four lines of the beautiful poem Liangzhu (Lương Châu Từ) by the famous Chinese poet Vương Hàn (Wang Han) at the time of the Tang Dynasty (Nhà Đường):
Bồ đào mỹ tửu dạng quang bôi
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.
There’s red wine in my sparkling, translucent bowl.
Despite the urge to drink it, I’m in a hurry to get on horseback because of the sound of the pipa.
Don’t sneer if you see me lying dead drunk on the battlefield.
Since the dawn of time, and from all the wars, how many people have returned?
万里长城
We can also recall the most famous legend of the Great Wall of China, that of the mourner Mạnh Khương nữ (Meng Jiangnu). She did not hesitate to walk more than 10,000 li to fetch her husband, a student named Fan Qiliang (Phạm Hỷ Lương) whom the Emperor of China Shi Huang Di sent on the day of his wedding to the Shanhaiguan pass to build the wall. There, she learned of the death of her husband who had died of hunger and cold and she was unable to find his body. Desperate, she cried incessantly for 3 days and 3 nights. Her tears eroded a portion of the rampart, which allowed her to find the body of her husband buried under the wall. After the burial, she committed suicide by throwing herself into the sea.
Today, in Shanhaiguan (Sơn Hải Quan) (Hebei, Hà Bắc), there is the altar erected in honor of this lady. It is also in Shanhaiguan (Sơn Hải Quan) that the Chinese general Wu Sanggui (Ngô Tam Quế) of the Ming dynasty, who refused to ally himself with Li Zicheng (Lý Tự Thành), the leader of the peasant rebels for the simple reason that the latter seized his concubine Chen Yuanyuan (Trần Viên Viên), opened the door to the Manchu armies. This is how the Qing dynasty began.
The strength of this wall is largely due to the use of glutinous rice and lime calcium (vôi) in the manufacture of mortar used for the repair and restoration of ancient stone and rock constructions. According to Chinese researcher Zhang Bingjian of Zhejiang University (Chiết Giang), it is Amylopectin (or vữa in Vietnamese), a substance with high mechanical resistance that allows ancient Chinese constructions, in particular the Great Wall of China, to withstand the test of time and earthquakes. He reported this discovery in his article published in the American journal « Journal of the American Chemical Society, 2010, 132 (19), pp 6855–6861 ». This explains the movement of popular protests taking place in southern China where at that time there was the systematic requisition of rice. This was used to make glutinous mortar and to feed the people responsible for restoring this wall during the Ming era.
Quartier indochinois (Khu phố Đông Dương)
Nghệ thuật thành phố (Art de rue)
Tôi vẫn nhớ trước 1975, quận 13 là cái nôi của ngành công nghiệp xe hơi Pháp. Bởi vậy nên có nhiều dân lao đông từ khắp nơi về đây cư trú. Thời đó còn là sinh viên ở cư xá, mình muốn ăn tô mì « dơ » phải ra ga Lyon hay đến khu latin (khu sinh viên quận 5), nơi đây có mấy quán Việt-Tàu nằm thưa thớt ở trên đường Saint Jacques. Lúc đó thì có một dự án xây cất 16 400 căn hộ với 55 tòa nhà chọc trời được kiến trúc sư Le Corbusier thiết kế để bán hoặc cho thuê nhưng cuối cùng chỉ có 30 toà nhà đuợc hoàn thiện trên khu tam giác Choisy-Ivry-Massena được giới hạn bởi đại lộ Masséna cùng với hai con đường dài Ivry và Choisy. Vì không muốn sống lạc lõng trong những toà nhà cao tầng nầy, đa số dân lao động mới chuyển ra ngoại ô sinh sống. Vì thế sau biến cố 1975, người thuộc xứ Đông Dương cũ mới chọn khu tam giác nầy để sinh sống và buôn bán. Cũng có rất nhiều người Hoa đến từ Đông Dương cũng cư trú ở nơi nầy. Nay thì quen miệng gọi là khu Tàu chớ thât sự phải nói là khu của người Đông Dương mới đúng. Khu nầy trở nên ngày nay khu ăn uống đi chợ cùa ngưòi Châu Á. Người Việt chúng ta thích đến đây ăn uống hẹn hò và trò chuyên chớ phần đông vẫn thích sống an nhàn nên thường ở rải rắc ngọai ô và sống hoà đồng dễ dàng với người Pháp hơn.
Je me souviens qu’avant 1975, le 13ème arrondissement était le berceau de l’industrie automobile française. C’est pourquoi de nombreux ouvriers venus de tous les coins s’y étaient installés. Étant encore étudiant à cette époque, afin de pouvoir manger une soupe de porc aux nouilles, je devais aller à la gare de Lyon ou au quartier latin (celui des étudiants du 5e arrondissement) où il y avait des restaurants vietnamiens et chinois disséminés le long de la rue Saint Jacques.
À l’époque, il y avait un projet de construction de 16 400 appartements destinés à vendre ou à louer aux travailleurs avec 55 gratte-ciel conçus par l’architecte Le Corbusier mais il n’y avait que 30 bâtiments qui ont été construits à la fin des travaux dans le triangle Choisy-Ivry-Masséna délimité par le boulevard Masséna avec les deux longues avenues d’Ivry et de Choisy. Ne voulant pas vivre isolés dans ces gratte-ciel, la plupart de ces travailleurs décidaient de déménager dans les banlieues. C’est pourquoi après les évènements de 1975, les gens vivant dans l’Indochine française (Vietnamiens, Laotiens et Cambodgiens) ont choisi ce triangle pour y vivre et faire le commerce. De nombreux Chinois venant de l’Indochine française s’y installèrent aussi. On est habitué à l’appeler sous le nom « quartier chinois » mais on doit dire normalement « quartier indochinois ». Celui-ci devient aujourd’hui le quartier où les Asiatiques se donnent le rendez-vous pour se rencontrer, faire les courses ou manger ensemble à la fin de la semaine. Quant aux Vietnamiens, ils préfèrent un autre mode de vie plus tranquille en vivant disséminés un peu partout et en s’intégrant facilement au milieu français.
Nghệ thuật thành phố (Street Art)
Khu phố Tàu cũng có một đặc điểm mà ít ai để ý đến. Đấy là nghệ thuật đường phố nhất là khu nầy rất có nhiều toà nhà chọc trời. Ce quartier indochinois a aussi une caractéristique que peu de gens ont remarquée. C’est l’art de rue ou (street art) qui est tellement visible sur les murs de ses gratte-ciel.
Thập Tam Lăng ( 13 Mausolées des Ming)
Thập Tam Lăng nhà Minh
Ming Shisan Ling
Mười ba lăng mộ nhà Minh nằm trong một thung lũng rộng phía nam núi Thiên Thọ, cách Bắc Kinh khoảng 42 cây số. Thung lũng này được chọn vì đáp ứng được tiêu chí về Phong Thủy. Nó được bao bọc ba mặt ở phía bắc nhờ có một dãy núi còn về phía nam nhờ sự hiện diên một khe hở để tránh được các thần linh ma quỷ từ gió bắc mang đến. Tổng cộng có 13 trong số 16 hoàng đế của nhà Minh, 23 hoàng hậu, một phi tần nhất phẩm cùng một số phi tần được an nghỉ tại nơi thung lũng bình yên này. Có ba vị hoàng đế nhà Minh không được chôn cất ở nơi nầy.
Nằm ở trung tâm nghĩa trang, thì có ngôi mộ của Chu Đệ (Trường Lăng) được xem là nổi bật với kích thước to lớn so với mười hai lăng mộ khác. Nó cũng là ngôi mộ đầu tiên được xây dựng ở đây với 60 cột gỗ lim cao có 12 mét và có đường kính 1 mét được đưa từ vùng rừng sâu của Vân Nam và Tứ Xuyên mang về Bắc Kinh và cũng là nơi tổ chức mọi hoạt động cúng tế. Còn các ngôi mộ khác của các hoàng đế nhà Minh thì được sắp xếp theo mô hình cây quạt xung quanh con đường chính thiêng liêng được gọi là « Thần Đạo » (Shendao)
Dọc hai bên của con đường dài này thì có 36 bức tượng bằng đá, 12 vị quan chức dân sự và quân sự, và 12 cặp động vật (sư tử, lạc đà, kỳ lân, voi, ngựa và con vật tưởng tượng). Ngôi mộ của Chu Đệ (Yong Le) vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chúng ta cũng biết rằng khi ông được an táng, có 16 phi tần cũng bị chôn sống. Phong tục dã man này đã bị bãi bỏ sau đó vào thế kỷ 15 dưới thời vua Minh Thần Tông (Vạn Lịch).
Khi còn sống, Hoàng đế Vạn Lịch bắt đầu xây dựng Định Lăng vào năm 1584. Điều này khiến nhà nước tốn một khoản tiền đáng kể. Không biết cấu trúc bên trong của ngôi mộ này, giáo sư Xia Nai, giám đốc Viện Khảo cổ học Bắc Kinh phải thực hiện cuộc khảo sát đầu tiên về Định Lăng vào năm 1956 và phát hiện ra ngôi mộ nầy chưa bao giờ bị xâm phạm. Chính nhờ một thẻ bài mới biết ra vị trí của cánh cửa ở trong bức tường với cơ chế bí mật được chôn sâu khoảng chừng 11 thước dưới lòng đất, ông mới thành công trong việc mở được ngôi mộ này cũng như các căn phòng phụ của nó.
Điều này dẫn đến sự tìm thấy phòng chôn cất của Vạn Lịch và hai bà hoàng hậu Tiêu Duẩn và Tiêu Cảnh. Ngoài ra còn có một số lượng lớn các đồ vật quý giá (trang sức bằng ngọc bích, gốm sứ ba màu, meiping (một lọại bình sứ ) vân vân ) trong 26 chiếc rương sơn mài màu đỏ tía được cất giử ở phòng phía sau cùng.
Điều này dẫn đến sự tìm thấy phòng chôn cất của Vạn Lịch và hai bà hoàng hậu. Ngoài ra còn có một số lượng lớn các đồ vật quý giá (trang sức bằng ngọc bích, gốm sứ ba màu, meiping (một lọại bình sứ ) vân vân ) trong 26 chiếc rương sơn mài màu đỏ tía được cất giử ở phòng phía sau cùng. Hiện tại, ngôi mộ duy nhất mà có thể du khách được truy cập đó lăng của Wanli (1573-1620) (Vạn Lịch). Bà hoàng hậu (Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu) và bà hoàng quí phi (Hiếu Tĩnh Hoàng hậu) được chôn cất bên cạnh hoàng đế.
Cung điện dưới lòng đất nầy có diện tích 1195 thước vuông, sâu 27 mét. Nó được có 5 phòng: phòng phía trước, phòng trung tâm, phòng phía sau cũng như hai phòng bên. Nó được xây dựng bởi 30.000 công nhân sau sáu năm. Phòng trung tâm và phòng phía trước tạo thành một hành lang dài vuông góc với phòng phía sau. Tất cả các phòng đều được ngăn cách với nhau bằng một cánh cửa lớn bằng đá cẩm thạch màu trắng được trang trí bằng những tác phẩm điêu khắc tinh xảo. Ngoài ra còn có 3 chiếc ngai bằng đá cẩm thạch dành riêng cho người đã khuất ở gian giữa.
Ngoại trừ tấm bia mộ của Chu Đệ mà người kế vị ông để lại hơn 3000 chữ ca ngợi công đức của cha mình, chúng ta không tìm thấy chữ viết nào trên tấm bia của các ngôi mộ khác. Đây là một bí ẩn mà các nhà sử học cần phải giải quyết. Một số người cho rằng các hoàng đế nhà Minh đã bãi bỏ tục lệ này vì sợ bị hậu thế chỉ trích, chế giễu vì hành vi sai trái, trụy lạc. Một số người khác lại ủng hộ sự chấp nhận thái độ của Vũ Tắc Thiên thời nhà Đường bởi các hoàng đế nhà Minh. Bà nầy không để lại dấu vết gì cả để khỏi bị chỉ trích vì bà biết cách cư xử của mình không thể hoàn hảo.
Les tombeaux des Ming sont situés dans une large vallée au sud de la montagne Tianshou (Thiên Thọ) loin de Pékin à peu près de 42 kilomètres. Cette vallée a été choisie car elle répond aux critères de Fengshui (Phong Thủy). Elle est encadrée au nord sur ses trois côtés par une chaîne de montagnes et au sud par une ouverture, ce qui lui permet d’être protégée contre les mauvais esprits emmenés par les vents du Nord. Il y a en tout 13 des 16 empereurs des Ming, 23 impératrices, une concubine de premier rang et une douzaine de concubines impériales qui ont reposé dans cette vallée paisible. Trois empereurs des Ming ne sont pas enterrés ici.
Située au centre du cimetière, la sépulture de Yong Le (Trường Lăng) se fait remarquer par sa taille imposante par rapport aux douze autres mausolées avec 60 colonnes en bois de fer (gỗ lim) ayant 12 mètres de haut et un diamètre d’un mètre, ramenés de la région forestière de Yunnan et Sichuan jusqu’à Pékin. Elle est aussi la première à y être construite. Les autres tombeaux des empereurs des Ming sont disposés en éventail autour de la voie principale sacrée (Shendao). Cette longue allée est bordée de 36 statues de pierre, 12 dignitaires civils et militaires et 12 paires d’animaux (lions, chameaux, licornes, éléphants, chevaux et chimères). Le tombeau de Yong Le est resté inviolé. Mais on sait qu’au moment de son enterrement, 16 concubines furent emmurées vivantes à son côté. Cette coutume fut abolie après au XVème siècle.
De son vivant, l’empereur Wan Li commença à construire en 1584 son tombeau Dingling (tombeau de la tranquillité)(Định Lăng). Celui-ci coûte une somme considérable à l’état. Ignorant la structure interne de ce tombeau, le professeur Xia Nai, directeur de l’institut d’archéologie de Pékin, effectua le premier sondage sur le Dingling en 1956 et découvrit ce tombeau inviolé. Grâce à une tablette indiquant l’emplacement de la porte du mur au mécanisme secret enfoui à trente cinq pieds sous terre, il réussit à ouvrir ce tombeau ainsi que ses chambres annexes. Cela permet de retrouver la chambre funéraire de Wanli et de ses 2 impératrices Xiao Duan et Xiaojing. On trouve également un grand nombre d’objets précieux (parures de jade, des céramiques à trois couleurs, des meiping etc. ) dans les 26 coffres en laque pourpre rangés dans la salle du fond. Pour le moment, le seul tombeau accessible aux visiteurs est celui de Wanli ( 1573-1620) (Vạn Lịch en vietnamien). L’impératrice et la première concubine impériale (Hoàng Qúi Phi) furent enterrées à leur mort au côté de l’empereur.
Le palais souterrain d’une superficie de 1195 m2 se trouve à 27 mètres de profondeur. Il est constitué de 5 salles: la salle antérieure, la salle centrale, la salle postérieure ainsi que deux salles latérales. Il a été construit par 30.000 ouvriers au bout de six ans. La salle centrale et la salle antérieure forment un long couloir directement perpendiculaire à la salle de fond. Toutes les salles sont isolées les unes des autres par une grande porte en marbre blanc décorée de fines sculptures. On trouve aussi 3 trônes en marbre réservés pour les défunts dans la chambre centrale.
Excepté le stèle du tombeau de Yong Le sur lequel son successeur a laissé plus de 3000 mots vantant les mérites et les vertus de son père, on ne trouve aucune écriture sur les stèles des autres tombeaux. C’est une énigme à élucider pour les historiens. Certains pensent que les empereurs des Ming abolirent cette tradition par peur d’être critiqués et ridiculisés par la postérité à cause de leur mauvaise conduite et de leur débauche. D’autres penchent en faveur de l’adoption de l’attitude de Wu Ze Tian (Vũ Tắc Thiên) de la dynastie des Tang par les empereurs des Ming. Celle-ci ne laisse aucune trace écrite afin de ne pas être critiquée car elle savait que son comportement n’était pas irréprochable.
The Ming Tombs are located in a wide valley south of Tianshou Mountain (Thiên Thọ), about 42 kilometers from Beijing. This valley was chosen because it meets the criteria of Fengshui (Phong Thủy). It is framed on three sides by a mountain range to the north and by an opening to the south, which allows it to be protected against evil spirits carried by the north winds. In all, 13 of the 16 Ming emperors, 23 empresses, one first-rank concubine, and a dozen imperial concubines were laid to rest in this peaceful valley. Three Ming emperors are not buried here.
Located in the center of the cemetery, Yong Le’s tomb (Trường Lăng) stands out for its imposing size compared to the twelve other mausoleums, with 60 ironwood columns (gỗ lim) 12 meters high and one meter in diameter, brought from the forest region of Yunnan and Sichuan to Beijing. It was also the first to be built there. The other tombs of the Ming emperors are arranged in a fan shape around the main sacred path (Shendao). This long path is lined with 36 stone statues, 12 civil and military dignitaries and 12 pairs of animals (lions, camels, unicorns, elephants, horses and chimeras). Yong Le’s tomb has remained inviolate. But it is known that at the time of his burial, 16 concubines were walled up alive beside him. This custom was abolished after the 15th century.
During his lifetime, Emperor Wan Li began building his Dingling Tomb (Tomb of Tranquility) (Định Lăng) in 1584. It cost the state a considerable amount of money. Unaware of the internal structure of this tomb, Professor Xia Nai, director of the Beijing Institute of Archaeology, carried out the first survey of the Dingling in 1956 and discovered this inviolate tomb. Thanks to a tablet indicating the location of the door of the wall with the secret mechanism buried 35 feet underground, he succeeded in opening this tomb as well as its annex chambers. This allows us to find the burial chamber of Wanli and his two empresses Xiao Duan and Xiaojing. A large number of precious objects (jade ornaments, three-color ceramics, meiping, etc.) are also found in the 26 purple lacquer chests stored in the back room. Currently, the only tomb open to visitors is Wanli Tomb (1573-1620) (Vạn Lịch in Vietnamese). The empress and the first imperial concubine (Hoàng Qúi Phi) were buried at the emperor’s side upon their death.
The underground palace, covering an area of 1,195 square meters, is located 27 meters underground. It consists of five rooms: the front room, the central room, the rear room, and two side rooms. It was built by 30,000 workers over a period of six years. The central room and the front room form a long corridor directly perpendicular to the rear room. All the rooms are separated from each other by a large white marble door decorated with fine carvings. There are also three marble thrones reserved for the deceased in the central chamber.
Apart from the stele of Yong Le’s tomb, on which his successor left more than 3,000 words extolling the merits and virtues of his father, no writings are found on the stelae of the other tombs. This remains a mystery for historians to solve. Some believe that the Ming emperors abolished this tradition out of fear of being criticized and ridiculed by posterity for their misconduct and debauchery. Others believe that the Ming emperors adopted the attitude of Wu Ze Tian (Vũ Tắc Thiên) of the Tang Dynasty. She left no written records so as not to be criticized because she knew her behavior was not beyond reproach.
Thi sĩ Đoàn Thị Điểm (Poétesse Đoàn Thị Điểm)
Version française
Version anglaise
Được biết đến dưới bút hiệu là Hồng Hà, bà sinh ra vào năm Ất Dậu (1705) ở làng Hiến Phạm, huyện Văn Giang, Hưng Yên ở miền bắc Việt Nam. Bà đựợc xem đứng bậc nhất trong bốn nữ sĩ lỗi lạc nhất ở Việt Nam cùng với Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương và Sương Nguyệt Ánh và làm nở mày nở mặt đàn bà ở nước Nam. Có một lần đoàn sứ Mãn Thanh sang nước ta với Hàng Địch Lộc và Nhiệm Lan Chi. Triều đình nước ta mới tuyển chọn bà giã làm cô bán hàng xinh đẹp. Quen thói hống hách và khinh thường trông thấy cô bán hàng xinh đẹp, sứ Tàu giỡ trò nói đùa như sau:
Nam phương nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh.
Phương Nam có một tấc đất mà không biết bao nhiêu người cày.
Đoàn thị Điểm hiểu ý nhanh nhẹn đáp lại ngay:
Bắc quốc đại trượng phu, giai do thứ đồ xuất
Nứớc Tàu phương Bắc có lắm bậc đại phu nhưng cũng đều bởi đường ấy mà ra.
Hai câu đối trên nếu giãi nghĩa thanh thì đối nhau cũng rất thanh nhã mà muốn giải nghĩa tục thì đối nhau cũng rất tục tĩu khiến làm sứ Tàu hổ thẹn bỏ đi ngay và không còn đứng lại bỡn cợt các con gái nước Nam.
Theo gia phả thì gia đình bà thuộc về họ Lê nhưng đến đời cha của bà Đoàn Doãn Nghi (1678-1729) thì mới đổi ra họ Đoàn. Cha của bà đỗ và có làm quan một lúc dưới thời Lê Trung Hưng. Sau khi ly dị với vợ chính có một đứa con trai tên là Đoàn Doãn Sĩ, ông tái giá lại có được hai người con: con cả là Đoàn Doãn Luân và con thứ Đoàn thị Điểm. Lúc trẻ, bà không những nổi tiếng thông minh, mà còn đẹp người và đẹp nết nữa. Bà rất cần cù chăm học, có tài năng văn chương và xuất chúng luôn cả trong việc nữ công. Cho nên năm lên 16 tuổi, bà được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi để sau nầy dâng lên chúa Trịnh nhưng bà khước từ vì không muốn bị gò bó trong triều đình. Sau đó, khi nghe cha ốm đau, bà xin cha nuôi cho phép bà trở về quê phụng dưỡng cha già. Nhờ đó bà được chăm nom và giáo dục của cha và anh, cả hai đều đổ để làm quan nhưng rồi cũng từ quan trở về dạy học cả ở làng Lạc Viên (huyện An Dương, tỉnh Kiến An; nay thuộc Hải Phòng). Bà cùng anh có dịp nghiên cứu các mô hình cổ điển và khoa học huyền bí. Những lúc thư giãn, bà hay thường cùng anh thích thi đua văn học qua các câu đối tuyệt tác với sử dụng khéo léo tài tình các chữ mà còn có cả năng khiếu đáp ứng nhanh nhẹn khiến làm chúng ta con cháu nước Việt ngày nay phải ngẩn ngơ thán phục khi đọc lại các câu đối này. Lúc lên 6 tuổi, bà được học Sử Ký của Tư Mã Thiên nên có một ngày, Đoàn Doãn Luân mới thách thức bà dựa trên sử ký mà ra câu vế đầu như sau:
Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém.
Quý đây muốn ám chỉ đến Hán Cao Tổ Lưu Bang.
Bà không ngần ngại đáp lại nhanh nhẹn câu vế sau cũng cũng lấy lại trong sử ký:
Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng Thiên nhi thán viết.
Rồng vàng đội thuyền, Ông Vũ ngửa mặt lên Trời mà than. Vũ đây là tên của Đại Vũ vua nhà Hạ.
Có một lần, khi bà đang trang điểm nhìn qua gương thì anh bà Đoàn Doãn Luân đi ngang qua xuống ao rữa chân ngồi trên ván hồ mới thốt ra vế đầu như sau:
Chiếu kính họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.
Soi gương kẽ lông mày, một nét hoá ra hai nét.
Bà mới đáp lại vế cuối như sau:
Lâm tri ngọan nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.
Tới ao ngắm trăng, một vầng hoá ra hai vầng.
Trong hai câu vế nầy, chữ Điểm cũng như chữ Luân được lập lại hai lần. Đây cũng là cách dùng khéo léo tài tình để ám chỉ bà và anh bà, mỗi người trở lại thành hai người trong câu đối. Bà không chỉ đáp giỏi trong loại văn biền ngẫu nầy mà còn để lại cho quần chúng những câu vế đầu thách thức khó đối như « Da trắng vỗ bì bạch ». Đây là một hình ảnh trực quan, dễ mường tượng, gợi dục nhưng rất tinh tế. Theo dân gian kể, bà Điểm đang tắm thì Trạng Quỳnh đòi vào tắm chung. Bà mới thách thức ông Trạng nếu muốn được tấm chung thì phải đối được câu đối hóc búa nầy. Bì là da mà bạch cũng là trắng. Như vậy bì bạch là da trắng nhưng hai tiếng nầy theo nghĩa nôm là từ tượng thanh (tiếng vỗ) vừa là từ tượng hình (da có mầu) vừa là từ tượng sắc (trắng). Câu Da Trắng Vỗ Bì Bạch có ngầm ý là vỗ vào chỗ da trắng nhất, chỉ để hở ra lúc tắm tức là chổ kín đáo nhất. Vì không đối được, Trạng Quỳnh phải bỏ đi. Có 300 năm qua chưa ai tìm ra được câu đối đáp tương xứng phải đúng theo nội dung, cấu trúc, thể loại nội dung, số lượng vân vân.. Phải tôn trọng thứ tự vị trí của các danh từ, tính từ và động từ, quan sát các quy tắc đối lập của các thanh bằng và trắc. Có người cho rằng đây là câu đối « chết ». Ngoài việc sử dụng tài tình các chữ trong các câu đối, bà còn viết truyện chữ Hán có tên là Truyền kỳ tân phả (khắc in lần đầu năm Tân Mùi, 1811). Quyển nầy gồm có 5 câu chuyện đầy hương vị: Vân các thần nữ, Hải Khẩu linh từ, An ấp liệt nử, Yến anh đối thoại và Mai huyễn.
Bà còn dịch nguyên bản của truyện thơ Chinh phụ ngâm khúc viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn thành 412 câu thơ theo thể song thất lục bát bằng chữ Nôm. Phải nói rằng bài thơ này làm người đọc thấu hiểu được tâm sự của người phụ nữ xa chồng, phải lo phụng dưỡng mẹ già, dạy dỗ đàn con thơ của chồng với lòng không nguôi trong lúc đó chồng bà ông Nguyễn Kiều phải đi sứ sang Tàu trong suốt thời gian 3 năm cũng như lính thú đóng giữ ở biên thùy. Với tài năng lỗi lạc của bà khiến tác phẩm Hán văn của ông Đặng Trần Côn mà bà dịch trở thành một tuyệt tác so với các bản dịch khác và cũng làm người đọc quên đi cái mô hình có vẻ nhợt nhạt và lạnh lùng trong nguyên bản chính.
Chính bà làm cho người đọc thấy được cảm xúc chân thành và rung động của tâm hồn bà, nổi cô đơn buồn tủi của người phụ nữ phải xa chồng. Theo nhà nghiên cứu Trần Cửu Chấn, thành viên của Viện hàn lâm văn học và nghệ thuật Paris thì bản dịch của Phan Huy Ích được xem như một bài tập trường học so với tác phẩm vô cùng tuyệt vời của Đoàn Thị Điểm vì bà thấu hiểu và đồng cảm với tâm trạng của người chinh phụ. Chính với tuyệt tác Chinh Phụ Ngâm mà bà phiên dịch bằng chữ nôm đã đưa tên tuổi của bà lên đỉnh cao trong nền văn học nước nhà nhưng nói về tình duyên bà rất lận đận, phải thế anh giúp đở chị dâu nuôi dàn cháu thơ dại và phụng dưởng mẹ già. Vì gia cảnh khó khăn, bà cùng mẹ, chị dâu và hai cháu tản cư đến làng Chương Dương bên bờ sông Nhị Hà, gần Hà Nội. Ban đầu, bà làm nghề xem mạch bốc thuốc sau đó thành lập một trường dạy học đào tạo nhân tài. Sự nghiệp của bà thu hút rất nhiều học trò. Trong thời gian dạy học có rất nhiều người dạm hỏi cưới bà nhưng mãi đến năm 1743 bà mới chịu kết hôn với ông Nguyễn Kiều, một người học rộng và tài cao (đỗ Giải nguyên ở tuổi 18 và đỗ Tiến sĩ ở tuổi 21). Tháng 8 năm 1748, trong lúc theo chồng vào Nghệ An, bà Đoàn Thị Điểm mắc bệnh và qua đời vào ngày 11 tháng 9 năm Đinh Mão (1748). Lúc đó bà chỉ mới 43 tuổi. Phần mộ của bà còn nằm tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Connue sous le nom de plume Hồng Hà, elle est née en 1705 (année du coq de bois) au village de Hiến Phạm, sous-préfecture de Văn Giang de la province Hưng Yên dans le nord du Vietnam. Elle est classée au premier rang des quatre poétesses les plus éminentes du Vietnam avec Madame Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương et Sương Nguyệt Ánh et elle rehausse la fierté d’être la femme du Vietnam.
Une fois, lors de la visite d’une délégation chinoise de la dynastie des Qing au Vietnam avec Hàng Địch Lộc et Nhiệm Lan Chi, la cour royale de notre pays l’a récemment recrutée pour se déguiser en une belle vendeuse. Etant habitué à se montrer arrogant et méprisant vis-à-vis des Vietnamiens, l’ambassadeur chinois commença à la taquiner en lui adressant le vers supérieur suivant:
Nam phương nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh.
Phương Nam có một tấc đất mà không biết bao nhiêu người cày.
Le Sud a un seul pouce de terrain mais je ne sais pas combien de gens y ont labouré.
En saisissant bien l’insinuation, Đoàn thị Điểm répliqua avec une rapidité étonnante:
Bắc quốc đại trượng phu, giai do thứ đồ xuất
Nứớc Tàu phương Bắc có lắm bậc đại phu nhưng cũng đều bởi đường ấy mà ra.
Le Nord a beaucoup de grands docteurs mais tous sont sortis également de cette issue (ouverture).
Pour les deux sentences parallèles ci-dessus si on les explique au sens strict, il n’y a que des compliments. Par contre si elles sont interprétées au sens figuré, la vulgarité est au top avec une image obscène ( avec des putes et des gens sortis de ce trou), ce qui fait rougir de honte l’ambassadeur et le fait partir immédiatement sans oser recommencer à taquiner d’autres filles du Sud.
Selon la généalogie, sa famille appartenait à la famille Lê, mais c’était seulement avec son père Đoàn Doãn Nghi (1678-1729) que le nom de famille fut changé en Đoàn. Son père réussit aux examens et servit comme mandarin pendant un certain temps sous la dynastie des Lê postérieurs. Après avoir divorcé avec sa première femme, qui avait un fils nommé Đoàn Doãn Sĩ, il se remaria et eut deux enfants : l’aîné, Đoàn Doãn Luân, et le second, Đoàn thị Điểm. Lorsque cette dernière était jeune, elle était célèbre non seulement pour son intelligence, mais aussi pour sa beauté et son caractère. Elle était très appliquée et studieuse, possédait un talent littéraire inouïe et n’avait pas son égale dans les travaux à l’aiguille. C’était pour cela qu’à l’âge de 16 ans qu’elle fut adoptée par le ministre Lê Anh Tuấn dans le but de l’envoyer plus tard à la Cour des Trịnh mais elle refusa cette idée en prenant le prétexte de ne pas vouloir se plier aux contraintes imposées par la Cour.
Plus tard, lorsqu’elle apprit que son père était malade, elle demanda à son père adoptif de lui permettre de retourner dans sa ville natale pour prendre soin de son père âgé. Grâce à ce retour, elle reçut les soins éducatifs de son père et de son frère. Malgré la réussite de ces deux derniers à devenir mandarins, ils préférèrent retourner à l’enseignement dans le village de Lạc Viên dans le district An Dương de la province de Kiến An appartenant aujourd’hui à Hải Phòng. Elle eut cette occasion d’étudier avec son frère les modèles classiques et les sciences occultes. Durant les moments de détente, elle apprécia souvent la compétition littéraire avec son frère à travers les chefs-d’œuvre de distiques avec l’emploi habile des mots, mais aussi la capacité de répliquer de façon adéquate. Cela nous laisse muets d’admiration en tant que les descendants vietnamiens d’aujourd’hui en relisant ces distiques.
À l’âge de 6 ans, elle eut l’occasion d’apprendre « Les mémoires historiques » de l’historien chinois Sima Qian. Un jour, Đoàn Doãn Luân n’hésita pas à la défier en s’appuyant sur cet ouvrage et en lui adressant le vers supérieur comme suit:
Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém.
Le serpent se trouvant au milieu de la route, le bonhomme dégaine l’épée. (Le bonhomme désignant l’empereur chinois Han Gaozu.
Sans hésitation, elle réplique avec une facilité étonnante tout en s’appuyant également sur les Mémoires historiques de Sima Qian avec le vers inférieur:
Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng Thiên nhi thán viết.
Rồng vàng đội thuyền, Ông Vũ ngửa mặt lên Trời mà than. Vũ đây là tên của Đại Vũ vua nhà Hạ.
Le dragon soulevant l’embarcation, Yu retourne le visage vers le Ciel avec des soupirs (Yu désignant le nom de l’empereur Da Yu de la dynastie des Xia).
Un jour, alors qu’elle se maquilla et se regarda à travers le miroir, son frère Đoàn Doãn Luân passa par là pour aller à l’étang et laver ses pieds. En s’asseyant sur la planche tendue par-dessus de l’étang, il lança le vers supérieur comme suit :
Chiếu kính họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.
Soi gương kẽ lông mày, một nét hoá ra hai nét.
En se regardant dans le miroir, on trouve les traits de son visage se dédoubler.
Elle ne tarda pas à répliquer comme d’habitude avec le vers inférieur suivant:
Lâm tri ngọan nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.
Tới ao ngắm trăng, một vầng hoá ra hai vầng.
En contemplant la lune au bord de l’étang, on voit le disque de la lune devenir double.
Dans ces deux vers, les vocables Điểm (trait) et Luân (luân) sont répétés chacun deux fois. C’est aussi une façon ingénieuse de la désigner ainsi que son frère pour rappeler que chacun d’eux devient ainsi deux dans ce distique.
Elle excelle dans ce type de prose mais elle laisse jusqu’à aujourd’hui au public quelques sentences difficiles à trouver la réplication appropriée. C’est le cas du vers supérieur « Da trắng vỗ bì bạch (La peau blanche « tapote» la peau blanche ) ». C’est une image visuelle, facile à imaginer, sexuelle mais très raffinée.
Selon l’on-dit, elle était en train de prendre un bain lorsque Trang Quỳnh surgit entre-temps et lui demanda d’ouvrir la porte de la salle de bain pour y être ensemble. Elle lui lança le défi de trouver la sentence vraiment ardue pour pouvoir satisfaire à sa sollicitation. Bì désigne la peau mais le vocable bạch signifie « blanc ». Ainsi bì bạch c’est la peau blanche. Mais dans l’écriture démotique (nôm) ce sont deux mots se rapportant à la fois à l’image du son (vỗ), de la peau (da) et de la couleur (trắng). La phrase « Da Trắng Vỗ Bì Bạch » implique intentionnellement qu’il faut « tapoter » la partie la plus blanche du corps qu’on laisse apparaître au moment de la douche. C’est la partie la plus intime. Incapable de trouver la réplication appropriée, Trạng Quỳnh fut obligé de déguerpir.
Au cours des 300 dernières années, personne n’a trouvé une sentence appropriée permettant de prendre en compte un certain nombre de critères: le contenu, la structure, la catégorie, le nombre de mots utilisés etc. L’ordre d’emplacement des mots (noms, adjectifs ou verbes) doit être respecté ainsi que la prise en considération des règles d’opposition des registres sonores bằng et trắc. Certains ont déjà dit qu’il s’agit bien une sentence inappropriée (ou morte). À part son talent de savoir utiliser de manière ingénieuse les mots dans les distiques, elle a composé encore en caractères chinois un livre de contes intitulé « Nouveau recueil de légendes merveilleuses (Truyền kỳ tân phả) imprimé en l’an 1811» comprenant en tout 5 recueils remplis de saveur: Vân các thần nữ (La déesse du Palais des Nuages), Hải Khẩu linh từ (la Pagode du Port de Mer), An ấp liệt nử (l’héroïne du Hameau de la Paix), Yến Anh Đối Thoại (Dialogue entre l’hirondelle et le loriot) et Mai Huyễn (L’abricotier mystérieux).
Elle a également traduit le poème original de Chinh Phụ Ngâm Khúc (ou les plaintes de la femme d’un guerrier) écrit en chinois par le savant lettré Đặng Trần Côn en 412 vers écrits en caractères démotiques (chữ nôm) sous la forme poétique de nom Song Thất Lục Bát (quatrain de deux-sept-six-huit). Il faut reconnaître que ce poème permet au lecteur de rentrer dans la confidence d’une femme éloignée de son mari, chargée de prendre soin de sa mère âgée et de s’occuper de l’éducation de jeunes enfants de son mari avec son cœur inconsolable tandis que son mari Nguyễn Kiều, a été envoyé en tant qu’ambassadeur en Chine depuis 3 ans comme un soldat envoyé à la frontière. Avec le talent inouï de Đoàn thị Điểm, le poème chinois de Đặng Trần Côn qu’elle a traduit devient un chef-d’œuvre par rapport à d’autres traductions et fait oublier au lecteur le modèle « pâle » et « froid » trouvé dans le poème original.
C’est elle qui permet au lecteur de capter les émotions sincères et vibrantes de son âme, la solitude et la tristesse d’une femme éloignée de son mari. Selon le chercheur Trần Cửu Chấn, membre de l’Académie des lettres et des arts de Paris, la traduction de Phan Huy Ich ressemble à un exercice scolaire par rapport au travail extrêmement remarquable de Đoàn Thị Điểm car elle a réussi à ressentir l’état d’âme et avoir de l’empathie pour la femme du guerrier. C’est avec le chef-d’œuvre Chinh Phụ Ngâm qu’elle a traduit en caractères démotiques que son nom figure au sommet de la littérature du pays. Quant à sa vie amoureuse, elle était très malchanceuse. Elle devait remplacer son frère décédé pour aider sa belle-sœur à élever ses petits-enfants et subvenir aux besoins de sa vieille mère.
À cause de la situation familiale difficile, elle devait déménager avec sa mère, sa belle-sœur et ses petits-enfants au village Chương Dương situé au bord du fleuve Nhị Hà tout proche de Hanoï. Au début de son installation, elle dut exercer le métier du guérisseur traditionnel. Elle fonda ensuite une école dans le but de former de nouveaux talents pour servir le pays. Sa noble carrière attira beaucoup d’élèves. Durant la période d’enseignement, il y eut beaucoup de gens tentant de lui demander en mariage mais ce fut seulement en l’an 1743 qu’elle accepta de se marier avec Nguyễn Kiều, un personnage très instruit et très talentueux (licencié à l’âge 18 ans et docteur d’état à l’âge de 21 ans). Au mois d’août de l’année 1748, au moment où elle suivit son mari pour aller à la province Nghệ An, Đoàn Thị Điểm tomba malade et mourut le 11 du mois septembre de l’année du Chat de feu. Elle n’eut que 43 ans. Sa tombe se trouve toujours dans le quartier Phú Thượng, district de Tây Hồ, Hanoï.
Kinkaku-ji (Kim Các Tự)
Kinkaku-ji (Kim Các Tự)
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Được biết đến với cái tên quen thuộc là Kinkaku-ji, ngôi chùa Rokuon-ji (Lộc Uyển Tự) này là một trong những viên ngọc quý của cố đô Kyoto. Trái ngược với sự đơn giản mà chúng ta thường thấy trong kiến trúc Phật giáo Nhật Bản, Kinkaku-ji là một tòa nhà ba tầng với những bức tường dát vàng đặt giữa một hồ nước. Điều này cho phép toà nhà phản chiếu ánh sáng vàng trên mặt nước hồ quanh năm trong một khung cảnh tráng lệ và thanh tịnh. Trên đỉnh tòa nhà rực rỡ này còn có một con phượng hoàng bằng đồng.
Trong ngôi nhà vàng này, chúng ta tìm thấy ba phong cách kiến trúc, tầng trệt tương ứng với phong cách của các cung điện ở thời Heian (794 – 1185), tầng một là phong cách của các ngôi nhà của các võ sĩ và tầng trên cùng là phong cách của các ngôi chùa thiền. Ban đầu, vị tướng quân thứ ba Yoshimitsu của gia tộc Ashikaga (1358-1408), một đệ tử nhiệt thành của thiền sư Soseki, muốn biến nơi này thành nơi ở riêng trong thời gian ông từ giã cuộc sống công cộng. Khi ông qua đời, con trai ông là Yoshimochi quyết định biến nơi này thành một ngôi chùa Thiền tông cho trường phái Rinzai và đặt tên là « Rokuon-ji« . Sau đó nó bị phá hủy nhiều lần bởi hỏa hoạn. Lần trùng tu cuối cùng có niên đại năm 1955 là bản sao giống hệt như thưở ban đầu. Đây là di sản thế giới được cơ quan UNESCO công nhận từ năm 1994 và được xem là ngôi chùa Phật giáo săn đón một số lượng lớn du khách mỗi năm đến từ Nhật Bản.
Etant connu sous son nom usuel de Kinkaku-ji, ce temple Rokuon-ji (Lộc Uyển Tự) est l’un des bijoux de l’ancienne capitale de Kyoto. Contrairement à la simplicité qu’on est habitué à voir dans l’architecture bouddhique japonaise, Kinkaku-ji est une bâtisse à trois étages dotée des parois recouvertes de feuilles d’or trônant au milieu d’un étang. Cela lui permet de refléter tout le long de l’année sur la surface de l’eau sa lumière dorée dans un cadre magnifique et serein. Au sommet de cette bâtisse éblouissante se trouve un phénix en cuivre. On retrouve dans ce pavillon d’or trois styles d’architecture, le rez-de-chaussée correspondant au style des palais de l’époque Heian (794 – 1185), le premier étage à celui des maisons des samouraïs et le dernier étage à celui des temples zen. À l’origine, le troisième shogun Yoshimitsu de la famille Ashikaga (1358-1408), disciple fervent du moine zen Soseki veut faire de ce lieu une demeure privée lors de son retrait de la vie publique. À sa mort, son fils Yoshimochi décide de transformer l’endroit en temple zen pour l’école Rinzai et le nomme « Rokuon-ji ». Puis il est détruit plusieurs fois par les flammes. La dernière restauration datant de 1955 est la copie absolument conforme de l’ancien pavillon. Il est inscrit au Patrimoine mondial de l’Unesco depuis 1994 et il est considéré comme le temple bouddhiste accueillant un grand nombre de visiteurs par an du Japon.
Known by its common name Kinkaku-ji, this Rokuon-ji temple is one of the jewels of the ancient capital Kyoto. Unlike the simplicity usually seen in Japanese Buddhist architecture, Kinkaku-ji is a three-story building with walls covered in gold leaf, standing in the middle of a pond. This allows it to reflect its golden light on the water’s surface throughout the year in a magnificent and serene setting. At the top of this dazzling building is a copper phoenix. In this golden pavilion, three architectural styles can be found: the ground floor corresponds to the style of palaces from the Heian period (794 – 1185), the first floor to that of samurai houses, and the top floor to that of Zen temples. Originally, the third shogun Yoshimitsu of the Ashikaga family (1358-1408), a fervent disciple of the Zen monk Soseki, wanted to make this place a private residence upon his retirement from public life. Upon his death, his son Yoshimochi decided to transform the place into a Zen temple for the Rinzai school and named it « Rokuon-ji. » It was then destroyed several times by fire. The last restoration, dating from 1955, is an exact replica of the former pavilion. It has been listed as a UNESCO World Heritage site since 1994 and is considered the Buddhist temple in Japan that welcomes a large number of visitors each year.
Thanh Thủy Tự (Kiyomizu-dera)
Version française
Version anglaise
Pictures gallery
Chùa nầy nằm ở phía Đông của cố đô Kyoto thuộc về tông phái Phật giáo và Thần đạo là một ngôi chùa rất nổi tiếng ở Nhật Bản. Được xây cất vào cuối thời kỳ Nara (778), tái thiết lại sau trận hỏa họan bởi tướng quân Tokugawa Iemitsu và được công nhận bởi UNESCO là di sản văn hóa thế giới vào năm 1994. Chùa nầy thật sự là một quận thể kiến trúc gồm có nhiều đền còn được mang tên là Thanh Thủy bởi vì nó có nguồn nước thiên chảy từ núi Otowayama. Theo tiếng Nhật Kiyomizu có nghĩa là dòng suối trong còn dera là chùa. Đặc điểm của suối nầy là có ba dòng nước nhỏ rất linh nghiệm về « trường thọ », « tình duyên », « học hành thành đạt ». Nếu du khách nào có tâm nguyện cầu khẩn uống một ngụm nước ở một trong ba dòng nước nầy thì sẽ được toại nguyện. Còn uống 2 ngụm thì sự linh ứng sẽ giảm đi một nữa. Còn uống ba ngụm nước liên tục thì chỉ còn có một phần ba trong việc linh ứng. Còn uống cả ba dòng nước thì việc linh ứng sẽ không còn nữa. Vô số người đứng nối đuôi để được uống nước suối nầy. Vì thời giờ quá eo hẹp cho mình (2 tiếng tham quan) nên mình không có nối đuôi chỉ đi chụp hình mà thôi và lại gần suối mua ở một cửa hàng một cái bùa nho nhỏ linh nghiệm về việc học hành mang về Pháp để tặng cho đứa bé cháu nội của mình.
Theo cách tương tự như được trông thấy ở nhà thờ Lourdes, từ bãi đậu xe du khách phải đi bộ trèo lên hằng ngày cái dốc để đến cổng chùa Niomon (Cổng Nhị Vương). Ở dọc hai bên đường các tiệm buôn bán lúc nào cũng đông đúc du khách và tín đồ đi hành hương để làm lễ trước pho tượng Phật Quan Âm (Kannon) có 11 đầu. Đặc điểm thứ hai của chùa là phần hiên của chính điện là hoàn toàn xây cất không dùng đến một cây đinh. Với kỹ thuật nầy, một chùa Nhật Bản như Kiyomizu-dera có ít nhất một ngàn thanh trúc nối với nhau qua các lỗ mộng. Đây cũng là đỉnh cao của kiến trúc gỗ của Nhật Bản. Đến đây du khách có thể nhìn phía dưới quang cảnh tuyệt vời của cố đô Kyoto. Có một câu thành ngữ tiếng Nhật hay thường nghe nói ở đây đó là Nhảy từ vũ đài chùa Kiyomizu. Khi ai có quyết tâm muốn làm điều gì đó thì không chỉ bất chấp hiểm nguy mà còn phải có động lực và nghị lực mới dám nhảy từ độ cao dưới sự bảo trợ của Phật bà Quan Âm thì lời cầu nguyện của mình mới thành hiện thực. Dưới thời Edo, có đến 234 lần nhảy được ghi nhận thực hiện và trong số đó có đến 85.4% người còn sống sót. Nay hành động nầy bị nghiêm cấm. Chùa Kiyomizu là một điểm du lịch không thể thiếu sót trong cuộc hành trình ở cố đô Kyoto.
Etant située à l’est de l’ancienne capitale Kyoto, cette pagode qui appartient aux sectes bouddhiste et shintoïste est très connue au Japon. Construite à la fin de la période Nara (778), reconstruite ensuite en 1633 après l’incendie par le shogun Tokugawa Iemitsu et reconnue par l’UNESCO comme patrimoine culturel mondial en 1994. En fait, elle est un complexe architectural composé de plusieurs temples et appelé aussi en vietnamien sous le nom Thanh Thủy car elle se distingue par son eau cristalline sacrée coulant du mont Otowayama. En japonais, Kiyomizu signifie « eau pure » et Dera « pagode ». La caractéristique de cette source d’eau réside dans l’existence de trois filets d’eau très efficaces en termes de « longévité », « amour » et « réussite dans les études ». Si le visiteur a le désir sincère de prendre une gorgée d’eau dans l’un de ces trois filets d’eau, son vœu sera exaucé. S’il boit 2 gorgées, l’efficacité sera réduite de moitié. Par contre si trois gorgées d’eau sont prises d’une manière continue, il ne lui restera plus qu’un tiers de l’efficacité dans la réalisation de son vœu. S’il prend en même temps tous les 3 filets d’eau, son vœu ne sera plus exaucé. Une foule immense de visiteurs continue à faire la queue pour tenter cette expérience. À cause du manque de temps limité à deux heures pour cette visite, je ne suis pas tenté de le faire.
Par contre je continue à faire les photos et je vais chercher dans une boutique proche de cette source d’eau un petit talisman connu pour son efficacité dans les études. J’aime l’offrir à mon petit-fils lors de mon retour en France. De manière analogue à celle trouvée à l’église de Lourdes, depuis le parking, les visiteurs doivent gravir tous les jours la pente de la route pour arriver à la porte de la pagode Niomon (portail Nhị Vương). Des deux côtés de cette longue route, les boutiques sont toujours bondées de touristes et de fidèles venant rendre hommage à la statue du Bouddha Guan Yin (Kannon) à 11 têtes. La deuxième caractéristique de ce complexe architectural est que l’auvent de la partie principale du temple a été entièrement construit sans recourir à l’utilisation des clous. Avec cette technique, une pagode japonaise comme Kiyomizu-dera possède au moins un millier de joints assemblés par mortaises ou tenons. C’est le summum de l’architecture japonaise en bois. C’est ici qu’en contrebas le visiteur a la vue panoramique superbe de l’ancienne capitale Kyoto. Il y a une expression japonaise qu’on est habitué à entendre souvent ici « Saut à partir de la plateforme de la pagode ». Quand quelqu’un est déterminé à faire quelque chose, il doit non seulement défier le danger, mais aussi avoir la motivation et la volonté d’oser sauter du haut de la plateforme sous les auspices du Bouddha Guan Yin (Kannon). C’est ainsi que son vœu deviendra réalité. À l’époque Edo, on a enregistré 234 sauts effectués mais il y a eu 85,4% de survivants. Cette expérience est désormais interdite. La pagode Kiyomizu-dera est un site touristique à ne pas manquer lorsqu’on a l’occasion de visiter le Japon.
Located east of the former capital Kyoto, this pagoda, which belongs to the Buddhist and Shinto sects, is very well known in Japan. Built at the end of the Nara period (778), then rebuilt in 1633 after a fire by the shogun Tokugawa Iemitsu, it was recognized by UNESCO as a World Cultural Heritage site in 1994. In fact, it is an architectural complex composed of several temples and is also called in Vietnamese by the name Thanh Thủy because it is distinguished by its sacred crystalline water flowing from Mount Otowayama. In Japanese, Kiyomizu means « pure water » and Dera means « pagoda. » The characteristic of this water source lies in the existence of three streams of water that are very effective in terms of « longevity, » « love, » and « success in studies. » If the visitor sincerely desires to take a sip of water from one of these three streams, their wish will be granted. If they drink 2 sips, the effectiveness will be reduced by half. However, if three sips of water are taken continuously, only one-third of the effectiveness in fulfilling the wish will remain. If all three streams of water are taken at the same time, the wish will no longer be granted. A huge crowd of visitors continues to queue to try this experience. Due to the limited time of two hours for this visit, I am not tempted to do it.
On the other hand, I continue to take photos and I am going to look in a shop near this water source for a small talisman known for its effectiveness in studies. I like to give it to my grandson when I return to France. Similarly to the one found at the church in Lourdes, from the parking lot, visitors must climb the slope of the road every day to reach the gate of the Niomon pagoda (Nhị Vương gate). On both sides of this long road, the shops are always crowded with tourists and devotees coming to pay homage to the statue of the 11-headed Buddha Guan Yin (Kannon). The second characteristic of this architectural complex is that the canopy of the main part of the temple was entirely built without using nails. With this technique, a Japanese pagoda like Kiyomizu-dera has at least a thousand joints assembled by mortises or tenons. It is the pinnacle of Japanese wooden architecture. It is here, below, that the visitor has a superb panoramic view of the ancient capital Kyoto. There is a Japanese expression that is often heard here: « Jump from the pagoda platform. » When someone is determined to do something, they must not only face danger but also have the motivation and will to dare to jump from the top of the platform under the auspices of Buddha Guan Yin (Kannon). This is how their wish will come true.
During the Edo period, 234 jumps were recorded, but there was an 85.4% survival rate. This practice is now prohibited. The Kiyomizu-dera pagoda is a must-see tourist site when visiting Japan.
Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)
Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)
Version française
Version anglaise
Pictures gallery
Có một thời thịnh vượng, Tokyo còn được gọi là Edo. Muốn đến cố đô Kyoto lữ khách phải đi bộ hay đi ngựa nhiều ngày với con đường ngoạn mục Tokaido dài có 500 cây số.Tuyến đường nầy có nhiều lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sử sẽ để lại cho lữ khách những kỷ niệm khó quên như đèo Nakayama, đền Ise, chùa Thanh Thủy (Kiyomieu-dera), chùa gác vàng Kinka kuji của tướng quân Yoshimitsu Ashikaga vân vân … Chính vì thế tuyến đường nầy trở nên một nguồn cảm hứng không ít cho nhiều họa sỹ mà trong đó có Hiroshige mà chúng ta được biết qua bộ tranh màu của ông được in trên các mộc bản của thế giới nổi trôi, thường gọi là ukiyo-e (phù thế hội). Thời ki hoàng kim của ukiyo-e là từ khoảng những năm 1790 cho đến năm 1850. Sáng nay tụi nầy được anh HDV dẫn đến cố đô Kyoto. Cũng tuyến đường nầy nhưng được thay thế bằng con đường sắt với tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen và được dừng lại ở nhà ga Kakegawa để lấy xe bus đi tham quan vườn hoa nổi tiếng của Nhật Hammatsu của tỉnh Shizuoka. Trạm ga nào cũng sạch sẽ luôn ở trên tàu cao tốc cũng vậy trong một không gian yên lặng.
Rất tiếc trời rất u ám nên chụp ảnh không vừa ý chi cho mấy khi đến tham quan công viên Hammatsu. Nơi nầy có rất nhiều cây bonsai hình dáng khác nhau trông lạ mắt lắm đấy nhưng cũng không kém phần lãng mạn như ở các công viên Paris. Sau đó tụi này lấy xe bus đến cố đô Kyoto nơi ở của Nhật hoàng vào buổi chiều. Ở đây đường xá cũng sạch sẽ nhưng thời gian có vẻ chậm lại nhịp sống hằng ngày tựa như ở cố đô Huế của nước ta vậy.
À une époque florissante, Tokyo était également connue sous le nom d’Edo. Pour se rendre à l’ancienne capitale de Kyoto, les voyageurs devaient marcher à pied ou à cheval plusieurs jours sur la spectaculaire route du Tokaido, longue de cinq cent kilomètres. Celle-ci comptait de nombreuses auberges, temples shintoïstes ou bouddhistes et des sites historiques qui leur ont laissé des souvenirs inoubliables tels que le col Nakayama, le temple Ise, la pagode Kiyomieu-dera ou le pavillon d’or Kinkaku-ji du shôgun Yoshimitsu Ashikaga etc. C’était pourquoi cet itinéraire devenait ainsi une source d’inspiration pour de nombreux artistes, dont Hiroshige que l’on connaît grâce à ses peintures en couleurs imprimées sur planches de bois du monde flottant, souvent appelées ukiyo-e. L’âge d’or de l’ukiyo-e s’était déroulé entre 1790 et 1850 environ. Ce matin, le guide nous a emmenés dans l’ancienne capitale de Kyoto. Ce même itinéraire a été remplacé par le chemin de fer avec le train à grande vitesse TGV Tokaido Shinkansen. Nous devions descendre à la gare de Kakegawa pour prendre un bus afin de pouvoir visiter le célèbre parc floral Hammatsu de la préfecture de Shizuoka. Nous constations la propreté partout, y compris dans le train à grande vitesse dans un espace silencieux.
À cause du mauvais temps, il était impossible pour moi de faire des photos comme il le fallait lors ma visite au parc floral. Celui-ci possédait de nombreux bonsaïs de formes différentes. Cela m’étonna tellement mais il n’était pas moins romantique que les jardins de Paris. Puis nous allions prendre le bus dans l’après-midi pour rendre visite à l’ancienne capitale de Kyoto, où résidait l’empereur du Japon. Ici, les rues sont propres mais le temps semble ralentir le rythme de vie au quotidien comme celui trouvé dans l’ancienne capitale Huế de notre pays.
At a flourishing time, Tokyo was also known as Edo. To reach the former capital Kyoto, travelers had to walk or ride horses for several days along the spectacular Tokaido route, which is five hundred kilometers long. This route included numerous inns, Shinto or Buddhist temples, and historical sites that left them unforgettable memories such as the Nakayama Pass, the Ise Temple, the Kiyomizu-dera Pagoda, or the Kinkaku-ji Golden Pavilion of Shogun Yoshimitsu Ashikaga, etc. This is why this itinerary became a source of inspiration for many artists, including Hiroshige, who is known for his color paintings printed on woodblocks of the floating world, often called ukiyo-e. The golden age of ukiyo-e took place roughly between 1790 and 1850. This morning, the guide took us to the former capital Kyoto. This same route has been replaced by the railway with the high-speed TGV Tokaido Shinkansen train. We had to get off at Kakegawa station to take a bus in order to visit the famous Hamamatsu flower park in Shizuoka Prefecture. We noticed cleanliness everywhere, including on the high-speed train in a quiet space.
Because of the bad weather, it was impossible for me to take photos properly during my visit to the floral park. It had many bonsais of different shapes. This surprised me so much, but it was no less romantic than the gardens of Paris. Then we were going to take the bus in the afternoon to visit the former capital of Kyoto, where the emperor of Japan resided. Here, the streets are clean, but time seems to slow down the daily pace of life, similar to what is found in the former capital Huế of our country.
Con phượng hoàng (Le phénix)
Con phượng hoàng
The phoenix (Fenghuang)
Version française
English version
Cũng như kỳ lân mà người Hoa tHạ thường dùng để ám chỉ một cập thì con phượng hoàng (Fenghuang) nầy cũng vậy. Phượng hay phụng chỉ con đực và hoàng là con cái. Nhưng người dân Việt chỉ gọi gắn gọn con chim nầy bằng phượng hoàng trong văn hóa. Phượng hoàng có phần tựa giống con chim trĩ có mỏ diều hâu dài, mảo trĩ, vảy cá chép, móng chim ưng và đuôi công. Lông của nó đại diện cho màu sắc của ngũ hành: đen, trắng, đỏ, xanh và vàng. Nó là một loài chim lớn ở thời tiền sử thường được coi là con chim thần thoại trong văn hóa phương Đông và hoàn toàn khác biệt với phượng hoàng trong khái niệm của phương tây. Theo truyền thuyết, phượng hoàng chỉ xuất hiện vào thời thái bình, và sẽ ẩn mình trong thời loạn lạc. Chim còn biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Bởi vậy chim được dùng cùng rồng để nói lên quan hệ hạnh phúc và quyền lực mà Thượng đế ban cho hoàng hậu (Âm) và vua (Dương). Nó còn biểu hiện đức hạnh và vẻ duyên dáng nữa. Trong truyền thuyết « Con Rồng Cháu Tiên » của dân tộc ta thì chim là hoá thân của mẹ Tiên Âu Cơ cùng cha rồng Lạc Long Quân.
Vậy con phượng hoàng nầy nó có nguồn gốc từ đâu? Nó có phải là con linh vật của người Hoa Hạ hay của đại tộc Bách Việt? Dĩ nhiên nó xuất hiện ở Trung Hoa nhưng ở trong địa bàn của dân Bách Việt bị thôn tính bởi người Hoa Hạ vì hình tượng của nó được tìm thấy sớm nhất trên các miếng ngọc và các hiện vật của nền văn hóa Thạch Gia Hà (Shiziahé) và Lương Chữ (Lianzhu) ở vùng trung và hạ lưu của sông Dương Tử, nơi mà người dân có một lối sống định cư ổn định sớm cùng một hệ thống tưới tiêu ruộng lúa bằng nguồn nước lưu giữ qua các kênh mương. Các học giả Trung Hoa xác nhận cư dân ở đây là Vũ Nhân (羽 人) hay Vũ dân tức là những người thờ vật Chim và Thú tức là Tiên Rồng (truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên).Theo tự điển Hán nôm, chữ Vũ (羽) chỉ chung một loại chim. Tại sao Tiên Rồng? Từ thưở xưa, chim là loại vật có thể bay cao vượt núi đến bồng lai tiên cảnh, nơi cư ngụ của các tiên nữ. Còn rồng chắc chắn là thủy quái mà trong sử nước ta gọi là con thuồng luồng (giao long). Thời đó ở sông Dương Tử có một loại cá sấu nay đang ở trong tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng. Để tránh sự tấn công của thủy quái, tộc Việt hay có tục lệ xâm mình. Bởi vậy tộc Việt ghép cho vật tổ của họ là Chim và Rồng với quan niệm song trùng lưỡng hợp (hai thành một).
Còn tên thị tộc Hồng Bàng cũng từ vật tổ Chim Rồng mà ra. Ở văn hóa Thạch Gia Hà còn thấy các hiện vật hình tròn bằng ngọc thể hiện chim phượng hoàng hay rồng được tạo tác một cách tinh vi. Theo nhà khoa học chính trị người Mỹ Charles E. Merriam của đại học Chicago thì đây là một phương thức hợp pháp hóa thực nghiệm quyền lực và giữ vai trò «miranda» [*] để buộc dân chúng phải kính trọng hai loại vật linh thiêng nầy. Bởi vậy cư dân ở đây có thói xâm hình rồng trên người và đội mũ lông chim để thể hiện điều nầy. Các tập tục nầy đều có ở dân tộc ta và được thể hiện ở trên trống Đồng Sơn. Chính ở nơi nầy về sau thời Chiến Quốc là địa bàn của nước Sở sau khi thôn tính được hai nước Ngô Việt của Ngũ Tử Tư và Câu Tiễn. Chính cũng có một thưở ban sơ trong truyền thuyết của dân tôc ta có nhắc đến họ Hồng Bàng. Cụm từ nầy cũng từ Chim Rồng mà ra. Còn nước Văn Lang, bắc tới Hồ Động Đình, đông thì Biển Đông, tây giáp với Ba Thục, nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) thì cũng nằm hoàn toàn trong địạ bàn của nước Sở. Sự trùng hợp ngẫu nhiên nầy càng cũng cố thêm quan điểm của Edouard Chavannes[2] và Léonard Aurousseau [3]: người Việt cổ và các thần dân của nước Sở có cùng chung tổ tiên: chữ Mi ở trong ngôn ngữ nước Sở khi dịch sang Hùng (熊) trong tiếng Việt thì được xem là tên của các vị vua nước Sở và các vị vua nước Việt. Dựa trên sử ký lịch sử của Tư Mã Thiên do E. Chavannes [2] dịch, chúng ta còn biết rõ vua của nước Sở đến từ những kẻ man rợ ở miền Nam (hay Bách Vịệt). Hùng Cừ nói: Tôi là một kẻ man rợ và tôi không nhận chức tước và tên truy tặng của nước Trung Hoa cả.
Nói tóm lại, phượng hoàng là con linh vật của đại tộc Bách Việt. Bởi vậy ở vùng đất của đại tộc Bách Việt như ở Quảng Đông thuộc nước Nam Việt thưở xưa nay vẫn còn món ẩm thực nổi tiếng đó là món ăn có tên là Phượng trảo » (鳳爪) tức là chân gà hầm nấu với đậu đen. Cũng có ở môt địa diểm nổi tiếng tên là Phượng hoàng cổ trấn (Fenghuang) ở tỉnh Hồ Nam trong địa bàn nước Sở của Trung quốc ngày nay. Nơi nầy còn gìn giữ được những nét văn hóa đặc sắc của người Miêu (hay Hmong), một tộc trong đại tộc Bách Việt. Cần nhắc lại trong tập Lĩnh Nam Chích Quái có kể rằng vào đời Chu Thành Vương (Zhou Chengwang), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu một con chim trĩ trắng để liên kết sự giao hảo và thân thiện với nhà Chu trong thời bình. Có phải con chim trĩ nầy là con phượng hoàng không? Có người cho rằng con chim Lạc ở trên trống Đồng Sơn là tiền thân của hình tượng phượng hoàng ở những thời đại sau này. Có đúng hay không? Sự việc nầy chưa có phần giải đáp cho đến ngày hôm nay nhưng chúng ta có thể xác định một điều là người Việt cổ có tín ngưỡng thờ chim.
[*]miranda: thuật ngữ này liên quan đến các biểu tượng đề cập đến cảm xúc của một dân tộc nhằm áp đặt sự tôn trọng hoặc sự thán phục.
Analogue à la licorne que les Chinois ont utilisée pour se référer à un couple d’animaux, le phénix (Fenghuang) l’est aussi. Phượng (ou phụng) désigne un mâle tandis que Hoàng est réservée à la femelle. Les Vietnamiens appellent tout simplement le phénix sans distinction dans leur culture. Cet oiseau ressemble à un faisan avec un long bec de faucon, une crête de faisan, des écailles de carpe, des griffes d’aigle et une queue de paon. Ses plumes représentent les couleurs des cinq éléments (Wu Xing): noir, blanc, rouge, jaune et vert. C’est un grand oiseau préhistorique souvent considéré comme un oiseau mythique dans la culture de l’Orient et complètement différent du phénix trouvé dans les concepts occidentaux. Selon la légende, le phénix n’apparaît qu’en temps de paix et se cache en temps de trouble ou du désordre. Il manifeste également l’harmonie entre le yin et le yang. C’est pourquoi on se sert du phénix pour évoquer à la fois la relation heureuse et le pouvoir que Dieu accorde à la reine (Yin) et au roi (Yang). Il est aussi le symbole de vertu et de grâce. Dans la légende «Le fils du dragon et le petit-fils de l’Immortelle» de notre peuple, l’oiseau est la réincarnation de la fée mère Âu Cơ et du père dragon Lac Long Quan. Alors, d’où vient ce phénix ? Est-il l’oiseau sacré des Chinois ou celui des Bai Yue?
Il est apparu en Chine mais dans l’aire des Bai Yue annexée par les Chinois car son image a été retrouvée plus tôt sur les objets en jade des cultures de Shiziahé et Liangzhu se trouvant respectivement dans les cours milieu et inférieur du fleuve Yang Tse, où les gens avaient un mode de vie sédentaire précoce et un système d’irrigation et de drainage des rizières avec de l’eau emmagasinée via des canaux. Les érudits chinois confirment que les gens d’ici sont des Vũ Nhân (羽 人) ou des Vũ Dân. Ce sont les adorateurs des oiseaux et des animaux, càd les Enfants du Dragon et les Grands Enfants de l’Immortelle (Con Rồng Cháu Tiên). Selon le dictionnaire sino-vietnamien, le mot Vũ (羽) fait référence à un oiseau. Pourquoi Fée-Dragon ? Dans les temps anciens, les oiseaux sont des animaux pouvant voler au-dessus des montagnes jusqu’à l’endroit où vivent les Immortelles. Quant au dragon, il est certainement un monstre marin qui, dans l’histoire de notre pays, s’appelle le dragon d’eau (Giao Long). À cette époque, dans le fleuve Yang Tsé, il y avait un type d’alligator qui est maintenant en danger d’extinction. Afin d’éviter l’attaque de ce monstre marin, les Proto-Vietnamiens avaient coutume de se tatouer. C’est pourquoi ils associaient à leur totem le couple (Oiseau /Dragon) avec la notion de dualité (deux en un). Le nom du clan Hồng Bàng provient également du couple (Oiseau/Dragon).
Dans la culture de Shijiahé, il y a également des artefacts ronds en jade (phénix, dragons) et fabriqués de manière tellement sophistiquée. Selon le politologue américain Charles E. Merriam [1] de l’université de Chicago, il s’agit d’un moyen de légitimation empirique du pouvoir et de possession de la fonction «miranda» pour forcer les gens à respecter ces deux animaux sacrés. C’est pourquoi les gens d’ici aiment tatouer des dragons sur leur corps et porter des chapeaux de plumes pour les montrer. Ces coutumes ont été retrouvées chez notre peuple et sur le tambour de bronze de Đồng Sơn. C’est ici qui devint plus tard durant la période des Royaumes combattants, le territoire de l’État Chu après que ce dernier avait réussi à annexer les deux états Wu et Yue de Wu Zisu et Goujian. Dans le légendes de notre peuple, le nom patronymique Hồng Bàng est souvent mentionné. Ce nom trouve également toute sa source dans les mots « Oiseau » et « Dragon ».
Etant délimité au nord par le lac Dongtin, à l’est par la mer de l’Est, à l’ouest par le royaume Ba et au sud par le Champa, le royaume Văn Lang se trouvait entièrement dans l’aire géographique de l’état Chu. Cette coïncidence renforce encore les points de vues d’Édouard Chavannes[2] et de Léonard Aurousseau[3] : les Proto-Vietnamiens et les sujets de l’état Chu avaient des ancêtres communs: les noms Mi de l’état Chu traduit en Hùng (熊) en vietnamien étaient considérés comme les noms des rois de l’état Chu et ceux des rois vietnamiens. D’après les chroniques historiques de Sima Qian traduites par E. Chavannes [2], on sait aussi que le roi de Chu était issu des barbares (Man Di) du Sud (ou Bai Yue). Hùng Cừ a déclaré : Je suis un barbare et je n’accepte pas de titres et de noms posthumes en provenance de la Chine. En résumé, le phénix est l’animal sacré des Bai Yue. C’est pourquoi dans les territoires des Bai Yue, comme à Canton appartenant autrefois au royaume de Nan Yue, il existe encore un plat célèbre appelé « Griffes de Phénix » (鳳爪), où des pattes de poulet sont mitonnées avec des haricots noirs. Il y a également une ancienne ville très célèbre appelée en vietnamien « Phượng Hoàng cổ Trấn (ou village ancien Fenghuang » dans la province du Hunan faisant partie du territoire de l’état Chu d’autrefois où on conserve encore les caractéristiques culturelles uniques du peuple Miao (ou Hmong), l’une des tribus des Bai Yue.
Il est important de rappeler que dans le recueil intitulé « La Sélection des contes étranges à Lĩnh Nam (Lĩnh Nam Chích Quái », il est dit que sous le règne du roi Zhu Chengwang (Chu Thành Vương) de l’état Zhou, le roi Hùng ordonna à son ambassadeur de présenter au roi de Zhou un faisan blanc pour se lier de bonne relation et d’amitié avec l’état Zhou en temps de paix. Le faisan est-il le phénix évoqué ? Certains pensent que l’oiseau Lạc sur le tambour de bronze Đồng Sơn est le précurseur de l’image du phénix des époques ultérieures. Est-ce vrai ou pas? Ce fait n’apporte pas de réponse jusqu’à aujourd’hui. Par contre nous pouvons affirmer que les Proto-Vietnamiens croyaient au culte des oiseaux.
miranda: ce terme se rapporte aux symboles s’adressant à l’émotivité d’un peuple pour lui imposer le respect ou l’émerveillement.
Analogous to the unicorn that the Chinese used to refer to a pair of animals, the phoenix (Fenghuang) is as well. Phượng (or phụng) designates a male, while Hoàng is reserved for the female. The Vietnamese simply call the phoenix without distinction in their culture. This bird resembles a pheasant with a long hawk-like beak, a pheasant crest, carp scales, eagle claws, and a peacock tail. Its feathers represent the colors of the five elements (Wu Xing): black, white, red, yellow, and green. It is a large prehistoric bird often considered a mythical bird in Eastern culture and completely different from the phoenix found in Western concepts. According to legend, the phoenix appears only in times of peace and hides in times of trouble or disorder. It also represents the harmony between yin and yang. That is why the phoenix is used to evoke both the happy relationship and the power that God grants to the queen (Yin) and the king (Yang). It is also a symbol of virtue and grace. In the legend « The Dragon’s Son and the Immortal’s Grandson » of our people, the bird is the reincarnation of the fairy mother Âu Cơ and the dragon father Lạc Long Quân. So, where does this phoenix come from? Is it the sacred bird of the Chinese or that of the Bai Yue?
It appeared in China but in the Bai Yue area annexed by the Chinese because its image was found earlier on jade objects from the Shiziahé and Liangzhu cultures located respectively in the middle and lower courses of the Yangtze River, where people had an early sedentary lifestyle and a system of irrigation and drainage of rice fields with water stored through canals. Chinese scholars confirm that the people here are Vũ Nhân (羽人) or Vũ Dân. They are worshippers of birds and animals, that is, the Children of the Dragon and the Great Children of the Immortal (Con Rồng Cháu Tiên). According to the Sino-Vietnamese dictionary, the word Vũ (羽) refers to a bird. Why Fairy-Dragon? In ancient times, birds were animals capable of flying over mountains to the place where the Immortals live. As for the dragon, it is certainly a sea monster which, in the history of our country, is called the water dragon (Giao Long). At that time, in the Yangtze River, there was a type of alligator which is now endangered. To avoid attacks from this sea monster, the Proto-Vietnamese used to tattoo themselves. That is why they associated their totem with the couple (Bird/Dragon) with the notion of duality (two in one). The name of the Hồng Bàng clan also comes from the couple (Bird/Dragon).
In the culture of Shijiahé, there are also round jade artifacts (phoenix, dragons) made in such a sophisticated manner. According to American political scientist Charles E. Merriam [1] from the University of Chicago, this is an empirical means of legitimizing power and possessing the « miranda » function to compel people to respect these two sacred animals. That is why the people here like to tattoo dragons on their bodies and wear feathered hats to show them. These customs have been found among our people and on the bronze drum of Đồng Sơn. This is the place that later, during the Warring States period, became the territory of the Chu State after it succeeded in annexing the two states Wu and Yue of Wu Zisu and Goujian. In the legends of our people, the surname Hồng Bàng is often mentioned. This name also finds its origin in the words « Bird » and « Dragon. »
Being bordered to the north by Dongtin Lake, to the east by the East Sea, to the west by the Ba kingdom, and to the south by Champa, the Văn Lang kingdom was entirely located within the geographical area of the Chu state. This coincidence further supports the views of Édouard Chavannes[2] and Léonard Aurousseau[3]: the Proto-Vietnamese and the subjects of the Chu state had common ancestors: the Mi names of the Chu state translated into Hùng (熊) in Vietnamese were considered the names of the kings of the Chu state and those of the Vietnamese kings. According to the historical chronicles of Sima Qian translated by E. Chavannes[2], it is also known that the king of Chu descended from the southern barbarians (Man Di) (or Bai Yue). Hùng Cừ declared: I am a barbarian and I do not accept titles and posthumous names from China. In summary, the phoenix is the sacred animal of the Bai Yue. That is why in the territories of the Bai Yue, such as in Canton, formerly belonging to the Nan Yue kingdom, there still exists a famous dish called « Phoenix Claws » (鳳爪), where chicken feet are stewed with black beans. There is also a very famous ancient town called in Vietnamese « Phượng Hoàng cổ Trấn » (or ancient Fenghuang village) in Hunan province, which was part of the territory of the former Chu state, where the unique cultural characteristics of the Miao (or Hmong) people, one of the Bai Yue tribes, are still preserved.
It is important to recall that in the collection entitled « The Selection of Strange Tales in Lĩnh Nam (Lĩnh Nam Chích Quái), » it is said that during the reign of King Zhu Chengwang (Chu Thành Vương) of the Zhou state, King Hùng ordered his ambassador to present to the King of Zhou a white pheasant to establish good relations and friendship with the Zhou state in times of peace. Is the pheasant the phoenix mentioned? Some believe that the Lạc bird on the Đồng Sơn bronze drum is the precursor of the image of the phoenix in later periods. Is this true or not? This fact remains unanswered to this day. However, we can affirm that the Proto-Vietnamese believed in the worship of birds.
miranda: this term refers to symbols that appeal to the emotions of a people to impose respect or wonder upon them.
Bibliographie:
[1] Charles E. Merriam, Political power : Its composition and incidence, New York-Londres, Whittlesey House/McGraw-Hil, 1934.
[2] Edouard Chavannes :Mémoires historiques de Sseu-Ma Tsien de Chavannes, tome quatrième, page 170).
[3] Léonard Rousseau: La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). BEFO, année 1923, Vol 23, no 1.
[4] Shin’ichi Nakamura: Le riz, le jade et la ville. Évolution des sociétés néolithiques du Yangzi. Éditions de l’EHESS « Annales. Histoire, Sciences Sociales. 2005/5 60 année pages 1009 à 1034.












