Lotus (Hoa Sen)

lotus

English Version
Version vietnamienne
Galerie des photos

Aucune plante aquatique ne suscite autant l’admiration des Vietnamiens que le lotus. Outre son emblème bouddhique, le lotus est synonyme de la pureté, de la beauté et de la sérénité. Le lotus se distingue des autres plantes aquatiques non seulement par la grâce de sa fleur  à la fois simple et distinguée mais aussi par la richesse des traditions qui l’accompagnent en Asie, en particulier au Vietnam. Dans ce dernier, il fait partie des quatre nobles plantes ( Tứ Quí ) : mai ( prunier ) , liên ( lotus ), cúc ( chrysanthème ), trúc ( bambou ) employées dans la représentation des quatre saisons ( Tứ Thì ). 
Lire la suite

Estampes vietnamiennes (Tranh dân gian)

Tranh khắc của Henri Oger

(Les estampes de Henri Oger)

Version française

English version

Không có tính hiếu kỳ và tinh thần cởi mở của người lính trẻ Pháp này, các tranh dân gian phổ biến của Việt Nam  được biết  có nguồn gốc từ thế kỷ 15, vào thời điểm mà học giả Lương Như Hộc đã du nhập các kỹ thuật  chế tạo  tranh  sau chuyến công du chính thức ở Trung Hoa, có lẽ sẽ bị lãng quên và  biến mất mãi mãi với những thăng trầm của chiến tranh.

Henri Oger là một trong những người Pháp hiếm hoi, đã khám phá được vào đầu thế kỷ 20  một nền văn minh có được nghìn năm phong phú về truyền thống và phong tục  ở  một  xã hội Việt Nam nghèo đói, lạc hậu và  kín kẽ  cho đến giờ đối với các người nước ngoài. Chỉ ở thời điểm đó chỉ có những nhà học giã Tây Phương như Gustave Dumoutier, Pierre HuardMaurice Durand hay các cha cố đạo như Alexandre de Rhodes,  Léopold Cadière mới quan tâm đến  xứ nhỏ bé nầy mà thôi. Còn tên của Henri Oger không bao giờ nghe nói đến chỉ có được nhắc một lần ở trong một bài duy nhất của nhà học giả Pierre Huard được đăng trong tập san BEFO (1970) trang 215-217 với tựa đề là « Le pionnier de la technologie vietnamienne (Người tiên phong kỹ thuật của người An Nam). Sau khi có bằng Tú tài triết học hạng bình  vào năm 1905, ông đăng ký vào Trường Cao học Thực hành (École supérieure des études pratiques) (Ban IV). Ông là học trò của Sylvain LeviLouis Finot.

Năm 1907, ông xin bộ thuộc địa cho phép ông làm nghĩa vụ quân sự tự nguyện tại Hà Nội (1908 – 1909). Lời thỉnh cầu của ông được chấp nhận. Lúc đó ông mới có 23 tuỗi và ông tiếp tục học tiếng Nôm và chữ Hán ở trường thuộc địa  Hànôi và đậu ra trường  đứng được  hạng 4 trong nhóm 25 học trò.  Chính trong thời gian nầy, ông miệt mài đeo đuổi nghiên cứu mô tả nền văn minh vật chất và tâm linh của xứ Bắc Kỳ mà ờ nơi đây  ông Gustave Dumoutier chỉ đề cập nghiên cứu qua vài nét các hoạt động thủ công. Theo nhà học giả Pháp Pierre Huard, Henri Oger lợi dụng nghĩa vụ quân sự và hành chánh để thỏa mãn tính tò mò  vô bờ bến của một nhà bác học trên mọi lãnh vực, ngôn ngữ cũng như văn học. Ông còn tự khen mình cho rằng công trình nghiên cứu nền văn minh  vật chất của người dân Việt và các khía cạnh xã hội học của nó  vẫn chưa có ai làm ở Đông Dương. Ông công nhận  cần phải tiến hành kiểm kê và làm các danh mục rộng lớn.  Tuy biết  rằng có rất nhiều tự điển ở Việt Nam nhưng thật sự không có các cuộc khảo sát nào mang tính chất xã hội và dân tộc học cả. Chính vì thế ông chủ động sản xuất một cuốn bách khoa toàn thư gồm  có 2 tập, liên quan đến mọi khía cạnh của xã hội Việt Nam của thưở xưa: thủ công, lễ hội, kỹ thuật canh tác, phong tục tổ tiên vân vân… Ông nhờ đến khoảng ba mươi thợ khắc để thực hiện các bản vẽ khắc trên gỗ. Vì lý do thời tiết nên các bảng khắc nầy được in lại tại chổ theo phương pháp truyền thống của người dân Việt.

Mỗi ngày ông phải la cà khắp 36 phố phường và vùng ngoại ô Hànội  cùng các họa sĩ để phát họa trên giấy từng công đoạn những hình ảnh linh động về cuộc sống của người Hà Thành.  Phải công nhận các hình ảnh nầy được vẽ một cách tĩ mĩ mà luôn cả chi tiết cũng được ghi nhận rõ ràng cùng các động tác. Nhờ lòng ngưỡng mộ văn hóa của người dân Việt mà  Henri Oger mới vượt qua vào thời điểm này tất cả những khó khăn nhất là trong việc quyên tiền và thực hiện một công trình khổng lồ này gồm có được 4677  tranh khắc tất cả. Ông không nhận được  sự viện trợ nào từ nhà nước Pháp cả mà còn bị khiển trách vì quá lơ là với công việc hành chánh (Ông là lính hạng nhì ). Ông không được xem trọng như một nhà nghiên cứu ở trường Viễn Đông Bác cổ như Henri Maspéro. Thêm vào đó, ông còn cổ vũ  cho  việc cải cách xã hội và dân sự tại Đông Dương, dưới hình thức của phong trào « Ngôi nhà cho mọi người » được sáng lập tại Pháp.  Ông chỉ thu được tiền đăng ký của hai mươi người hảo tâm, tổng số tiền có được là 2000 đồng nên ông  chỉ in được 60 bản mà thôi. Sau đó,  viện lý do ông bệnh mà thật sự ra ông không hoàn thành công việc hành chính được giao phó nên năm 1919 ông được phép hồi hương về Pháp. Năm 1922, ông được nghỉ hưu và lấy vợ không có  được đứa con nào cả. Theo Pierre Huard, ông sống ở Tây Ban Nha từ tháng hai năm 1932. Từ 1936, kể như ông mất tích và không còn tin tức chi cả về ông.

Mặc dù vậy, ông Henri Oger đã thành công trong việc  thực hiện công trình nầy  và để lại cho người dân Việt Nam một kho tàng vô giá. Công trình nghệ thuật của ông vẫn  ít được biết đến với công chúng Pháp và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Chỉ trong năm 1978, có một cuộc triển lãm mang tên « Những họa sĩ nông dân Việt Nam » đã  được diễn ra tại Trung tâm văn hóa ở thành phố Bourges. Ba bản sao của công trình của ông đang được lưu giữ hiện nay ở các thư viện quốc gia Hà Nội và Sài Gòn, nhưng chỉ ở  Saigon mới tìm thấy có được các tập  vẹn toàn. Tuy rằng cuốn sách « Kỹ thuật của người An Nam » không có nhiều giá trị về mặt khoa học nhưng về mặt lịch sử đây là một cuốn sách cổ qúi giá  vô cùng và có một không hai  ở đầu thế kỉ 20 vì nó minh họa lại cuộc sống của nguời Hà Thành mà còn lưu lại vài hình tập tục mà ngày nay không còn nữa theo sự nhận xét của hai phó giáo sư trường Viễn Đông Bác Cổ  Olivier TessierPhilippe Le Failler. Gần đây, với sự hợp tác của Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM, Trường Viễn Đông Bác Cổ tái bản lại toàn bộ tác phẩm hiếm có này bằng 3 thứ tiếng (Việt, Pháp và Anh), dưới dạng sách và ấn phẩm điện tử. Còn có  bổ sung bản dịch ra chữ quốc ngữ tất cả những chú thích được viết bằng chữ Hán Nôm trong lần tái bản này. Đây cũng là một cách thức của  Trường Viễn Đông Bác Cổ công nhận công trình nghiên cứu của Henri Oger.

Khác hẳn với các bạn đồng nghiệp ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, Henri Oger đi trước thời đại vì ông không tán thành quan điểm của giới trí thức phương Tây vào thời điểm đó mà  chủ nghĩa thực dân đang ở đỉnh cao và tất cả đều phải phục vụ cho chính sách nầy. Ngược lại ông cố gắng hòa mình sống trong môi trường của người dân Việt, học ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và cùng họ la cà mãi hai năm trời  để biết  tập tục rõ hơn và mô tả đúng hơn. Chỉ có những nhà dân tộc học như Georges Condominas hay ông mới làm được việc  phi thường nầy.

estampes_oger

Version française

Sans la curiosité et l’esprit d’ouverture de ce jeune militaire français, les estampes populaires vietnamiennes dont l’origine remonta au XVème siècle, à l’époque où le lettré Lương Như Hộc  introduisit les techniques de fabrication des estampes lors du retour de sa mission officielle en Chine, seraient probablement dans les oubliettes et disparaîtraient à jamais avec les vicissitudes de la guerre. 

 

Attraper la libellule

Henri Oger était l’un des rares français qui, au début du siècle dernier, put découvrir à travers la société vietnamienne hermétique jusque-là aux étrangers, pauvre et arriérée, une civilisation millénaire riche en traditions et en coutumes. À cette époque il n’y avait que des érudits occidentaux comme Gustave Dumoutier, Pierre Huard , Maurice Durand ou des missionnaires comme Alexandre de Rhodes, Léopold Cadière portant intérêt à ce petit pays. Quant au nom de Henri Oger, personne le ne le connait sauf une fois il est évoqué dans le seul article de l’érudit Pierre Huard publié dans le bulletin de EFEO (1970) pages 215_217 avec le titre  « Le pionnier de la technologie vietnamienne ». Après l’obtention du baccalauréat  de philosophie avec mention assez bien  en 1905, il fut inscrit à l’École supérieure des études pratiques (IVème section). Il était l’élève de Sylvain Levi et Louis Finot.

En 1907, il demanda au ministère des Colonies de pouvoir faire ses deux ans de service militaire volontaire à Hànoï (1908 – 1909). Sa requête fut acceptée. Alors il n’eut que 23 ans . Il continua à poursuivre sur place ses études  en caractères chinois (Hán) et démotiques (Nôm)  à l’école coloniale  dont il sortit classé 4ème sur 25 élèves. C’est durant cette période qu’il s’adonna à poursuivre  la recherche descriptive de la civilisation  matérielle et spirituelle du  Tonkin, là où Gustave Dumoutier n’avait abordé que par touches l’étude de quelques activités artisanales. Selon Pierre Huard, Henri Oger profita du service militaire et de l’administration pour assouvir la curiosité d’un savant dans tous les domaines, aussi bien linguistique que littéraire. Il se flatta que les travaux de recherche sur la civilisation matérielle du peuple vietnamien et ses aspects sociologiques n’eussent pas encore été réalisés en Indochine. Il reconnut qu’il était nécessaire  de faire des inventaires  et de vastes répertoires.

Malgré l’existence de nombreux dictionnaires au Vietnam, il n’y avait pas vraiment des enquêtes sociales et ethnographiques. Partant de cette constatation, il prit l’initiative de réaliser une encyclopédie constituée de 2 volumes, relatant tous les aspects de la société vietnamienne d’autrefois: métiers d’artisans, fêtes, techniques d’agriculture, coutumes ancestrales etc….. Il demanda  à une trentaine de graveurs de réaliser des dessins gravés sur bois. Puis  à cause des conditions climatiques, il fit imprimer sur place les planches de ces gravures selon les méthodes traditionnelles vietnamiennes. Chaque jour,  il dut parcourir les trente-six rues et les faubourgs de Hanoï avec les artistes pour retracer sur papier les scènes dynamiques de la vie de leurs  habitants.  Il faut reconnaître que ces croquis étaient dessinés avec méticulosité et  les  détails  des mouvements étaient décrits surtout avec précision. 

Grâce à  l’amour du Vietnam et l’estime de son peuple que  Henri Oger eût  à cette époque, cela lui permit  de surmonter  toutes les difficultés rencontrées dans la collection des fonds et dans la réalisation de cette œuvre gigantesque  ayant  4677 dessins en tout. Il ne reçut aucun aide de l’Etat français mais il fut reproché par contre pour ne pas assumer correctement son emploi administratif. (un soldat de deuxième classe). Il  ne fut jamais considéré  vraiment comme  un chercheur à l’Ecole Française d’Extrême Orient tel que Henri Maspero. En plus, il voulut faire des réformes sur l’éducation sociale et civique en Indochine  en fondant « Une maison de tous » en France. Il obtint seulement les souscriptions d’une vingtaine de personnes généreuses, au total 2000 piastres. Cela lui permit d’imprimer seulement 60 exemplaires. Profitant de sa maladie mais plutôt de son manque d’assiduité dans son travail administratif, il fut rapatrié en France en 1919. En 1922, il prit sa retraite et se maria sans avoir des  enfants. Selon Pierre Huard, il vit en Espagne à partir février 1932. Puis il fut porté disparu en 1936. On n’avait plus de nouvelles sur lui.

Malgré cela, Henri Oger a réussi à réaliser son projet scientifique et à  laisser au peuple vietnamien un trésor inestimable. Son œuvre est restée méconnue du public français et vietnamien pendant des décennies. Seulement en 1978, une exposition intitulée « Les peintres paysans du Vietnam » eut lieu au centre culturel de Bourges. 

Trois exemplaires de son œuvre sont conservés actuellement aux Bibliothèques Nationales de Hanoï et de Saïgon mais c’est seulement dans cette dernière ville qu’on trouve l’intégralité de ses 2 volumes. Bien que  l’ouvrage de Henri Oger intitulé « Technique du peuple annamite » n’ait pas beaucoup de valeur scientifique, il constitue par contre au point de vue historique un livre ancien précieux et unique en son genre au début du 20ème siècle car il illustre la vie journalière des Hanoïens et il garde quelques croquis relatant  certaines coutumes qui n’existent plus aujourd’hui  selon les observations des deux chercheurs Olivier Tessier et Philippe Le Failler de l’Ecole Française d’Extrême Orient (EFEO). Récemment, avec la coopération de la Bibliothèque des Sciences Générales de Ho Chi Minh Ville, cet ouvrage rare a été réédité en trois  langues, sous forme de livres et de publications électroniques.

Il existe également une traduction dans la langue nationale de toutes les notes écrites en Hán (chinois) et en  Nôm (vietnamien) dans cette édition. C’est aussi la manière de l’EFEO d’apporter la reconnaissance implicite des travaux scientifiques de Henri Oger. Différent de ses collègues de son époque, il était en avance sur son temps car il n’épousait pas le point de vue de l’intelligentzia occidentale à une époque où le colonialisme était à son apogée et tout devait servir cette politique.  Par contre il s’efforçait de s’installer dans le propre milieu des Vietnamiens, d’apprendre leur langue maternelle et parcourir tous les recoins de Hanoï durant ses deux années successives  afin de mieux connaître leurs us et coutumes  et les décrire avec justesse et concision.   Il n’y a que  les ethnologues comme Georges Condominas et lui pouvant accomplir ce travail extraordinaire. 

English version

Without the curiosity and open spirit of this young French soldier, the popular folk paintings of Vietnam, known to have originated from the 15th century, at the time when scholar Lương Như Hộc introduced painting techniques after an official trip to China, would probably have been forgotten and disappeared forever amidst the upheavals of war.

Henri Oger was one of the rare Frenchmen who, at the beginning of the 20th century, discovered a civilization with a thousand years of rich tradition and customs in a poor, backward, and secretive Vietnamese society that was until then unknown to foreigners. Only at that time did Western scholars such as Gustave Dumoutier, Pierre Huard, Maurice Durand, or missionaries like Alexandre de Rhodes and Léopold Cadière show interest in this small country. Henri Oger’s name was never mentioned except once in a single article by scholar Pierre Huard published in the BEFO journal (1970), pages 215-217, titled « Le pionnier de la technologie vietnamienne » (The Pioneer of Vietnamese Technology). After obtaining a philosophy baccalaureate with a pass grade in 1905, he enrolled in the École supérieure des études pratiques (Higher School of Practical Studies) (Section IV). He was a student of Sylvain Levi and Louis Finot.

In 1907, he requested permission from the colonial ministry to perform voluntary military service in Hanoi (1908 – 1909). His request was granted. At that time, he was only 23 years old and continued to study Nom script and Chinese characters at the colonial school in Hanoi, graduating ranked 4th among 25 students. During this period, he diligently pursued research describing the material and spiritual civilization of Northern Vietnam, where Gustave Dumoutier had only briefly touched upon the handicraft activities. According to the French scholar Pierre Huard, Henri Oger took advantage of military service and administrative duties to satisfy the boundless curiosity of a polymath across all fields, including language and literature. He even praised himself, stating that his research on the material civilization of the Vietnamese people and its sociological aspects had not been done by anyone in Indochina. He acknowledged the need to conduct extensive inventories and compile large catalogs.

Although aware that there were many dictionaries in Vietnam, there had been no sociological or ethnological surveys. Therefore, he proactively produced an encyclopedia in two volumes, covering all aspects of ancient Vietnamese society: handicrafts, festivals, farming techniques, ancestral customs, and so forth. He enlisted about thirty woodcarvers to create woodblock engravings. Due to weather conditions, these woodblocks were reprinted locally using traditional Vietnamese methods. Every day he had to roam around the 36 streets and suburbs of Hanoi with artists to sketch on paper each stage of the lively images of the life of the people of Hanoi. It must be acknowledged that these images were drawn meticulously, with even the details clearly recorded along with the movements.

Thanks to his admiration for the culture of the Vietnamese people, Henri Oger was able to overcome, at that time, all difficulties, especially in raising funds and carrying out this enormous project which included a total of 4,677 engravings. He did not receive any support from the French government and was even reprimanded for being too negligent with administrative work (he was a second-class soldier). He was not respected as a researcher at the School of the Far East like Henri Maspéro. Furthermore, he also advocated for social and civil reform in Indochina, under the form of the « A House for Everyone » movement founded in France. He only collected registration fees from twenty benefactors, totaling 2,000 đồng, so he could only print 60 copies. Afterwards, citing illness as a reason, but in reality because he did not complete the assigned administrative work, in 1919 he was allowed to return to France. In 1922, he retired and married but had no children. According to Pierre Huard, he lived in Spain from February 1932. From 1936, he was considered missing and there was no further news about him.

Nevertheless, Mr. Henri Oger succeeded in carrying out this work and left the Vietnamese people an invaluable treasure. His artistic work has remained little known to the French and Vietnamese public for many decades. Only in 1978 was an exhibition titled « Vietnamese Peasant Painters » held at the cultural center in the city of Bourges.

estampes_1

Three copies of his work are currently preserved in the national libraries of Hanoi and Saigon, but only in Saigon can complete volumes be found. Although the book « Techniques of the Annamites » does not have much scientific value, historically it is an extremely precious and unique old book at the beginning of the 20th century because it illustrates the life of the people of Hanoi and also preserves some customs that no longer exist today, according to the assessment of two associate professors from the École française d’Extrême-Orient, Olivier Tessier and Philippe Le Failler. Recently, in cooperation with the General Science Library of Ho Chi Minh City, the École française d’Extrême-Orient reprinted this rare work in three languages (Vietnamese, French, and English), in the form of books and electronic publications.

Additionally, this reprint included a translation into the national script of all annotations originally written in classical Chinese and Nom characters. This is also a way for the École française d’Extrême-Orient to acknowledge Henri Oger’s research work. Unlike his colleagues at the École française d’Extrême-Orient, Henri Oger was ahead of his time because he did not agree with the views of Western intellectuals at that time when colonialism was at its peak and everything had to serve that policy. On the contrary, he tried to immerse himself in the environment of the Vietnamese people, learned their native language, and spent two years hanging out with them to better understand their customs and describe them more accurately. Only ethnologists like Georges Condominas or he himself could accomplish this extraordinary task.

Bibliographie:

Introduction générale à l’étude de la technique du peuple annamite. 2 volumes. Editions: Geuthner-Jouve, Paris.
Huard Pierre: Le pionnier de la technologie vietnamienne. Henri Oger (1885-1936).  BEFO. Tome 57, 1970 pp  215-217
Tessier Olivier: Du geste au dessin. La vie à Hanoï au début du XXème siècle saisie par Henri Oger.  Arts asiatiques. Tome 66. 2011
Nguyễn Mạnh Hùng: Kỹ thuật của người An Nam. Quyển 1 Sách chuyên khảo. 

Áo dài (Tunique vietnamienne)

 

aodai

Version française

English version

Áo dài vẫn được xem là một trong những biểu tượng truyền thống của người dân Việt. Du khách nước ngoài đến Việt Nam có cơ hội nhìn thấy một phụ nữ mặc chiếc áo dài ở trên đường phố  hay là những ngày đầu năm Tết ở chùa hay nhà thờ. Đó là một chiếc áo dài bó sát bằng vải nhẹ, hở hai bên hông, mặc ở bên ngoài một quần ống rộng. Người du khách chắc chắn phải lặng người ngưỡng mộ trước vẻ đẹp thanh lịch hiện thân này. Không phải y phục nầy gợi lên sự ngưỡng mộ  mà đấy là mối quan hệ giữa người phụ nữ và chiếc áo dài hay là văn hóa. Tuy nhiên, áo dài chỉ có một lịch sử gần đây thôi. Nó chỉ có từ thế kỷ 18.

 Có ấn tượng trước  vẻ tao nhã của các trang phục Mãn Châu dưới thời nhà Thanh, một chúa Nguyễn tên là Võ Vương mới nghỉ ra  thiết kế ra một bộ trang phục cho dân tộc Việt lấy nguồn cảm hứng từ các mô hình Mãn Châu này. Phải mất một thế kỷ về sau, áo dài này mới được quần chúng chấp nhận dưới thời vua Minh Mạng.

Quelques tuniques sélectionnées

Trang phục này  trở thành là biểu tượng quốc gia với nhiều kiểu mẫu đa dạng không những về màu sắc mà cả hoa văn trang trí. Áo dài được người phụ nữ Việt Nam mặc nhiều nhất hiện nay trong những ngày lễ cổ truyền.

Version française

Áo dài est considérée toujours comme l’un des symboles du Vietnam traditionnel. Le touriste étranger qui débarque au Vietnam a l’occasion de voir une femme vêtue d’une « áo dài » dans la rue ou dans les premiers jours de notre nouvel an à la pagode ou à l’église. Il s’agit d’une longue tunique moulante en tissu léger, ouverte sur les côtés à partir de la taille et portée sur un pantalon large. Le touriste est muet sûrement d’admiration face à cette élégance incarnée. Ce n’est pas le costume qui provoque cette admiration mais plutôt la relation entre la femme et sa tunique ou sa culture. Pourtant l’áo dài n’a qu’une histoire récente. Elle ne date que du 18ème siècle.

Impressionné par l’élégance des costumes mandchous sous le règne des Qing, un seigneur Nguyễn  de nom  Võ Vương est venu de concevoir un costume national vietnamien en trouvant son inspiration dans ces modèles mandchous. Il faut attendre un siècle  plus tard pour que cette tunique soit adoptée définitivement dans les couches populaires durant le règne de l’empereur Minh Mạng.

Ce costume devient le symbole national avec des modèles de plus en plus variés non seulement  dans les coloris mais aussi dans les motifs de décoration. Il est le plus porté aujourd’hui par les Vietnamiennes dans les fêtes traditionnelles.

Musée de la tunique (Bảo tàng viện áo dài)

[Retour TRADITIONS]

Céramique (Gốm Viet Nam)

 

gom

Version française

English version

Bất chấp sự thống trị lâu dài một ngàn năm của Trung Hoa ở  Vietnam, người ta rất ngạc nhiên khi nhận thấy quốc gia nầy  thành công  thể hiện xuất sắc được sự khác biệt  từ thế kỷ 14 trở đi trong lĩnh vực đồ  gốm. Do đó, Viet Nam trở thành một diễn viên  thiết yếu cho sự  phát triển thương mại mạnh mẽ ở Đông Nam Á trong lãnh vực đồ gốm với các thuyền bè và chiếc la bàn mà Viet nam đựợc biết đến từ thế kỷ thứ 11. Các cuộc khai quật dưới lòng biển của những con tàu có giá trị đến lịch sử gốm sứ Việt Nam trong những năm 1997-1999 ở Biển Đông, đặc biệt là ở đảo Cù Lao chàm (Poulo Cham) và đảo Hòn Dầm gần đảo Phú Quốc (Kiên Giang) khẳng định  lại vai trò chủ yếu mà Việt Nam đã đóng trong việc buôn bán đồ gốm lúc bấy giờ với vô số hiện vật vô giá trong đó  có một  chiếc bình sứ màu xanh và trắng có họa tiết thiên nga được công nhận từ đây là bảo vật quốc gia. 

Trong quyển  sách Suma Oriental (1515), sứ giã Bồ Đào Nha, Tomé Pirès  có tóm tắt lại tất cả các cuộc  trao đổi này và ghi nhận luôn việc sản xuất  đồ gốm mà Việt Nam dành riêng để bán cho Trung Hoa. Thậm chí vào thời điểm này còn có các đồ gốm hoa lam của Vietnam được nhái  trong  các lò nung Swatow  ở Trung Hoa. Theo nhà khảo cúu Pháp Philippe Colomban (CNRS) thì tính đặc thù của  đồ gốm Vietnam bắt đầu thể hiện cùng sự thành hình của một quốc gia độc lập. Các đồ gốm dưới hai triều Lý và Trần đều là đơn sắc. Ba loại men được trông thấy: men ngà, men nâu và men bắt chước ngọc từ màu xanh đến màu vàng. Từ khi Trung Quốc bị  xâm lược bởi  người Mông Cổ, đồ gốm Việt Nam được triều đình của hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan) ưa chuộng vì thế trong các vật dụng mà Việt Nam phải cống nạp thì thấy ngoài những chiếc sừng của con tê giác và ngọc trai, còn có các chén sứ màu trắng.

Sự thành công  nầy phần lớn nhờ vào màu xanh của cobalt đã mang lại cho  nghệ thuật gốm Việt Nam một tinh thần  được tồn tại hai thế kỷ và dẩn đến sự chinh phục  được  các  người nước ngoài  ở  những vùng xa xôi  tại Á Châu. Đây là trường hợp của một bình lớn được tìm thấy ở cung điện Topkapi  (Istanbul) mang một dòng chữ bằng chữ Trung Hoa, màu xanh lam có thể đọc được bằng tiếng Việt: được vẽ với niềm vui của nghệ nhân Pei theo sau là chữ Thị (hiển nhiên một người đàn bà) ở huyện Nam Sách trong năm thứ 8 của Thái Hoà (1143-1459)  hoặc một đĩa hoa lam trang trí với các hoa được lưu giữ ở bảo tàng Ardabil (Tehéran).

Nếu màu xanh coban đã được biết đến ở Viet Nam trong một thời gian dài ngay cả trước cuộc xâm lăng của quân Minh bạo tàn thì việc sử dụng nó được áp đặt  chỉ vào những năm 1430-1450. Chính từ thời điểm này,  các đồ gốm đơn sắc được thay thế  bởi các đồ gốm hoa lam. Chính nhờ sự  thông thạo  hoàn hảo các kỹ thuật chế tạo, trang trí và  cách nung gốm mà nghệ nhân Vietnam Nam có thể trau dồi trí tưởng tượng của mình. Mặc dù  có những hạn chế  trong cách vẽ tô màu  nhất là không thể sửa chữa lại được, chúng ta nhận thấy sự xuất hiện trên  sành không chỉ  những hình vẽ phức tạp hơn mà còn có nhiều sắc tố  với các hình dạng và hoa tiết  nguyên bản khiến  biến nghệ nhân trở thành một nghệ sĩ xuất sắc. Nếu có  mượn một số lượng lớn các hình vẽ  trang trí từ Trung Quốc (hoa mẫu đơn, hoa sen, hoa, tán lá vân vân..), thì nghệ nhân Vietnam có ý tưởng tạo ra một phong cách  độc lập ít  có theo nghi thức và rạo rực hơn so với nghệ nhân Trung Hoa  qua sự sống động của nét vẽ và sự tự nhiên.  

Còn biết làm thế nào để thích ứng những yếu tố trang trí này theo phong cách Vietnam: cá vàng Trung Hoa  trở thành cá bống, một loài cá nước ngọt ở Vietnam. Chúng ta  cũng lưu ý rằng  các đồ gốm Viet Nam không bị ảnh hưởng phương Tây. Có sự liên tục trang trí đồng tâm trên các  đĩa Viet Nam. Đây không còn là trường hợp của Trung Quốc nữa từ khi quốc gia  này đã  khám phá  ra được phối cảnh từ triều đại Gia Kinh nhà Minh (1522-1566). Mặt khác,  các họa tiết ở trung tâm của các đĩa  thấy được rõ  ràng, có chất lượng vượt trội so với các họa tiết bổ sung, điều này chứng tỏ có sự tham gia  của nhiều  người thủ công trong  việc thực hiện.

Version française

Il est étonnant de constater que, malgré la longue  domination de la Chine durant 1000 ans sur le Vietnam, ce dernier arriva à se distinguer brillamment à partir du XIVème siècle dans le domaine de la céramique. Il devint ainsi un acteur essentiel du  commerce florissant du Sud-Est asiatique dans ce domaine avec ses jonques et sa boussole connue depuis le XIème  siècle. Les récentes fouilles sous-marines  des bateaux chargés de l’histoire de la céramique vietnamienne durant les années 1997-1999   dans la mer de l’Est en particulier  à l’île Poulo Cham (Cù Lao chàm) et l’île Hòn Dầm près de l’île de Phú Quốc (Kien Giang) confirment  le rôle  majeur qu’eut joué le Vietnam dans le commerce des céramiques vietnamiennes à cette époque avec la récupération de  plusieurs objets inestimables parmi lesquels figure le vase en porcelaine bleu et blanc avec les motifs de cygne  reconnu depuis comme le trésor national du Vietnam. Tome Pirès dans sa Suma Oriental (1515) résuma tous ces échanges et nota l’existence même d’une production céramique vietnamienne destinée à la vente pour la Chine. Il y eut même à cette époque l’imitation des bleu et blanc vietnamiens dans les fours chinois de Swatow. 

Selon le chercheur français Philippe Colomban du CNRS, la spécificité de la céramique vietnamienne  commença à se manifester à la naissance d’un Vietnam indépendant.  Les céramiques des Lý et Trần étaient monochromes. Trois types d’émaux étaient rencontrés: ivoire, brun et une couleur à l’imitation du jade, allant du vert au jaune. Lors de l’invasion de la Chine par les Mongols,  la céramique vietnamienne fut très appréciée par la cour de l’empereur  Kubilai Khan (Nguyên Thế Tổ) car dans le tribut  que  le Viet Nam  dut  lui apporter comportait outre les cornes de rhinocéros, des perles, des bols de porcelaine blanche. Son succès est dû en grande partie plus tard  au bleu de cobalt qui insuffle à l’art céramique vietnamien un esprit durant  pendant deux siècles et qui lui permet de conquérir le public étranger même dans les coins les plus refoulés de l’Asie. C’est le cas d’un grand vase- bouteille trouvé du palais Topkapi d’Istanbul portant une inscription en caractères chinois, en bleu sous couverte que l’on peut lire à la vietnamienne : Peint pour le plaisir par Pei suivi par le qualificatif Thi (désignant sans ambiguïté le sexe féminin)  de Nam Sách dans la 8ème année de Thái Hoà (1443-1459) ou un plat à décor floral bleu et blanc du Trésor d’Ardabil (Musée de Téhéran).

Si le bleu de cobalt fut connu au Vietnam depuis longtemps même avant l’invasion chinoise des Ming cruels, il apparaît que son utilisation s’imposa seulement autour des années 1430-1450. C’est à partir de cette époque que le bleu et blanc supplantèrent définitivement les céramiques monochromes.

Vase (Dynastie des Lê)
Photo Loan de Fontbrune

C’est grâce à la maîtrise parfaite des techniques de fabrication, de décoration et de cuisson que le potier vietnamien peut cultiver son imagination. Malgré des contraintes de la peinture sous couverte n’empêchant tout repentir, on voit apparaître sur le grès non seulement des dessins de plus en plus sophistiqués mais aussi une variété de pigments, une éruption de formes et des décors originaux qui l’érigent en artiste  distingué. Si celui-ci emprunte un bon nombre de dessins décoratifs à la Chine (pivoines, lotus, fleurs, rinceaux etc.), il a par contre l’idée de créer un style autonome moins hiératique et plus enjoué que son homologue chinois par la vivacité de son trait et par sa spontanéité.

Il sait adapter ces éléments décoratifs au style vietnamien: le poisson rouge chinois devenant ainsi un gobie  (Cá Bống), un poisson d’eau douce vietnamien. On note également que la céramique vietnamienne ne subit aucune influence occidentale. Il y a la continuité de l’ornementation concentrique sur les assiettes vietnamiennes. Ce n’est plus le cas de la Chine depuis que celle-ci découvrit la perspective à partir du règne de Jiajing (1522-1566). Par contre, la qualité du motif central trouvé sur les assiettes, est nettement supérieure à celle des motifs annexes, ce qui témoigne de l’intervention de plusieurs artisans dans leur réalisation.

Des céramiques vietnamiennes chargées d’histoire  (Philippe Colomban CNRS)

English version

It is astonishing to note that, despite China’s long domination over Vietnam for 1000 years, the latter managed to distinguish itself brilliantly from the 14th century onwards in the field of ceramics. It thus became a key player in the flourishing Southeast Asian trade in this field with its junks and its compass known since the 11th century. Recent underwater excavations of boats carrying the history of Vietnamese ceramics during the years 1997-1999 in the East Sea, particularly at Poulo Cham Island (Cù Lao Chàm) and Hòn Dầm Island near Phú Quốc Island (Kiên Giang), confirm the major role Vietnam played in the trade of Vietnamese ceramics at that time with the recovery of several priceless objects, among which is the blue and white porcelain vase with swan motifs now recognized as a national treasure of Vietnam. Tome Pirès, in his Suma Oriental (1515), summarized all these exchanges and noted the very existence of Vietnamese ceramic production intended for sale to China. At that time, there was even imitation of Vietnamese blue and white ceramics in the Chinese kilns of Swatow.

According to the French researcher Philippe Colomban from the CNRS, the specificity of Vietnamese ceramics began to manifest with the birth of an independent Vietnam. The ceramics of the Lý and Trần dynasties were monochrome. Three types of glazes were encountered: ivory, brown, and a jade imitation color, ranging from green to yellow. During the Mongol invasion of China, Vietnamese ceramics were highly appreciated by the court of Emperor Kubilai Khan (Nguyên Thế Tổ) because the tribute that Vietnam had to bring him included, besides rhinoceros horns and pearls, bowls of white porcelain. Its success is largely due later to cobalt blue, which infused Vietnamese ceramic art with a spirit lasting for two centuries and allowed it to conquer foreign audiences even in the most remote corners of Asia. This is the case of a large bottle-shaped vase found in the Topkapi Palace in Istanbul bearing an inscription in Chinese characters, in underglaze blue, which can be read in Vietnamese: Painted for pleasure by Pei followed by the qualifier Thi (unambiguously indicating the female gender) from Nam Sách in the 8th year of Thái Hoà (1443-1459), or a blue and white floral-decorated dish from the Ardabil Treasury (Tehran Museum).

Although cobalt blue had been known in Vietnam for a long time, even before the invasion of the cruel Ming Chinese, its use only became widespread around the years 1430-1450. It was from this period that blue and white definitively supplanted monochrome ceramics.
Thanks to the perfect mastery of manufacturing, decorating, and firing techniques, the Vietnamese potter could cultivate his imagination. Despite the constraints of underglaze painting that prevent any correction, not only increasingly sophisticated designs appear on the stoneware but also a variety of pigments, an eruption of forms, and original decorations that elevate him to the status of a distinguished artist. While he borrows many decorative designs from China (peonies, lotuses, flowers, scrolls, etc.), he has the idea to create an autonomous style that is less hieratic and more playful than his Chinese counterpart, through the liveliness of his line and his spontaneity.

He knows how to adapt these decorative elements to the Vietnamese style: the Chinese goldfish thus becoming a goby (Cá Bống), a Vietnamese freshwater fish. It is also noted that Vietnamese ceramics do not undergo any Western influence. There is a continuity of concentric ornamentation on Vietnamese plates. This is no longer the case in China since it discovered perspective starting from the reign of Jiajing (1522-1566). However, the quality of the central motif found on the plates is clearly superior to that of the secondary motifs, which indicates the involvement of several artisans in their creation.

Bình màu lam ở điện Tokapi (Istanbul, Thổ Nhi Kỳ)

Articles  trouvés concernant la céramique vietnamienne

La céramique vietnamienne (Philippe Colomban CNRS)
Des céramiques vietnamiennes chargées d’histoire  (Philippe Colomban CNRS)

[Return]

Art culinaire (Nghệ thuật ẩm thực của người Việt)

amthucvn

English version

Vietnamese version

Les Vietnamiens accordent une grande importance à l’art culinaire, en particulier à leur manger. Celui-ci est une première nécessité dans leur vie journalière et dans leur culture. Rien n’est surprenant de voir qu’un grand nombre de mots usuels ont été préfixés par le mot « ăn » bien que l’utilisation de ce dernier ne soit pas justifiée dans la signification de ces mots. Parmi ceux-ci, on peut citer: ăn nói ( parler ), ăn mặc ( habiller ), ăn ở ( vivre ), ăn tiêu ( consommer ) , ăn ngủ ( dormir ), ăn trộm ( voler ), ăn gian ( tricher ), ăn hối lộ (corrompre), ăn hiếp ( opprimer ) etc .. On a l’habitude de dire souvent : Trời đánh tránh bữa ăn pour dire que même Dieu n’ose pas déranger les Vietnamiens durant leur repas.

Leur manger est élaboré soigneusement selon le concept du Yin et du Yang et de 5 éléments (Thuyết Âm Dương Ngũ Hành) qui est à la base fondamentale de leur civilisation Văn Lang.  Yin -Yang (Âm Dương) est la représentation de deux pôles de toutes choses, une dualité à la fois contraire et complémentaire. Est de nature Yin tout ce qui est fluide, froid, humide, passif, sombre, intérieur, d’essence féminine comme le ciel, la lune, la nuit, l’eau, l’hiver. Est de nature Yang tout ce qui est solide, chaud, lumineux, actif, extérieur, d’essence masculine comme la terre, le soleil, le feu, l’été.  L’homme est le trait d’union entre ces deux pôles ou plutôt entre la Terre (Dương) et le Ciel ( Âm ). L’harmonie peut être trouvée seulement dans l’équilibre que l’homme apporte à son environnement, à son univers et à son corps.

La nourriture des Vietnamiens trouve ainsi toute sa préparation méticuleuse et sa particularité dans la relation dialectique de la théorie du Yin et du Yang. Elle témoigne aussi du respect de la tradition culturelle millénaire d’un pays agricole et d’une civilisation connue pour la culture du riz avec sa technique de la rizière inondée (trồng lúa nước). C’est pour cela que le riz ne peut pas être manquant dans un repas vietnamien. Il est à la base d’un grand nombre de plats vietnamiens. (bánh cuốn, bánh xèo, phở, bún , bánh tráng, bánh chưng etc.) (raviolis, crêpe, soupe tonkinoise, vermicelle, galette de riz, gâteau de riz etc.). Le riz peut être complet, rond, long, concassé, parfumé, gluant etc. Plus qu’un aliment, le riz est pour les Vietnamiens la preuve intangible de leur culture Bai Yue, la trace d’une civilisation qui ne se perd pas sous le poids de la longue domination chinoise.

Âm Dương trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt

 

La manière de manger des Vietnamiens n’est pas étrangère non plus à la recherche du juste milieu prôné dans le concept du Yin et du Yang. « Manger ensemble » exige à leurs yeux un certain respect, un certain niveau de culture dans l’art de manger car il y a l’interdépendance indéniable des convives dans le partage alimentaire et spatial. On a l’habitude de dire : Ăn trông nồi , ngồi trông hướng. On doit faire attention à la marmite du riz lorsqu’on mange et à l’orientation au moment où on est assis. C’est la maxime que les parents vietnamiens ont l’habitude de dire à leurs enfants quand ils se mettaient à table et étaient encore de jeunes garçons. On doit se comporter au juste milieu lorsqu’on est invité à un repas. On n’a pas le droit de manger trop vite pour éviter d’être taxé d’impolitesse mais on ne peut pas manger trop lentement à son rythme car on peut laisser les autres convives dans l’attente. 

On n’est pas permis de vider les plats ou la marmitée car on se sent trop gourmand. Par contre, on ne connaît pas le savoir-vivre si on mange un tout petit peu, ce qui pourrait vexer l’hôte de la maison. Ce comportement circonspect peut être résumé par le dicton suivant: Ăn hết bị đòn, ăn còn mất vợ. (Vider la marmitée mérite une fessée, en laisser le reste conduit à la perte de l’épouse). C’est cette recherche constante de l’équilibre évoqué dans la théorie de Yin et de Yang que le Vietnamien doit exercer avec habileté dans un repas . On ne peut pas ignorer non plus le caractère « varié » que porte la nourriture vietnamienne. Celle-ci se caractérise par la diversité et l’exubérance visible des couleurs des ingrédients dans sa préparation.

Lire la suite

Etre femme au Vietnam

Người phụ nữ Vietnam

etre_femme

Être femme au Vietnam

English version

Version française

Việt Nam là một quốc gia mà Nho giáo có ảnh hưởng đáng kể đến đời sống chính trị và xã hội. Là triết lý nhà nước dưới thời Hán, Nho giáo nhiều lần được sử dụng làm mô hình duy nhất cho việc tổ chức nhà nước và xã hội Việt Nam. Ảnh hưởng Nho giáo này không phải là không liên quan đến những điều kiện truyền thống áp đặt lên người phụ nữ Việt Nam. Họ phải tuân theo luật tam tòng sau: Tam tòng:

Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

-vâng lời cha trước khi kết hôn,
-vâng lời chồng sau khi kết hôn,
-vâng lời con trai cả sau khi góa bụa.

Luật này đã được Nguyễn Trãi, cố vấn của vua Lê Lợi, nhắc lại trong « Gia Huấn Ca » vào đầu thế kỷ 15. Dưới triều Nguyễn, bộ luật Gia Long, có hiệu lực vào thế kỷ 19, là bộ luật lạc hậu và khắt khe nhất mà Việt Nam từng biết đến.

Mặc dù vậy, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ vai trò chủ đạo trong gia đình và xã hội Việt Nam. Điều này được thể hiện qua các bài hát, bài thơ, truyện kể và những bài hát ru. Phụ nữ Việt Nam không chỉ được miêu tả là những sinh vật dịu dàng, ngoan ngoãn và đức hạnh, mà còn là những người chăm chỉ, được ban cho một lòng kiên nhẫn vô bờ bến.

Hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị là những nữ anh hùng được ca ngợi và tôn kính không kém gì các anh hùng Quang Trung, Hưng Đạo Vương, vân ân. Họ là những người phụ nữ đầu tiên nổi dậy, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Trung Quốc. Họ cũng là những người phụ nữ sát cánh cùng nam giới trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trường hợp tiêu biểu nhất vẫn là nữ anh hùng Nguyễn Thị Giang. Theo truyền thống Việt Nam, bà đã tự sát vào năm 1930 sau khi chồng bà, nhà lãnh đạo quốc gia Nguyễn Thái Học, bị hành quyết.

Phụ nữ Việt Nam là hình mẫu hoàn hảo cho việc bảo vệ tổ quốc và danh dự quốc gia. Điều này được thể hiện rõ qua câu chuyện « Hòn Vọng Phu ». Đó là câu chuyện về một người phụ nữ đứng chết trân trên đỉnh đồi, bế con trên tay, chờ đợi người chồng đã ra đi biên cương trở về. Hình ảnh người phụ nữ mẫu mực này hiện diện ở nhiều nơi trên khắp lãnh thổ Việt Nam (Cao Bằng, Ninh Hòa, vân vân).

Người phụ nữ mẫu mực này cũng được tìm thấy trong truyện « Thiếu Phụ Nam Xương« . Đó là câu chuyện về một người phụ nữ đã tự tử vì bị chồng đánh giá sai về lòng chung thủy của mình. Đàn ông có quyền yếu đuối, nhưng phụ nữ thì không. Cô ấy phải là một hình mẫu hoàn hảo. Điều này đã gây ra nhiều tranh cãi và tranh cãi trong nhiều năm.

Một số phụ nữ đã cố gắng phá vỡ ách Nho giáo này. Một số phụ nữ đã cố gắng phá vỡ ách thống trị của Nho giáo. Đó là trường hợp của nhà thơ Hồ Xuân Hương, người đã phá vỡ những điều cấm kỵ bằng cách sáng tác những bài thơ gợi cảm vào cuối thế kỷ 18. Bà luôn khẳng định mình trên phương diện văn chương, như một người phụ nữ được giải phóng. Thơ của bà luôn tràn ngập những gợi cảm.

Sự phản đối mạnh mẽ này của một người phụ nữ trong xã hội Nho giáo có thể được tìm thấy trong bài thơ sau đây mô tả bánh Trôi Nước (một loại bánh trắng, tròn với phần nhân ngọt, được tắm trong nước đường caramen): 

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bẩy nỗi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay trẻ nặng
Mà em vẫn giử tấm lòng son

Bà ám chỉ một người phụ nữ, vào thời điểm đó, bất chấp những ô uế của cơ thể và những khó khăn của cuộc sống, vẫn giữ được trái tim chung thủy và trong sáng. Bà cũng là người duy nhất dám đề cập đến quyền lợi của phái nữ và nói về tình yêu xác thịt mà không hề xấu hổ. Bà đã đi trước thời đại. Bà đã tránh được sự chỉ trích nhờ kỹ năng sử dụng ẩn dụ và ẩn dụ vô song. Bà đã dùng những miêu tả vô hại về phong cảnh và đồ vật để nói về sự khiêu dâm, về những điều thô tục nhất trong xã hội phong kiến.

Thậm chí còn có một giai thoại về bà, do chính nhà thơ Xuân Diệu kể lại: Một hôm trời mưa. Đường trơn trượt. Hồ Xuân Hương bỗng nhiên ngã. Bà nằm dài ra, hai tay giơ ra sau đầu, hai chân dang rộng. Bọn con trai cười ồ lên. Bà liền ứng khẩu làm một câu đối: 

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài

Đây cũng là trường hợp của Ỷ Lan, người được vua Lý Thánh Tôn sủng ái. Bà đã lợi dụng chiến dịch chống Chiêm Thành của chồng để bảo vệ quyền nhiếp chính một cách xuất sắc. Vào thời điểm đó, bà đã thực hiện nhiều biện pháp xã hội đối với người nghèo, đặc biệt là đối với phụ nữ. Tuy nhiên, vào năm 1907, lần đầu tiên các lớp học dành cho nữ sinh được mở tại một trường tư thục. Phong trào nữ quyền bắt đầu được phát động.Ngày nay, mặc dù luật pháp thừa nhận bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, nhưng sự bất bình đẳng này vẫn tồn tại trên thực tế.

Đây không còn là vấn đề pháp lý nữa, mà là vấn đề tâm lý. Tình trạng này vẫn tồn tại ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở các vùng nông thôn.

Le Vietnam est un pays où le confucianisme influe considérablement sur la vie politique et sur la société. Devenu philosophie d’état sous les Han, le confucianisme fut employé à plusieurs reprises comme le modèle unique de l’organisation de l’état et de la société vietnamienne. Cette emprise confucéenne n’est pas étrangère aux conditions traditionnelles imposées aux femmes vietnamiennes. Celles-ci sont soumises à la loi des trois obéissances suivantes: Tam Tòng:

Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử

   –obéissance au père avant le mariage,
   -obéissance au mari une fois mariée,
   -obéissance au fils aîné une fois veuve

Cette loi fut rappelée dans ses « Instructions familiales » ( Gia Huấn Ca ) par Nguyễn Trãi, le conseiller du roi Lê Lợi au début du XVème  siècle. Sous les Nguyễn, le code Gia Long qui était en vigueur au XIXème  siècle est le plus rétrograde et le plus rigoriste que le Vietnam ait connu.

Lire la suite

Héros du Vietnam (Anh hùng dân tộc)

Photo prise au musée d’histoire du Vietnam  (Saïgon)

French version

English version

histoire1

Các vị anh hùng dân tộc  Việt Nam

Trên con đường lịch sử của dân tộc Việt, danh sách các vị anh hùng nó dài đến mức mà ta không thể nêu lên được hết cả. Nhưng cũng không vì thế một người trai trẻ đất Việt lại không biết đến những bậc anh hùng như Trần Hưng Đạo,  Nguyễn Huệ và Lê Lai bởi vì các nhân vật này đều là một tấm gương mẫu mực để  mà chúng ta noi theo.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228- 1300)

Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Đối mặt với  quân Nguyên gồm có 500.000 chiến binh hiếu chiến của  Hốt Tất Liệt, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam ta khó mà có thể chống lại cuộc xâm lược tàn bạo này. Mặc dù vậy, Việt Nam đã hai lần đánh bại quân Mông Cổ vào năm 1257 và năm 1287 bằng những chiến công hiển hách trên sông Bạch Ðằng nhờ tài năng của tướng Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Theo các nhà sử học, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở châu Á và châu Âu đã thành công chống lại được cuộc xâm lược của người Mông Cổ vào thời điểm đó. Cũng không có gì ngạc nhiên cả nếu chúng ta hãy nhìn lại vào  tự truyện của vị tướng này. Có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần, ông là một nhân vật phi thường. Ông biết  chú tâm lúc bấy giờ đến  mọi lực lượng chính trị của đất nước, khơi dậy tinh thần đoàn kết và  sức mạnh của cả một dân tộc với quân binh Việt Nam thông qua các hội đồng nhân dân  (như  Hôi Nghị Diên Hồng) và có  được dưới quyền  các đấng nam nhi tài năng trong đó có một nhân vật nổi bật nhất  là Phạm Ngũ Lão. Nhờ mưu lược  của ông  mà quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt hoàn toàn quân Mông Cổ bằng cách đóng cọc ở giữa lòng sông Hồng khiến phá  vỡ  được  tất cả  thuyền bè  của chúng. Dù có những chiến công hiển hách nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn biết rằng khó có thể thắng được kẻ thù hùng mạnh như quân Mông Cổ.

Nhận thức được thực tế địa lý và nhu cầu chính trị, ông biết tránh việc cắt  đứt hoàn toàn mối quan hệ với nước láng giềng hùng mạnh bằng cách đề nghị Việt Nam tiếp tục triều cống để đổi lại  có  được một nền hòa bình lâu dài. Nhờ có cái nhìn sáng suốt  của vị tướng này mà Việt Nam tìm  lại được một thời kỳ hòa bình và độc lập. Vị tướng này được người dân Việt rất hâm mộ vì họ tìm thấy ở  nơi  ông các  đức tính của một chính trị gia lỗi lạc.  Hồi ức của ông được tôn vinh hàng năm tại đền Kiếp Bắc.

Những lời khuyên mà ông dành cho vua Trần Anh Tôn trước khi ông qua đời vào năm 1300 được xem đây là những  tài liệu mà người  dân Việt tham khảo nhiều lần trong cuộc đấu tranh giành độc lập:

Khi kẻ thù tiến tới với tiếng vang ầm ĩ  như lửa và gió, thì  rất dễ dàng đánh bại nó. Nếu nó dùng tính kiên nhẫn như con tằm gặm lá dâu mà không mưu cầu thắng lợi nhanh chóng, không cướp bóc dân chúng thì chúng ta không chỉ cần tướng giỏi mà còn phải biết soạn thảo một  chiến thuật tương xứng  cũng như ở  trong ván cờ.

Trong mọi trường hợp, quân đội phải đoàn kết cùng một lòng như cha con một nhà, đối xử  dân chúng phải có tình người thì mới có thể bảo đảm được góc rễ ăn sâu  và  cơ sở mới được bền lâu.

Nguyễn Huệ (1753-1792)

Quang Trung Nguyễn Huê quê gốc ở Tây Sơn, nơi tổ tiên ông đã đến định cư để lánh nạn  chiến  tranh  giữa Trịnh-Nguyễn. Ông đã cùng với hai người anh của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ dựng cờ  khởi nghĩa ở Tây Sơn, một vùng đất gần Quy Nhơn ở phía nam Việt Nam hiện nay. Tuy ở  độ trẻ tuổi nhưng ông đã đóng vai trò lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nầy mà còn là người điều hành công việc của Ðại Việt về sau khi diệt trừ được hai nhà Nguyễn và Trịnh.

Sự  thành công đầu tiên của ông là chiến thắng mà ông dành được trong công cuộc  chống lại quân Xiêm La với tốc độ thần sầu vào năm 1785 ở phía tây sông Cửu Long (Trận Rạch Gầm Xoài Mút, Mỹ Tho).  Vua Xiêm La đã gữi sang nước ta  một đạo quân nhầm để khôi phục lại ngai vàng cho Nguyễn Ánh.

Từ một đạo quân Xiêm gồm có lúc đầu 50.000 người chỉ còn lại 2.000 binh lính. Việc này chặn đứng ngay sự bành trướng của quân Xiêm về hướng Nam Kỳ.

Ông  được nổi tiếng phần lớn là do cách ông tiến hành cuộc đại chiến chống lại quân nhà Thanh vào năm 1788. Năm đó, được liên minh với vua bù nhìn Lê Chiêu Thống, quân Tàu kéo đến kinh đô Thăng Long mà không gặp  sự kháng cự nào. Tướng Ngô Văn Sỡ của Tây Sơn ở Thăng Long đành phải rút quân về Thanh Hóa. Nguyễn Huệ quyết định tấn công quân nhà Thanh vào ngày Tết khi kỷ cương có  phần lỏng  lẻo  ở quân xâm lược. Chỉ  trong 5 ngày, ông đã chiếm lại được kinh đô Thăng Long. Tựa như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ tỏ vẻ ra khiêm tốn trước một Trung Quốc có sức mạnh vô song dù thất bại khiến ông khôi phục lại được hòa bình ở biên thùy.

Trong những năm trị vì, ông đã thành công áp đặt được chữ nôm làm chữ viết chính thức để thoát khỏi sự thống trị của nền văn hóa Trung Quốc. Mặc dù ông có ý chí cải cách đất nước, nhưng ông không có đủ thời gian để mà hoàn thành. Ông mất đi vào năm 1792, để lại một người thừa kế chỉ có 10 tuổi. Nhờ đó mà  Nguyễn Ánh, người cuối cùng còn sống sót lại của nhà Nguyễn, mới chinh phục dần dần lại đất nước và trở thành sau này là hoàng đế  Gia Long.

Đối với người dân Việt, Quang Trung không chỉ là một vị vua cải cách mà còn là một trong những nhà chiến lược nổi tiếng nhất của Việt Nam.

Người anh hùng Lê Lai

Lê Lai ông là một chiến sĩ nông dân ở vùng đất  Lam Sơn. Ông tham gia vào nhóm quân  của Lê-Lợi. Có biệt danh là người anh hùng áo vải  vì xuất thân từ gốc gác bình thường, Lê Lợi chọn Lam Sơn làm nơi tập hợp các nghĩa quân trong cuộc kháng chiến chống lại sự đô hộ của Trung Quốc vào thế kỷ 15. Chính ở trong giai đoạn chiến đấu quyết định, Lê Lợi bị quân nhà Minh bao vây ở núi Chí Linh quyết tâm bắt cho được ông để dẹp tắt cuộc  kháng chiến.

Ông ta mới  có ý tưởng tìm kiếm một người chấp nhận ngụy trang  thay thế ông và rút ​​lui theo hướng khác để đánh lừa quân nhà Minh và để  ông tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng. Trong số quân lính của  ông, có một tên lính tên là Nguyễn Thân đã đồng ý thực hiện mưu  kế này. Quả nhiên, quân nhà Minh truy đuổi Lê Lợi giả, bắt và giết hắn đi. Nhờ có Nguyễn Thân, Lê Lợi sau mười năm đấu tranh, mới  dành được  chiến thắng và thành lập lên nhà Lê trị vì được  gần một trăm năm.

Cảm phục sự hy sinh của Nguyễn Thân chết thay thế ông cho sự nghiệp cao cả của dân tộc, Lê Lợi sắc phong cho Nguyễn Thân  được mang họ Lê  và có  thụy hiệu là Lai và truyền  lệnh cho hậu thế lưu truyền lại ngày sinh nhật của Lê Lai tương ứng với tháng tám âm lịch mỗi năm. Điều này nhắc nhở giới trẻ Việt Nam phải ý thức  có được  tinh thần đoàn kết cao thượng cá nhân cho một đại chính nghĩa mà Lê Lai là một minh chứng tối cao nhất.

Version française

Sur le chemin de l’histoire du Vietnam, la liste des héros est tellement longue qu’il est difficile de les citer tous. Mais il est impensable pour un jeune vietnamien de ne pas connaître les héros tels que Lê Lai, Trần Hưng Ðạo et Quang Trung Nguyễn Huệ car ces personnages illustrent chacun un modèle exemplaire à suivre.

Lý Thường Kiệt: vainqueur des Song et des Chams

Trần Hưng Đạo: vainqueur des Mongols (ou des Yuan).

Nguyễn Trãi: vainqueur des Ming de Chou Di.

Nguyễn Huệ: vainqueur des Qing et des Siamois (Thaïs)

Des paroles inoubliables

Mieux vaut être un fantôme au Sud que devenir un prince du Nord.

Trần Bình Trọng (le général des Trần capturé et condamné à mort par les Yuan)

La vie est un jeu de hasard. La chance est contre nous. Mieux vaut mourir maintenant pour ce pays et laisser l’exemple du sacrifice.

Nguyễn Thái Học (le leader nationaliste guillotiné par les colonialistes français).


Trời đất nể nang người khí khái
Nước non tây vị kể tài tình

Le ciel et la Terre ont des égards pour les hommes de caractère
Les Monts et les Fleuves favorisent les gens de talent et de cœur.


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

(1228- 1300)

La grande destinée appartient à des gens de talent et de cœur
Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Face à une armée mongole de 500.000 guerriers de Kubilai Khan, il est difficile pour un petit pays comme le Vietnam de résister à cette invasion barbare. Malgré cela, le Vietnam arriva à défaire les armées mongoles à deux reprises en 1257 et en 1287 par des victoires éclatantes sur le fleuve Bach Ðằng grâce au talent du général Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Au regard des historiens, le Vietnam est le seul pays d’Asie et d’Europe qui arriva à contrer l’invasion mongole à cette époque. Rien n’est étonnant si on jette un coup d’œil sur l’autobiographie de ce général. Étant un proche de la famille royale des Trần, il était un personnage hors du commun.

Kubilai Khan
Fondateur de la dynastie des Yuan
Petif-fils de Gengis Khan

Il sut canaliser à cette époque, toutes les forces politiques du pays, galvaniser l’esprit d’union et l’élan de tout un peuple avec l’armée vietnamienne à travers les assemblées populaires (Hôi Nghị Diên Hồng) et être entouré des hommes talentueux parmi lesquels figurait un personnage de valeur exceptionnelle de nom Phạm Ngũ Lão. Grâce au stratagème de celui-ci, l’armée populaire vietnamienne décima entièrement l’armée mongole en plantant dans le lit de la fleuve Rouge des pieux qui brisèrent toutes ses jonques. Malgré les victoires éclatantes, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn sut qu’il était difficile de gagner la guerre face à un ennemi aussi puissant qu’était l’armée mongole.

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Le fleuve Bạch Ðằng continue à être teinté avec du sang rouge.

Conscient des réalités géographiques et des nécessités politiques, il sut éviter de couper totalement les amarres avec son puissant voisin en proposant que le Vietnam continuait à verser des tributs en échange d’une paix durable. Grâce à la clairvoyance de ce général, le Vietnam retrouva une période de paix et d’indépendance. Ce général est très adulé par les Vietnamiens car on trouve en lui toutes les qualités d’un homme politique distingué. Sa mémoire est honorée tous les ans au temple de Kiếp Bắc.

Ses conseils qu’il a donnés au roi Trần Anh Tôn avant sa mort en 1300 servent maintes fois pour la plupart des Vietnamiens dans la lutte pour l’indépendance:

Quand l’ennemi s’avance à grand fracas comme le feu et le vent, il est facile de le vaincre. Quand l’ennemi s’avance à grand fracas comme le feu et le vent, il est facile de le vaincre. S’il use de la patience comme le ver de soie qui ronge la feuille du mûrier sans chercher une victoire rapide et sans dépouiller la population, il nous faut non seulement de bons généraux mais aussi une élaboration d’une tactique adéquate comme au jeu d’échecs.
De toute façon, il faut que l’armée soit unie, n’ayant qu’un cœur comme père et fils d’une même famille, que le peuple soit traité avec humanité pour pouvoir se garantir de profondes racines et d’une base durable.

Người anh hùng của dân tộc

Nguyễn Huệ

(1753-1792)

Quang Trung Nguyễn Huệ était originaire de Tây Sơn où étaient venus s’établir ses ancêtres pour fuir les guerres entre les Trịnh et les Nguyễn. Il diriga avec ses deux frères Nguyễn Nhạc et Nguyễn Lữ l’insurrection des Tây Sơn, une région se trouvant près de Quy Nhơn dans le sud du Vietnam d’aujourd’hui. Malgré son jeune âge, c’était lui qui joua le rôle de meneur dans cette révolte mais aussi dans la gestion des affaires du Ðại Viêt après avoir éliminé les Nguyễn et les Trịnh.

Son premier succès fut la victoire qu’il sut mener avec une rapidité effarante en 1785 dans l’ouest du Mékong contre les Siamois (Bataille Rạch Gầm Xoài Mút, Mỹ tho). Ceux-ci furent envoyés par le roi siamois pour rétablir Nguyễn Ánh sur le trône. De l’armée siamoise de 50.000 hommes au départ, il ne resta que 2000 hommes. Cela permit de couper net l’expansion siamoise en direction de la Cochinchine.

Sa renommée dut en grande partie à sa manière de mener la guerre éclair contre les Qing en 1788.

Cette année là, alliés avec le roi fantoche Lê Chiêu Thống, les Chinois arrivèrent devant la capitale Thăng Long sans aucune résistance, Ngô Văn Sỡ, le chef des Tây Sơn à Thăng Long ayant préféré de retirer ses troupes à Thanh Hoá. Nguyễn Huệ décida d’attaquer les Qing le jour du Tết où la discipline s’était relâchée chez les envahisseurs. En 5 jours, il arriva à reprendre la capitale Thăng Long. Comme Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ fit preuve d’humilité face à la Chine dont la puissance était incomparable malgré sa défaite, ce qui lui restaura la paix sur la frontière. Durant ses années de règne, il imposa le nôm comme écriture officielle pour s’éloigner de la domination culturelle chinoise. Malgré sa volonté de réformer le pays, il n’eut pas assez de temps pour le faire. Il mourut en 1792, ne laissant qu’un héritier de 10 ans.

Ceci permit à Nguyễn Ánh, le dernier survivant de la dynastie des Nguyễn, de conquérir petit à petit tout le Vietnam et de devenir plus tard l’empereur Gia Long.

Quang Trung n’est pas non seulement pour la plupart des Vietnamiens un roi réformateur mais aussi l’un des stratèges vietnamiens les plus connu.

Le héros Lê Lai

Lê Lai était un soldat paysan originaire de la région de Lam Sơn. Il était engagé dans la troupe de Lê Lợi. En raison de ses modestes origines, Lê Lợi, surnommé le héros à « l’habit de cotonnade », a choisi Lam Sơn comme centre de ralliement de ses partisans dans la résistance contre la domination chinoise au XVème siècle. C’était dans une phase de lutte décisive que Lê Lợi était encerclé au mont de Chí Linh par les Chinois résolus de le capturer pour décapiter la résistance. Il eut l’idée de chercher quelqu’un qui accepterait de se déguiser sous son apparence et de battre en retraite dans une autre direction pour tromper les Ming dans leur poursuite et de lui permettre de s’échapper ainsi et de continuer la lutte de libération.

Parmi ses troupes, il y avait un soldat de nom Nguyễn Thân qui consentit à jouer ce stratagème. Comme prévu, les Chinois poursuivirent le faux Lê Lợi, le capturèrent et le tuèrent. Grâce à Nguyễn Thân, Lê Lợi, après dix années de lutte, triompha et fonda la dynastie des Lê qui allait régner près de cent ans.

Ayant admiré  le sacrifice de Nguyễn Thân de mourir à sa place pour la grande cause nationale, Lê Lợi accorda à ce dernier la faveur de porter le nom patronymique royal Lê et le nom individuel Lai et ordonna à la postérité de perpétuer l’anniversaire de Lê Lai qui correspond au huitième mois lunaire de chaque année. Cela permet de rappeler aux jeunes vietnamiens le sens sublime de solidarité de l’individu pour la grande cause dont Lê Lai est la suprême illustration.

 

Paysan (Nông dân)

paysan
English version

Version vietnamienne

Comme le Vietnam est un pays où le confucianisme influe considérablement sur la société, le paysan vietnamien est relayé toujours au second rang de l’échelle sociale par rapport à un lettré. Même dans la plupart des chansons populaires, on constate une préférence indéniable pour les lettrés. Le rêve d’avoir un mari lettré est toujours une obsession pour une jeune fille vietnamienne d’autrefois:

Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái ghiên anh đồ.

On n’a besoin ni des rizières immenses ni des mares entières
On aime seulement le pinceau et l’encre du lettré.

Pourtant, c’est grâce à son labeur et à sa sueur que le Vietnam devient actuellement le troisième exportateur du riz après les Etats-Unis et la Thaïlande. C’est aussi grâce à son sacrifice que le territoire du Vietnam s’agrandit de Lạng Sơn jusqu’à la pointe de Cà Mau.

C’est lui qui prit possession à partir du XVIème siècle, du territoire gorgé d’eau et de soleil qu’est notre Cochinchine lors de la longue marche vers le Sud. C’est encore lui qui devant une invasion doit courir prendre les armes pour défendre la patrie. C’est pourquoi on l’appelle souvent paysan soldat. C’est aussi lui qui s’est révolté le premier contre l’aristocratie et qui donne l’occasion aux frères Tây Sơn de conquérir le pouvoir en 1770 dans le centre du Vietnam. C’est aussi lui qui façonne le paysage des deux deltas, aucune parcelle cultivable ne restant inexploitée. On voit tous les jours dans les champs de ces deltas, des paysans et des paysannes penchées sous le chapeau conique, pieds et mains dans les glaises, continuant à arracher des plants de riz mis en pépinières ou à y les repiquer. Son existence est une lutte continuelle. Il aime davantage sa terre et sa précieuse céréale lui donne tant de soucis et d’ennuis. Il ne cesse pas de résister vaillamment aux intempéries de la nature: sécheresse, inondation, typhon etc.. Il a toujours pour hantise de dompter les eaux.

Travailler sur la terre, déjouer les calamités, prévenir les disettes. Cela suppose sa maîtrise parfaite en matière d’art hydraulique: construction des digues, creusement des canaux, colmatage des brèches, élévation des remparts etc.  C’est l’eau qui pétrit son épaisse identité. Il devient plus patient, plus têtu, plus laborieux et plus méthodique. Pour lui, le travail est une vertu suprême, une valeur en soi. Au Nord, le paysan est plus pauvre. Il s’habille de façon plus austère et se comporte avec plus de retenue. Même sur son visage, les pommettes sont plus saillantes, les traits sont plus marqués. Au Sud, le paysan est plus ouvert, moins réservé, plus roublard, plus frimeur et plus extraverti. Malgré cette différence, il y a un point commun entre le paysan du Nord et celui du Sud: le réalisme.

Le terre à terre l’emporte sur la sentimentalité. Son observation aigue de la réalité donne naissance à un humour souvent féroce envers d’autres classes, en particulier les bonzes, les sorciers, les charlatans, les aristocrates etc. Cet humour, on le trouve à travers les  » Ca Dao » (ou les poèmes populaires).

Thẩy địa, thầy bói, thầy đồng,
Nghe ba thầy ấy thì lông không còn.

Le géomancien, le voyant, le devin
En les écoutant, tu seras complètement dévalisé.

C’est aussi dans les chansons populaires qu’on trouve sa joie de vivre, sa simplicité, sa droiture, son économie. C’est dans ces damiers aquatiques et remplis de boue, jardinés avec minutie et économie que se révèle l’enracinement pluriséculaire du paysan lié à son labeur, ce qui fait de lui un combattant diligent et opiniâtre.

Pour le paysan vietnamien, son domaine, son terroir sont symbolisés par ce constant brassage de la terre (đất) et de l’eau (nước). C’est encore par ces mots đất nước qu’il désigne sa patrie.

Son attachement à cette terre est si profond qu’on peut dire en une seule phrase:

Son destin est celui du Viet Nam.

Galerie des photos

Version vietnamienne

Người nông dân

Vietnam là một quốc gia mà Khổng giáo có ảnh hưởng rất sâu đậm trong xã hội. Vì vậy người nông dân thường được đứng  hàng thứ hai  trong bậc thang xã hội so với sĩ phu. Bởi vậy trong các ca dao thường thấy sĩ phu được ưu đãi hiển nhiên. Bởi vậy thưở xưa chuyện mơ ước có một người chồng học thức là nổi ám ảnh đối với  nguời phụ nữ thời đó nên có câu ca dao như sau:

Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Tuy nhiên nhờ sự khó nhọc và mồ hôi của các người nông dân mà Vietnam trở thành quốc gia thứ ba xuất khẩu lúa gạo sau Mỹ Quốc và Thái Lan. Cũng nhờ sự hy sinh của họ mà đất nước Vietnam được mở rộng từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Chính nhờ họ mà mà mới chiếm hữu được từ thế kỷ 16 Nam bộ, nơi có nhiều sông nước và nắng nóng  trong cuộc Nam tiến đầy gian khổ.  Chính cũng nhờ họ bảo vệ non sông mỗi lần khi có sự xâm lăng của ngoại bang. Bởi vậy thường gọi họ là những người lính nông dân.  Cũng chính họ là những người phẫn uất đầu tiên chống lại các tầng lớp qúi tộc và tạo ra cho nhà Tây Sơn có cơ hội để cướp quyền lực vào năm 1770 ở miền trung Vietnam. Chính cũng họ là những người uốn nắng cảnh vật của hai vùng đồng bằng Vietnam. Không có vùng đất nào mà không được khai thác.  Mỗi ngày trên các cánh đồng của các đồng bằng nầy, cũng thấy lúc nào các nông dân nghiêng mình với chiếc nón lá, tay chân lắm bùn, đang trồng cấy lúa. Đời sống của họ là một cuộc đấu tranh liên tục. Họ yêu thương mảnh đất nầy. Hạt ngũ cốc qúi báu họ gieo đã bao lần mang lại cho họ biết bao nhiêu sự phiền muộn. Họ không ngần ngại hiên ngang chống lại thời tiết khắc nghiệt của thiên nhiên: hạn hán, lũ lụt, mưa bảo vân vân.

Lúc nào cũng có ở nơi họ nổi ám ảnh chinh phục được nước lũ. Sinh sống lam lũ với đất, chống lại các thiên tai, phòng bị các nạn đói kém, đó là  những chuyện họ cần biết nhất là họ cần thông thạo về ngành nghệ thuật thủy lực: xây dựng đê, đào kênh, đấp các nơi bị sạt lở đất, nâng lên thành lũy v.v… Chính nước tạo cho họ một bản sắc dày đặc. Họ trở nên kiên nhẫn, bướng bỉnh, siêng năng và tĩ mĩ hơn. Đối với họ, làm ruộng là một đức tính tối cao, một giá trị vốn có ở nơi họ. Ở miền bắc, người nông dân rất nghèo. Ăn mặc cũng có vẽ khắc khổ và cư xử có phần khiêm tốn hơn. Ngay ở trên khuôn mặt, thường thấy gò má nhô ra cùng các nét  đặc trưng có phần rõ rệt. Ở miền nam, người nông dân rất cởi mở, ít có dè dặt, ranh mãnh, khoác lác và dễ cảm xúc. Mặc dầu có sự khác biệt, họ cùng có một điểm chung đó là chủ nghĩa hiện thực.

Chính những khắc nghiệt trong cuộc sống hằng ngày chiếm phần ưu thế  hơn  tình cảm mà họ có. Sự quan sát sâu sắc của họ về hiện thực khiến nảy sinh sự hóm hỉnh không ít đối với các tầng lớp khác nhất là với các tu sĩ, pháp sư, lang băm, qúi tộc v.v… mà được nhận thấy  như trong câu ca dao nầy:

Thầy địa, thầy bói, thầy đồng
Nghe ba thầy đó thì long không còn

Chính qua các câu ca dao mộc mạc nầy mới thấy ở nơi họ có một niềm vui trong cuộc sống đơn giản cùng tính cương trực và tiết kiệm. Chính ở những các vùng đầm lầy ngập nước và bùn nầy mà được họ vun trồng một các tĩ mĩ và tiết kiệm mới thấy được từ bao nhiêu thế kỷ sự ăn sâu cội rễ của người nông dân với công việc khó nhọc khiến biến anh trở thành từ đó một người chiến binh siêng năng và kiên trì. Đối với người nông dân, đất đai sở hữu họ có thường được biểu trưng sự pha trộn liên tục đất và nước. Có thể vì thế họ thường gọi “Đất Nước” để ám chỉ xứ sở của họ. Sự gắn bó sâu sắc của họ với Đất Nước khiến chúng ta có thể khẳng định bằng một câu nói thôi:

 Định mệnh của họ là định mệnh của Việt Nam.

 

 

 

Con Rồng cháu Tiên (Version française)

English version

Lạc Long Quân- Âu Cơ

Autrefois, le Vietnam était un pays mi-sauvage, mi-cultivé, infesté de bêtes fauves qui cohabitaient avec l’homme dans des cavernes profondes de la forêt. Vivait alors un jeune homme nommé Lạc Long Quân intelligent et doté de pouvoirs extraordinaires. Dans ses veines coulait un sang mêlé du sang des Dragons du pays Bách Việt. (Bai Yue). Dans ses pérégrinations par monts et par vaux, il arriva à la région maritime du Sud Est du Lạc Việt. Voyant la population décimée par un monstre marin, il saisit un javelot qu’il rougit au feu et le lança dans la gueule du monstre. Il le tua sur le coup. Il coupa son corps en trois morceaux qu’il jeta dans les trois endroits différents. Le premier morceau fut jeté dans une montagne nommée  nommée Cẩu Đầu Sơn, le tronc du corps dans une autre montagne  Cẩu Đầu Thủy et la queue dans une île connue sous le nom de  Bạch Long Vỹ.

Le peuple Lạc Việt étant une fois en paix, le héros s’achemina vers la région de Long Biên dont les habitants étaient terrorisés par un renard devenu un monstre. Celui-ci se transformait souvent en jeune homme pour entrer dans les villages et enlever les femmes et les jeunes filles. Lạc Long Quân dut batailler trois jours et trois nuits avant d’abattre le monstre et d’entrer dans sa caverne pour libérer les survivantes. Arrivé à la région Phong Châu, il affronta le monstre des arbres tellement féroce qu’il dut recourir à son père Kinh Dương Vương pour le chasser dans le sud. Après avoir ramené la paix dans ces trois régions, il fut ému de compassion pour le peuple si malheureux et si simple. Il décida d’y rester pour le protéger et lui apprendre à cultiver le riz, à couper les arbres pour construire les maisons destinées à le protéger contre la pluie, le vent et les bêtes sauvages. Le peuple le vénérait et le considérait comme son chef. Il l’éduquait aux vertus familiales des parents et d’époux. Il était vénéré par ce peuple comme son père biologique et comme  celui qui lui engendrait la vie.

Avant de revoir sa mère au Palais des Eaux, il recommanda à son peuple, en cas de malheur, de l’appeler bien fort: Père. Et il revint aussitôt. Quelque temps après, le Seigneur des Hautes Régions du Nord, Ðế Lai, à la tête de ses troupes, envahit le Lạc Việt en emmenant avec lui sa ravissante fille du nom de Âu Cơ. Ðế Lai opprima et rançonna la population. Il obligea cette dernière à lui fournir la viande et le riz pour son armée. Dans sa détresse, le peuple appela: Père, revenez vite pour nous sauver. Lac Long Quân fut sur place, mais il ne trouva pas Ðế Lai. Seule Âu Cơ était là, en promenade au milieu de ses servantes. Ébloui par sa beauté, il emmena Âu Cơ dans son palais. Âu Cơ elle-même, charmée par le jeune homme, consentit à vivre désormais avec lui. Ðế Lai, revenu en colère, envoya ses troupes pour assiéger la ville.

Mais Lac Long Quân commanda aux bêtes sauvages de le repousser. Incapable de lutter contre un gendre aussi puissant, Ðế Lai se retira du Lạc Việt , laissant sa fille sur la terre étrangère. Après quelque temps, Âu Cơ mit au monde une grande poche d’où sortirent cents œufs  donnant  naissance à cent garçons robustes comme leur père. Quand vint le jour de séparation  et de retour auprès de sa mère, Lạc Long Quân dit à sa femme Âu Cơ: « Vous êtes de la race des fées. Je suis de celle des Dragons. Nous ne pouvons pas rester ensemble toute la vie. Vous avez besoin de vivre en altitude. J’ai besoin de vivre au bord de la mer. Vous restez ici ainsi avec cinquante enfants. J’emmène les cinquante autres dans la région maritime pour  nous y installer. Depuis, Âu Cơ restait dans les montagnes avec ses cinquante enfants. Ceux-ci devenaient ainsi les ancêtres de tous les peuples vivant de nos jours sur les hauts plateaux et dans les montagnes (ce sont les montagnards et les minorités ). Quant à Lac Long Quân, il descendit avec ses enfants dans la plaine, au bord de la mer. Il leur apprit à défricher pour y fonder un royaume. Son fils aîné devint ainsi le premier roi du Vietnam et prit le nom dynastique de Hùng Vương et appela son pays Văn Lang.

C’est pourquoi les Vietnamiens sont fiers d’être « Enfants du Dragon, Grands Enfants de l’Immortelle » (Con Rồng Cháu Tiên).

Trống Đồng Sơn (Partie 3)

Version vietnamienne

Qui sont les Dongsoniens?

C’est très important de les connaître car on sait qu’ils étaient les propriétaires de ces tambours de bronze. Sont-ils les ancêtres des Vietnamiens actuels? On sait très peu de choses sur ces gens et leur culture car les recherches entamées au début du XXème siècle par les Français, ont été interrompues pendant les longues années de guerre que le Vietnam a connues. Par contre on est certain qu’au 1er siècle de notre ère, le Dongsonien  prit fin avec l’annexion chinoise.

C’est seulement à partir de 1980 que les fouilles archéologiques furent reprises. On commença à connaître mieux leur origine, leur mode de vie ainsi que leur sphère d’influence. Grâce à la documentation archéologique enrichie d’une manière exceptionnelle ces dernières années, l’origine du Dongsonien a été assez éclairée. Cette culture prend sa source parmi les cultures pré- dongsoniennes.  (celles de Phùng Nguyên, Ðồng Dậu et Gò Mun). On n’a pas besoin d’aller si loin rechercher au Nord ou à l’Ouest l’origine de cette culture. Le Dongsonien est en fait le résultat d’une succession des étapes correspondant à ces trois cultures évoquées ci-dessus dans un développement culturel continu. L’éminent archéologue vietnamien Hà Văn Tấn a eu raison de dire avec solennité: Rechercher les origines du Dongsonien au Nord ou à l’Ouest, comme l’avaient fait jadis plusieurs chercheurs, c’est émettre une hypothèse sans fondement scientifique.

Grâce aux cartes de répartition des sites archéologiques dans le bassin du fleuve Rouge, on s’aperçoit que les cultures pré-dongsonienes de l’Âge du Bronze occupaient exactement la même région où étaient situés les sites de la culture de Phùng Nguyên. On peut dire sans hésitation que la culture de Ðồng Sơn s’étend de la province de Hoàng Liên Sơn au nord jusqu’à la province Bình Trị Thiên au Sud.

Les Dongsoniens étaient avant tout des riziculteurs avertis. Ils cultivaient le riz en brûlis et en champ inondé. Ils élevaient buffles et porcs. Mais c’est l’eau qui faisait à la fois leur richesse et leur premier souci car elle pouvait être meurtrière, sortir du fleuve Rouge pour engloutir des récoltes. Ils étaient des navigateurs hardis, si proches des fleuves et des côtes qu’ils avaient l’habitude de prendre les pirogues dans leur déplacement. Cette coutume était tellement ancrée dans leur esprit qu’ils ont construit pour leurs habitations, des maisons en bois sur pilotis à l’immense toit recourbé aux deux extrémités décorées d’oiseaux totémiques et ressemblant énormément à une pirogue.

Même dans leur trépas, ils ont conçu des cercueils en forme de pirogues. Selon Trịnh Cao Tường, un spécialiste dans l’étude des maisons communales (đình) des villages vietnamiens, l’architecture de la maison communale vietnamienne exhaussée sur pilotis témoigne de l’écho de l’esprit des Dongsoniens continuant à être présent encore dans la vie journalière des Vietnamiens.

Les Dongsoniens avaient coutume de se tatouer le corps, mastiquer une préparation à base de noix d’arec et laquer les dents en noir. Le tatouage, révélé souvent comme une pratique « barbare » dans les annales chinoises, était si l’on en croit les textes vietnamiens, destiné à protéger les hommes des attaques des dragons d’eau (con thuồng luồng).

L’habitude de chiquer le bétel est très ancienne au Vietnam. Elle existait bien avant la conquête chinoise. En évoquant le laquage des dents, on ne peut pas oublier la phrase célèbre que l’empereur Quang Trung a prononcée avant la libération de la capitale « Thăng Long » occupée par les Qing: Đánh để được giữ răng đen. Combattre les Chinois pour libérer la ville et pour garder les dents noircies. On voit bien sa volonté politique de vouloir pérenniser la culture vietnamienne, en particulier celle des Dongsoniens.

Ceux-ci portaient les cheveux longs en chignon et soutenus par un turban. D’après certains textes vietnamiens, ils avaient des cheveux courts pour faciliter leur marche dans les forêts des montagnes. Leurs vêtements étaient confectionnés avec les fibres végétales. Lors des fouilles récentes de la nécropole de Làng Cả (Việt Trì) en 1977 et en 1978,  on s’aperçoit que les différences de fortune étaient prononcées chez les Dongsoniens dans l’analyse du mobilier funéraire. L’opulence est visible dans certaines tombes individuelles. La société commence à se structurer de manière à faire apparaitre l’écart entre les riches et les pauvres à travers le mobilier funéraire. Il n’y a plus de doute sur l’hiérarchisation de plus en plus poussée dans la société des Dongsoniens. On la trouve également dans leur hiérarchie militaire: le port d’armures métalliques était réservé aux grands chefs militaires. Les chefs de moindre importance devaient se contenter de cuirasses de cuir ou de cottes d’armes en écorce d’arbre, pareilles à celles des Dayak à Bornéo en Indonésie.

Lors des fouilles archéologiques récentes, les archéologues vietnamiens sont confrontés au mode d’inhumation pratiqué par les Dongsoniens. Ceux-ci usaient de divers modes de sépultures: inhumations dans les fosses (mộ huyện đất) avec le décédé en position allongée ou accroupie (Thiệu Dương), sépultures en cercueils-pirogues (mộ thuyền) (Việt Khê, Châu Can, Châu Sơn), sépultures en jarres de bronze ou tambour retourné (mộ vò)( Đào Thịnh, Vạn Thắng) .

On a trouvé seulement le mode de sépulture en cercueil-barque dans certaines régions du Nord Vietnam (Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam Ninh et Hà Sơn Bình). L’aire est très limitée si on la compare à la zone d’influence de la culture de Đồng Sơn. Par contre, dans les sites dongsoniens célèbres comme Làng Cả (Vĩnh Phú), Đồng Sơn, Thịệu Dương (Thanh Hoá), Làng Vạc (Nghệ Tĩnh), aucun mode d’inhumation en cercueil-pirogue n’a été signalé. Certains archéologues vietnamiens comme Hà Văn Tấn pensent que les cercueils avaient la possibilité de se conserver car ils se trouvaient dans une zone de marais. Ce n’est le cas des autres cercueils car ils étaient situés dans des endroits défavorables où l’eau pouvait tout effacer au fil du temps.

Selon l’archéologue vietnamien Hà Văn Tấn, la zone de marais pouvait être à l’époque dongsonienne, une région marécageuse dont les gens avaient une condition de vie semblable à celle des gens ayant l’habitude de tremper leur peau et leur squelette dans l’eau durant leur existence et dans leur décès. (Sống ngâm da, chết ngâm xương). Rien n’est étonnant de trouver en ces gens leur mode de pensée et leur façon d’enterrer les morts dans les cercueils en forme de pirogues car pour eux, de la naissance jusqu’à la mort, le moyen de transport reste toujours la pirogue.

D’autres archéologues se posent des questions sur la disparition de cette coutume chez les Vietnamiens. Pourquoi ce mode de sépulture continue-t-il à être pratiqué par les Mường, cousins proches des Vietnamiens d’aujourd’hui? Pourtant ils ont les mêmes ancêtres. L’explication qu’on peut donner est la suivante: la diversité des inhumations montre bien le caractère « disparate » chez les Dongsoniens. Considérés comme des Indonésiens (ou Austroasiens (Nam Á en vietnamien)), ils sont en fait des populations de même culture mais ils demeurent physiquement hétérogènes. Pour les chercheurs russes Levin et Cheboksarov, les Indonésiens seraient un mélange d’Australoïdes et de Mongoloïdes.  Ils étaient issus de la fusion des Luo Yue (Lac Việt), (des éléments Australo-Mélanésoïdes, anciens habitants de l’Indochine orientale qui restaient encore sur le continent) et des éléments mongoloïdes venant probablement par le fleuve Bleu des confins du Tibet et du Yunnan à l’époque des Printemps et Automnes (Xuân Thu). Il n’apparaît pas que la diversité physique soit accompagnée d’une diversité culturelle.

A chaque époque, le même outillage et les mêmes coutumes semblent communs à tous. S’il y a une différence dans le mode d’inhumation, tout cela peut s’expliquer par le manque de moyens et la sinisation forcée chez les Vietnamiens. Ce n’est pas le cas des Mường, qui, réfugiés dans les coins les plus reculés des montagnes, peuvent pérenniser cette coutume sans aucune difficulté. Selon l’archéologue Hà Văn Tấn, il est possible de se retrouver dans cette hypothèse illustrée par l’exemple du mode d’inhumation qui s’effectue aujourd’hui d’une manière différente chez les Vietnamiens du Sud (issus d’un mélange des Vietnamiens, des Chinois, des Chams et des Khmers) et ceux du Nord bien qu’ils soient issus du même peuple et de la même culture.

C’est sous des traits pittoresques qu’on commence à connaître mieux les Dongsoniens lors des fouilles archéologiques. Il n’y a plus de doute sur leur origine. Ils appartenaient aux Cent Yue ou Bai Yue car on retrouve en eux tout ce qui a trait aux Bai Yue: tatouage, laquage des dents, chique du bétel, adoration des animaux totems, maisons sur pilotis, utilisation des tambours etc … parmi les 25 éléments caractéristiques trouvés chez les Yue et cités par le sinologue britannique Joseph Needham. Ils étaient désignés dans les annales chinoises par différents noms génériques: Man Di à l’époque des Printemps-Automnes, Cent Yue (ou Bai Yue) à l’époque des Royaumes Combattants (Tam Quôc), Kiao Tche (ou Giao Chi en vietnamien) à l’époque de la domination des Han (ou Chinois).

Selon l’érudit vietnamien Đào Duy Anh, le nom de Kiao Tche (Giao Chỉ) donné aux peuples de Yue dans le nord du Vietnam désigne originellement les territoires occupés par les Yue adorant le kiao long (giao long) (crocodile-dragon), kiao  et tche signifiant respectivement dragon et  territoire. Cette hypothèse a été reprise et soutenue par les archéologues vietnamiens Hà Văn Tấn et Trần Quốc Vượng. Ce crocodile-dragon, animal totémique des Dongsoniens est retrouvé dans le mobilier funéraire: les haches, les lances, les plaques d’armure et les vases thạp (Đào Thịnh par exemple). C’est de ce mélange multiple de Dongsoniens avec d’autres groupes ethniques de Si Ngeou (Tây Âu), ancêtres des Tày, Nùng, Choang et proches parents des Thai dans les régions montagneuses de Kouang Si (Quảng Tây) et du Nord Vietnam au début de l’âge du fer (IIIème siècle A.C., époque Âu Lạc) que sont issus des Vietnamiens d’aujourd’hui.

Le territoire des Cent Yue est tellement vaste qu’il est formé par un triangle renversé avec le fleuve Yang Tse (Dương Tữ Giang) pour base, le Tonkin (Nord Viet Nam) pour sommet, les régions des Tcho-Kiang (Chiết Giang), Fou Kien ( Phúc Kiến) et Kouang-Tong (Quãng Đông) pour son côté oriental et les régions des Sseu-tchouan (Tứ Xuyên), Yunnan (Vân Nam), Kouang Si (Quảng Tây) pour son côté occidental. (Paul Pozner). Beaucoup de chefferies y étaient crées et il n’y avait pas de frontière pour la diffusion et la circulation de leurs traditions, en particulier la fabrication et l’utilisation du tambour de bronze. C’est pourquoi il est possible que les tambours de bronze ont été fabriqués à la même époque dans les centres distincts des territoires des Yue (Vietnam, Yunnan, Kouangsi) selon les techniques de fonte différentes (cire perdue au Vietnam, sections de moule au Yunnan) et selon la disponibilité des ressources minières locales.

Dans les analyses des bronzes de Ðồng Sơn, on s’aperçoit que le pourcentage du plomb est plus important que celui de l’étain, ce qui constitue un fait exceptionnel dans la technologie du bronze dongsonien. Mais il est surprenant de retrouver à peu près la même teneur de plomb et d’étain dans l’analyse du bronze du tambour Kur en Indonésie. Il est impossible pour les Indonésiens de cette époque de savoir faire l’analyse chimique de ce tambour pour connaître la teneur de chaque métal. Ils devaient faire l’apprentissage auprès des Dongsoniens d’une manière directe ou indirecte. Cela conforte beaucoup l’hypothèse de la diffusion de la métallurgie du bassin du fleuve Rouge à partir du Vietnam à moins que les métallurgistes dongsoniens fussent présents sur leur territoire à cette époque.

tigre_dongson

Le tigre attrape sa proie.

C’est ce qu’on a vu sur le couvercle de la sépulture

en jarre de bronze Vạn Thắng.

 

De plus, les Dongsoniens savaient rechercher un alliage adéquat pour chaque type d’objets fabriqués. C’est le cas des armes trouvés dans les sites funéraires des Dongsoniens où la teneur du plomb est moindre et celle d’étain assez importante, ce qui leur confère un degré de dureté assez remarquable. De plus, les pourcentages des métaux entrés dans la composition chimique des bronzes de Jinning (Yunnan) sont sensiblement les mêmes que ceux des bronzes de la Chine antique. (Nguyễn Phước Long: 107).Ce n’est pas le cas des bronzes dongsoniens.

Ceux-ci  étaient les produits locaux et originaux et ils appartenaient à la civilisation du fleuve Rouge. En vivant en bordure de la mer de l’Est ou mer de Chine (Biển Ðông), les Dongsoniens se trouvaient à proximité de grandes voies commerciales, ce qui a permis une large diffusion de leur culture et de leur tambour de bronze. C’est loin de 2km de la côte vietnamienne dans la région de Vũng Áng (Hà Tĩnh) qu’un pêcheur vietnamien pêcha par harsard en 2009 dans son filet deux objets dans la mer de l’Est, une hache en bronze et une pointe de lance datant de l’époque de Ðồng Sơn.

Cela prouve que les Dongsoniens ont utilisé la voie maritime pour établir un réseau d’échanges avec tous les états bordant la Mer de Chine méridionale (en partant du nord, dans le sens des aiguilles d’une montre). A Zhejiang (Triết Giang), lors d’une fouille archéologique à Thựơng Mã Sơn (An Cát, Hồ Châu ou Huzhou Shi), les archéologues chinois ont trouvé un objet qui n’était pas propre à cette région et qui appartenait sans aucun doute à la civilisation dongsonienne. C’est un tambour de bronze semblable à celui trouvé à Lãng Ngâm dans la province Bắc Ninh au Nord Vietnam. (Trịnh Sinh 1997). Puis à Canton, dans la tombe du roi Zhao Mei (Triệu Muội) identifié comme le second souverain de Nan Yue et connu sous le nom de Nam Việt Vương en vietnamien, on a découvert des situles cylindriques à décor géométrique (thạp) trouvées fréquemment dans les sites dongsoniens du Vietnam. Enfin on découvre aussi, le long de la côte vietnamienne (Champa, Chenla), dans les territoires où la culture de Sa Huỳnh fut présente à cette époque, des tambours de bronze, des dagues, des haches dongsoniennes dans les sépultures en jarre de bronze. (mộ vò).

Plus loin encore, dans l’île (Hòn rái) de la province Kiên Giang, proche de l’île Phú Quốc, dans le golfe de Siam, fut découvert en 1984 lors de l’exhumation des corps, un tambour de bronze dongsonien dans lequel on découvre les haches, les pointes de lance  ainsi que les os humains. On n’oublie pas non plus les tambours de bronze trouvés en Thaïlande et caractérisés par les 3 éléments cuivre, plomb et étain dans lesquels la teneur du plomb est allée jusqu’à 20% (U. Gueler 1944) témoignant de l’une des caractéristiques des bronzes dongsoniens (Trinh Sinh :1989: 43-50). La civilisation de Ðồng Sơn s’est développée dans un cadre très ouvert. Au Nord du Vietnam, la circulation d’informations et d’objets est facilitée par le fleuve Rouge prenant sa source dans le Yunnan et considéré comme la Route de soie fluviale entre le royaume de Dian et celui des Dongsoniens. Ceux-ci, avantagés par l’abondance des gisements de minerais sur leur territoire et par la proximité des côtes de la mer de l’Est, réussirent à développer un spectaculaire art de bronze et à imposer un style très original et particulier à travers leurs tambours de bronze, leurs situles et leurs magnifiques objets, ce qui peut expliquer probablement leur rôle de leadership dans la maîtrise de la fonte à la cire perdue et faciliter les échanges non seulement dans les territoires des Yue mais aussi dans des territoires aussi éloignés.

Pour les Dongsoniens comme pour les Yue , le tambour de bronze était non seulement un héritage cultuel commun qu’ils étaient censés de garder avec soin mais aussi un emblème de pouvoir et de ralliement au delà de leur village et de leur communauté ethnique. Le tambour de bronze qui se portait garant des rites agraires et de la cohésion sociale, était fabriqué par les métallurgistes locaux talentueux dans le seul but de perpétuer leur tradition ancestrale sans penser à aucun moment que leur œuvre artistique pourrait devenir un objet de dispute entre les deux peuples vietnamien et chinois, l’un étant considéré comme l’héritier légitime des Cent Yue et censé de faire revivre la civilisation de ses ancêtres, celle des Bai Yue et l’autre, conquérant des territoires des Bai Yue et supposé de redonner aux descendants des Yue leur place qu’ils méritent dans la Chine d’aujourd’hui. On ne peut pas rester insensible à l’hypothèse défendue par le sinologue Charles Higham dans son ouvrage intitulé « The Bronze age of Southeast Asia« :

Le fait de rechercher les origines et les changements qui interviennent dans la seconde moitié du 1er millénaire avant notre ère dans la région conduit à l’oubli d’un point important. Ces changements prenant place dans ce que sont devenus aujourd’hui le sud de la Chine et le bassin du delta du fleuve Rouge ont été accomplis par les groupes qui échangeaient leurs idées et leurs biens en réponse à une forte pression venue du nord , de la part d’états puissants et expansionnistes (Chu (Sỡ), les Qin ( Tần) et les Han ( Hán) réussissant à les écraser finalement.

Au point de vue historique et culturel, tous ceux qui sont issus des Yue ont le droit de revendiquer cet héritage. Mais au point de vue logique, il n’y a que les Luo Yue (ou les Dongsoniens) des Baiyue qui ont réussi à former une nation et à avoir un pays autonome et indépendant (Vietnam). Ce n’est le cas des autres Yue qui étaient tous sinisés au fil des siècles lors de l’expansion impériale entamée par les Qin et les Han. Personne n’a le droit de contester le caractère Yue chez les Vietnamiens actuels. C’est aussi la remarque qu’a laissée l’ethnologue français Georges Condominas: Évoquer les Yue, c’est remonter aux sources de la vietnamité. (G. Condominas). Il est évident que la paternité des tambours de bronze revient aux Vietnamiens d’autant plus que ces instruments sacrés pourraient porter un message que leurs ancêtres (Dongsoniens) leur ont laissé. On connait bien l’inscription gravée sur la colonne de bronze du général Ma Yuan: Que cette colonne tombe et Giao Chỉ disparaitra (Ðồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt). Où est-elle cette colonne de bronze lorsqu’on sait que le Giao Chi (le Vietnam) continue à exister encore aujourd’hui. En observant de près un tambour de bronze, on s’aperçoit qu’il ressemble à un tronc d’arbre coupé. Son tympan portant plusieurs cercles concentriques est analogue à la coupe transversale du tronc avec des cernes qui s’ajoutent au fil des siècles.

Le tambour de bronze évoque-t-il la colonne de bronze de Ma Yuan? Certains scientifiques pensent que le tambour de bronze est « l’arbre de vie ». C’est le cas du scientifique russe N.J. Nikulin de l’institut de culture de Moscou. En s’appuyant sur les découvertes et les suggestions des chercheurs vietnamiens (comme Lê Văn Lan) sur l’idée d’une « totalité « que représente le tambour de bronze à travers ses figurations, il arrive à la conclusion suivante: Le tambour de bronze est une représentation de l’univers: le tympan (ou le plateau), symbole du monde céleste et terrestre (thiên giới, trần giới), le tronc celui du monde marin (thủy quốc) et la base celui du monde souterrain (âm phủ). Selon lui, il y a une relation intime entre le tambour de bronze et le récit mythique des Mường, cousins proches des Vietnamiens actuels.

Dans la conception de la création de l’univers des Mường, l’arbre de vie symbolise la notion d’ordre universel contraire à l’état chaotique trouvé au moment de la création du monde. Le culte de l’arbre est une coutume très ancienne des Vietnamiens. L’aréquier trouvé dans la chique de bétel (chuyện trầu cau) témoigne de ce culte. Selon l’historien et archéologue Bernet Kempers, le tambour de bronze illustre une vision fondamentalement moniste (Oneness) du cosmos.

C’est ce tambour de bronze que les Han voulaient détruire pour sceller le sort des Dongsoniens car il était l’arbre de vie symbolisant à la fois leur force et leur conception de vie. Heureusement au fil des siècles, le tambour de bronze ne disparaît pas mais grâce aux pioches et aux pelles des archéologues français et vietnamiens, il est réapparu splendide et rayonnant pour permettre aux descendants des Dongsoniens de retrouver leur vraie histoire, leur origine sans être des barbares cuits.

Étant un instrument sacré, le tambour de bronze est plus que jamais impliqué dans la restitution et le témoignage de l’identité du peuple vietnamien qui a failli d’être gommée maintes et maintes fois par l’empire du Milieu au fil de son histoire.

 

Người Đồng Sơn

Rất quan trọng biết đến người Đồng Sơn vì họ là chủ nhân của các trống đồng ở Việt Nam.  Họ có phải là tiền nhân của nguời dân Việt hiện nay không? Chúng ta rất ít hiểu biết về họ và văn hóa vì chiến tranh Việt Nam trong nhiều năm qua khiến các cuộc khảo cứu bởi người Pháp vào đầu thế  kỷ 20 phải đều tạm ngưng. Tuy nhiên chúng ta biết được một cách chắc chắn rằng ở đầu thế kỷ của Công Nguyên thì văn hóa Đồng Sơn bị kết thúc với sự thôn tính của người Trung Hoa ở Việt Nam.  Mãi đến năm 1980 các cuộc khai quật khảo cổ học đuợc hoạt động trở lại. Chúng ta bắt đầu  mới biết nhiều hơn về nguồn gốc, cách sống  và phạm vi ảnh hưởng của họ. Nhờ các tài liệu khảo cổ học được phong phú  một cách đặc biệt trong những năm gần đây, nguồn gốc của người Đồng Sơn  đã được sáng tỏ. Văn hóa này có nguồn gốc từ các nền văn hóa có trước Đồng Sơn thường gọi là Tiền Đồng Sơn (văn hóa Phùng Nguyên, Ðồng Dậu và Gạc Mun). Chúng ta không cần phải đi quá xa để tìm ra nguồn gốc của nền văn hóa này ở miền Bắc hoặc miền Tây.

Trên thực tế, văn hóa Đồng Sơn là kết quả của sự nối tiếp các giai đoạn tương ứng với ba nền văn hóa được đề cập ở trên trong một sự phát triển văn hóa liên tục. Nhà khảo cổ học người Việt nổi tiếng Hà Văn Tấn đã nói đúng với sự trân trọng như sau: Tìm kiếm nguồn gốc của người Đồng Sơn ở phương Bắc hoặc phương Tây, như một số nhà nghiên cứu đã làm trong quá khứ, đó là việc phát biểu một giả thuyết mà không có cơ sở khoa học.Nhờ các bản đồ phân phối của các địa điểm khảo cổ trong lưu vực sông Hồng, chúng ta có thể thấy rằng các nền văn hóa tiền-Đồng Sơn ở thời đại đồ đồng  đều ở cùng một khu vực với các địa điểm của văn hóa Phùng Nguyên. Chúng ta có thể nói không ngần ngại rằng văn hóa  Đồng Sơn lan rộng từ tỉnh Hoàng Liên Sơn ở phía bắc đến tỉnh Bình Trị Thiên ở phía Nam.

Người Đồng Sơn  chủ yếu là những người nông dân sành sỏi. Họ thường  đốt rừng làm nương rẫy và trồng lúa trên những cánh đồng ngập nước. Họ nuôi trâu và lợn. Nhưng chính nhờ nước khiến họ trở nên giàu có và cũng nó là mối quan tâm đầu tiên cho họ bởi vì nó có thể gây chết người và xuất phát từ sông Hồng để hủy phá tất cả mùa màng. Họ là những thủy thủ thông thạo, thường sống ở gần các con sông và bờ biển nên họ thường dùng thuyền bè khi di chuyển. Phong tục này đã ăn sâu vào tâm trí của họ đến nỗi họ xây dựng những ngôi nhà sàn bằng gỗ với mái cong khổng lồ ở hai đầu được trang trí với những con chim vật tổ và xem trông  giống như một chiếc thuyền cho ngôi nhà của họ. Ngay cả trong cái chết của họ, họ đã thiết kế những chiếc quan tài theo dạng chiếc xuồng. Theo Trịnh Cao Tường, một chuyên gia nghiên cứu về các ngôi đình ở làng Việt, kiến ​​trúc của đình làng Việt Nam được xây dựng trên sàn nhà  biểu thị  tiếng vọng tinh thần của người Đồng Sơn.  Nó vẫn tiếp tục sự hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt.  

Người Đồng Sơn thường xăm hình trên cơ thể của họ,  thường nhai trong miệng một chế phẩm làm từ hạt cau và nhuộm răng đen. Việc xăm hình thường được xem như là một hành vi « man rợ » trong biên  sử  ghi chép Trung Hoa, nhưng theo  các văn bản tiếng Việt, nhằm bảo vệ  các người đàn ông với những cuộc tấn công của con thuồng luồng. Thói quen nhai trầu đã có lâu đời ở Việt Nam. Nó  còn tồn tại trước cuộc chinh phạt của Trung Hoa. Khi nhắc đến thói nhuộm răng, người ta không thể quên câu nói nổi tiếng mà người anh hùng Quang Trung đã nói trước khi giải phóng thủ đô Thăng Long bị chiếm giữ bởi quân Thanh: Đánh để giữ được răng đen. Chúng ta có thể thấy rõ ý chí chính trị của  vua Quang Trung muốn duy trì nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt là của người Đồng Sơn.Họ hay để tóc dài qua búi tóc và được hỗ trợ bởi một chiếc khăn xếp. Theo một số văn bản tiếng Việt, họ có mái tóc ngắn để thuận tiện cho việc đi lại trong rừng núi. Quần áo của họ được làm bằng sợi thực vật. Trong các cuộc khai quật nghĩa địa ở làng Việt Trì gần đây vào năm 1977 và 1978, chúng ta thấy rằng có sự khác biệt giữa những người Đồng Sơn trong việc phân tích các đồ nội thất tang lễ. Sự phồn vinh được  thấy trong một số ngôi mộ cá nhân. Không còn sự nghi ngờ gì về hệ thống phân cấp rõ rệt trong xã hội của người Đồng Sơn. Nó còn được tìm thấy trong hệ thống cấp bậc quân sự qua  các áo giáp kim loại được dành cho các thủ lĩnh. Các tướng cấp dưới  thì có những chiếc áo  giáp bằng da hoặc áo khoác làm với  vỏ cây, giống như những người Dayak ở đảo Borneo, Nam Dương.

Trong các cuộc khai quật khảo cổ gần đây, các nhà khảo cổ học Việt Nam phải đối mặt với phương pháp mai táng được thực hiện bởi người Đồng Sơn. Những người này đã sử dụng nhiều phương thức chôn cất khác nhau: chôn cất trong các hố (mô huyện đất) với người quá cố trong tư thế nằm hoặc ngồi xổm (Thiệu Dương), chôn cất trong quan tài mộ thuyền (Việt Khê, Châu Can, Châu Sơn ), chôn cất trong các hũ bằng đồng hoặc mộ vò (Đào Thịnh, Vạn Thắng). Chúng ta chỉ tìm thấy thể thức chôn cất qua các chiếc thuyền quan tài ở một số vùng miền Bắc Việt Nam (Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam Ninh và Hà Sơn Bình). Khu vực này rất giới hạn khi so sánh với khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Đồng Sơn. Mặt khác, ở các địa điểm nổi tiếng của văn hóa Đồng Sơn  như làng Cả (Vĩnh Phú), Đồng Sơn, Thịêu Dương (Thanh Hóa), ​​Làng Vạc (Nghệ Tĩnh), không có thể thức chôn cất nào được báo cáo trong một chiếc thuyền quan tài cả. Một số nhà khảo cổ học người Việt như Hà Văn Tấn nghĩ rằng những chiếc quan tài có khả năng được bảo tồn vì chúng nằm ở trong một khu vực đầm lầy. Đây không phải là trường hợp của các quan tài khác bởi vì chúng được đặt ở những nơi không thuận lợi, nơi nước có thể xóa mọi thứ theo thời gian.  Theo nhà khảo cổ học người Việt, Hà Văn Tấn, khu vực đầm lầy có thể có từ thời Đồng Sơn, một vùng đầm lầy mà con người có điều kiện sống tương tự như người  quen thường ngâm da và bộ xương cốt  trong nước suốt thời gian sống và chết của họ. (Sống ngâm da, chết ngâm xương). Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy ở những người này có cách suy nghĩ và lối  chôn cất người chết trong quan tài dưới dạng thuyền bè bởi vì đối với họ, từ khi sinh ra cho đến khi chết, phương tiện giao thông của họ luôn là thuyền bè. (14).

Các nhà khảo cổ khác đang tự hỏi về sự biến mất của phong tục này ở người Việt Nam. Tại sao phương pháp chôn cất này vẫn tiếp tục được thực hiện bởi người Mường, anh em họ hàng gần gũi của người Việt Nam ngày nay? Tuy nhiên, họ có cùng một tổ tiên. Lời giải thích có thể được đưa ra như sau: sự đa dạng của  việc chôn cất cho thấy rõ tính cách « khác biệt » giữa những người Đồng Sơn. Được xem là người Nam Á, họ là những người có chung một nền văn hóa nhưng họ vẫn không đồng nhất về thể chất. (15). Theo các nhà nghiên cứu Nga LevinCheboksarov, người Nam Á  ra đời từ sự hỗn hợp của  các người  Australoides và Mongoloides. Họ đến từ sự hợp nhất của người Lạc Việt, (các phần tử Australo- Melanesoides,  các cư dân cũ của miền đông Đông Dương vẫn còn ở trên lục địa) và các phần tử Mongoloides có lẽ đến từ sông Dương Tử và từ biên giới Tây Tạng và  Vân Nam vào thời đại Xuân Thu. Không có vẻ là sự đa dạng về thể chất phải đi kèm với sự đa dạng về văn hóa.

Ở mỗi thời đại, tất cả mọi người dường như có chung một công cụ và một phong tục. Nếu có sự khác biệt trong phương thức chôn cất, tất cả điều này có thể được giải thích bằng việc thiếu phương tiện và  việc hán hóa người Việt Nam. Đây không phải là trường hợp của người dân Mường. Các  người nầy nhờ ẩn náu ở những nơi hẻo lánh của các ngọn núi, có thể duy trì phong tục này mà không gặp khó khăn gì cả. Theo nhà khảo cổ học Việt Hà Văn Tấn, có thể thấy trong giả thuyết này phương thức chôn cất được thực hiện ngày nay  một cách khác nhau giữa người Việt ở miền Nam (từ sự hỗn hợp  giữa người Việt Nam, Trung Hoa, Chăm và Khờ Me) và những người Việt ở miền Bắc mặc dù họ đến từ cùng một dân tộc và cùng một nền văn hóa.Thông qua các đặc điểm cá biệt, chúng ta mới bắt đầu biết đến người Đồng  Sơn  nhiều hơn qua các cuộc khai quật khảo cổ. Không còn một nghi ngờ nào về nguồn gốc của họ. Họ thuộc về đại tộc Bách Việt bởi vì chúng ta tìm thấy ở nơi họ mọi thứ liên quan đến Bách Việt: xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu, thờ phượng các con vật tổ, nhà sàn, sử dụng trống đồng  vân vân … trong số 25 yếu tố đặc điểm được tìm thấy ở người Yue (hay Việt) và được trích dẫn bởi nhà Hán học người Anh Joseph Needham. Họ được chỉ định trong biên sử ghi chép Trung Hoa  dưới các tên khác nhau: Man Di vào thời đại Xuân Thu, Bách Việt (hoặc Bai Yue) vào thời đại Tam Quốc, Giao Chỉ vào thời nhà Hán. Theo nhà học giả Việt Nam Đào Duy Anh, tên Giao Chỉ (kiao tche)(kiao=giao tche=vùng) dùng  để ám chỉ các dân tộc Việt (Yue)  ở phía bắc Việt Nam, được chỉ định từ đầu  là vùng  sinh sống của  người Việt (hay Yue)  sùng kính con giao long. Giả thuyết này đã được đưa lên và  được bảo vệ bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam Hà Văn TấnTrần Quốc Vượng.

Con cá sấu rồng này chính là một con vật tổ của người  Đồng Sơn và được tìm thấy trong  các đồ nội thất tang lễ như rìu, giáo, tấm áo giáp và thạp đồng (ĐàoThịnh chẳng hạn). Đó cũng từ sự pha trộn giữa người Đồng Sơn cùng  các nhóm dân tộc khác của Tây Âu, tổ tiên của người Tày, Nùng, Choang và họ hàng gần của người Thái ở vùng núi Quảng Tây và Bắc Việt vào đầu thời đại đồ sắt (thế kỷ thứ 3, thời đại Âu Lạc) mà mới đưa đến sự  thành hình ra người Việt cổ, tổ tiên của người dân Việt ngày nay.Lãnh thổ của đại tộc Bách Việt  rất rộng lớn đến nỗi được  tạo thành một hình tam giác đảo ngược được giới hạn bởi sông  Dương Tữ Giang, Bắc Kỳ (miền bắc Việt Nam), các vùng đất như Phúc Kiến, Quãng Đông, Tứ Xuyên và Vân Nam qua sự nhận xét của nhà nghiên cứu người Nga Paul Vladimir Pozner. Nhiều tiểu quốc  đã được thành lập ở thời đó và không có biên giới rõ ràng để phổ biến và lưu hành các truyền thống, đặc biệt  nhất là  việc sản xuất và sử dụng trống đồng. Đây là lý do chính tại sao các trống đồng có  thể  được sản xuất cùng lúc tại các trung tâm riêng biệt ở  trên toàn lãnh thổ  Bách  Việt (Việt Nam, Vân Nam, Quãng Tây) theo các kỹ thuật nấu chảy khác nhau (kỹ thuật dùng sáp nóng chảy ở Việt Nam, kỹ thuật đúc khuôn ở Vân Nam) và theo tài nguyên khoáng sản có sẳn ở địa phương.

Qua các phân tích ở các trống Đồng Sơn, chúng ta mới thấy rằng tỷ lệ chì quan trọng hơn thiếc, đó là một thực tế đặc biệt trong kỹ thuật đồng. (20). Nhưng còn đáng ngạc nhiên thêm nửa khi tìm thấy gần như có cùng hàm lượng chì và thiếc trong việc  phân tích đồng của trống Kur ở Nam Dương. Người Nam Dương lúc đó không thể biết cách phân tích hóa học chiếc trống này để biết lượng chứa của từng kim loại. Họ đã phải học hỏi từ người Đồng Sơn trực hay gián tiếp. Điều này củng cố mạnh mẽ  thêm giả thuyết về ngành luyện kim ở lưu vực sông Hồng từ Việt Nam trừ khi các người  luyện kim Đồng Sơn có mặt ở trên lãnh thổ của họ. Ngoài ra, người Đồng Sơn biết cách tìm kiếm một loại hợp kim thích đáng cho từng loại đồ sản xuất. Đây là trường hợp mà các vũ khí được tìm thấy trong các khu vực tang lễ của người Đồng Sơn, nơi mà hàm lượng chì thấp hơn và thiếc khá quan trọng khiến mang lại độ cứng khá đáng chú ý. Ngoài ra, tỷ lệ phần trăm của kim loại được sử dụng trong thành phần hóa học của các đồng tiền Jinning (Vân Nam) gần giống như các  đồ đồng của Trung Quốc cổ đại. (Nguyễn Phước Long: 107).

Đây không phải là trường hợp với các đồ đồng Đồng Sơn. Các đồ  đồng nầy  là những sản phẩm địa phương và nguyên bản và  thuộc về nền văn minh sông Hồng. Sống ở bờ Biển Đông, người Đồng Sơn cũng gần các tuyến đường thương mại lớn nên văn hóa và trống đồng của họ được lan rộng. Cách bờ biển Việt Nam ở khu vực Vũng Áng (Hà Tĩnh) 2 cây số, một ngư dân Việt Nam chài được vô  tình trong lưới hai vật thể ở biển Đông vào năm 2009, một chiếc rìu bằng đồng và một mũi giáo có từ thời Đồng Sơn. Điều này chứng tỏ rằng người Đồng Sơn đã sử dụng đường biển để thiết lập một mạng lưới thương mại với tất cả các quốc gia giáp Biển Đông (bắt đầu từ phía bắc, theo chiều kim đồng hồ). Tại Chiết Giang (Zhejiang), trong một cuộc khai quật khảo cổ ở Thượng Mã Sơn (An Cát, Hồ Châu hoặc Huzhou Shi), các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã tìm thấy một vật thể không phải đặc trưng cho vùng này và chắc chắn thuộc về nền văn minh Đồng Sơn. Đây là một cái trống bằng đồng tương tự như cái trống đồng được tìm thấy ở Lãng Ngâm tỉnh Bắc Ninh miền Bắc Việt Nam. (Trịnh Sinh 1997). Sau đó tại Quảng Châu (Canton), trong lăng mộ của vua Triệu Muội (Zhao Mei) được xác định là vua thứ hai của nước Nam Việt và cháu nội của Triệu Đà, người ta khám phá các  thạp  đồng hình trụ có trang trí hình học  được thường trông thấy ở  các địa điểm Đồng Sơn.

Cuối cùng dọc theo bờ biển Việt Nam (Chămpa, Chân Lạp), tại các vùng lãnh thổ mà văn hóa Sa Huỳnh có mặt tại thời điểm đó, các trống đồng, dao găm, rìu  được chôn cất trong mộ vò. Xa hơn nửa, trên hòn Rái của tỉnh Kiên Giang, gần đảo Phú Quốc, thuộc vịnh Xiêm La, được phát hiện vào năm 1984 trong quá trình khai quật các thi thể, một chiếc trống Đồng Sơn mà trong đó có  các rìu, các  mũi giáo với xương người. Chúng ta cũng không quên nhắc đến  trống đồng được tìm thấy ở Thái Lan. Nó được đặc trưng bởi 3 nguyên tố đồng, chì và thiếc, mà hàm lượng chì đã lên tới 20% (U. Gueler 1944) và biểu lộ  một trong những đặc điểm của đồng  Đồng Sơn (Trinh Sinh: 1989: 43-50). Nền văn minh Ðồng Sơn được phát triển trong một khuôn khổ rất cởi mở. Ở miền bắc Việt Nam, sự lưu hành thông tin và đồ vật được dễ dàng nhờ có sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam và được xem coi như là con đường tơ lụa giữa Điền quốc và người Đồng Sơn.  Những người nầy được ưu đãi bởi sự phong phú của các mỏ khoáng sản nằm trên lãnh thổ của họ và sống gần bờ biển Đông khiến họ thành công trong việc phát triển một nghệ thuật bằng đồng ngoạn mục và áp đặt một phong cách rất độc đáo và đặc biệt thông qua các trống đồng, các thạp và các đồ vật tuyệt vời của họ. Có thể giải thích vai trò lãnh đạo của họ trong việc thông thạo đúc đồng với sáp nóng chảy và tạo ra điều kiện cho thương mại không chỉ ở các lãnh thổ của người Bách Việt mà còn luôn cả các vùng hẻo lánh xa xôi.

 Đối với người Đồng Sơn  cũng như với người Việt (Yue) Yue, trống đồng không chỉ là di sản văn hóa chung mà họ cần phải giữ gìn cẩn thận mà còn là một biểu tượng  quyền lực và dùng để tập hợp cộng đồng dân tộc bên ngoài ngôi làng. Trống đồng dùng trong các nghi lễ nông nghiệp và  bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ xã hội. Nó được tạo ra bởi các nhà luyện kim địa phương tài năng với mục đích duy nhất là duy trì truyền thống tổ tiên của họ mà không nghĩ rằng bất cứ lúc nào tác phẩm nghệ thuật của họ có thể trở thành đối tượng tranh chấp giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc. Một người được xem coi là người thừa kế hợp pháp của đại tộc Bách Việt và được cho là người làm hồi sinh nền văn minh  tổ tiên Bách Việt và người kia là kẽ chinh phục và xâm lược các lãnh thổ của Bách Việt và muốn dành lại ngày nay cho các hậu duệ của dân Bách Việt một địa vị xứng đáng ở Trung Quốc. Chúng ta không thể không biết đến giả thuyết được bảo vệ bởi nhà Hán học Charles Higham trong tác phẩm mang tên « Thời đại đồ đồng của Đông Nam Á« :

Sự việc đi tìm nguồn gốc và những thay đổi diễn ra ở hậu bán của thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên trong khu vực dẫn đến sự lãng quên một điểm quan trọng. Những thay đổi này, diễn ra ở miền nam Trung Quốc và ở lưu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay, được thực hiện bởi các nhóm người trao đổi ý tưởng và hàng hóa. Những nhóm nầy luôn luôn bị  áp lực mạnh mẽ  thời đó đến từ phía bắc, từ các quốc gia bành trướng như  Sỡ (Chu), Tần (Qin) và Hán (Han). Các quốc gia nầy đã thành công trong việc loại trừ họ cuối cùng.

Về quan điểm lịch sử và văn hóa, tất cả những người hậu duệ của đại tộc Bách Việt đều có quyền đòi lại di sản này. Nhưng theo quan điểm lô gích, chỉ có người Lạc Viêt (hay người Đồng Sơn) của đại tộc Bách Việt đã thành công trong việc thành lập một quốc gia và có được một quốc gia tự trị và độc lập (Việt Nam). Đây không phải là trường hợp của các tộc Việt khác. Họ bị hán hoá qua nhiều thế kỷ trong quá trình bành trướng đế quốc do hai triều đại Tần và Hán khởi xướng. Không ai có quyền chối cải  cá tính Việt có ở trong dân tộc Việt Nam ngày nay. Đây cũng là sự nhận xét của nhà dân tộc học người Pháp Georges Condominas như sau: Nhắc đến Việt (hay Yue) là phải trở lại nguồn gốc của Việt Nam. (G. Condominas). Như vậy rõ ràng là quyền tác giả của trống đồng phải thuộc về người Việt Nam nhất là những nhạc cụ thiêng liêng này có thể mang một thông điệp của tổ tiên họ (người Đồng Sơn) đã để lại cho họ. Chúng ta biết rất rõ dòng chữ khắc trên cột đồng của tướng nhà Hán Mã Viện: Cột đồng ngã thì Giao Chỉ sẽ không còn nửa (Đồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt).

Cột đồng này ở đâu khi chúng ta biết rằng Giao Chỉ (Việt Nam) vẫn tiếp tục tồn tại đến ngày nay. Khi chúng ta  nhìn kỹ vào một cái trống đồng, chúng ta có thể thấy nó tựa như một thân cây bị  cắt. Mặt trống có mang một số vòng tròn đồng tâm tương tự như mặt cắt ngang của thân cây với các vòng tròn được thêm tuổi vào qua nhiều thế kỷ. Có phải trống đồng gợi lên cột đồng của Mã Viện không? Một số nhà khoa học tin rằng trống đồng là « cây sự sống ». Đây là trường hợp của nhà khoa học người Nga N.J. Nikulin thuộc Viện Văn hóa Moscow. Dựa trên những khám phá và đề xuất của các nhà nghiên cứu Việt Nam (như Lê Văn Lan) về ý tưởng của sự « tổng thể » mà trống đồng thể hiện  qua các hình tượng của nó, ông đi đến kết luận như sau: Trống đồng được xem như là một vũ trụ: măt trống biểu tượng của thiên giới và thế giới, thân trống là biển giới (thủy quốc) và chân trống là thế giới ngầm (âm Phủ).

Theo ông, có một mối quan hệ mật thiết giữa chiếc trống đồng và câu chuyện thần thoại về người Mường, anh em họ hàng thân thiết của người Việt Nam hiện tại. Trong quan niệm về việc tạo ra vũ trụ của người dân Mường, cây sự sống tượng trưng  một khái niệm trật tự phổ quát trái ngược với trạng thái hỗn loạn được tìm thấy ở thời điểm tạo ra thế giới. Thờ cây là một phong tục cổ xưa của người dân Việt. Cây cau được tìm thấy qua sử tích trầu cau nói lên sự tín ngưỡng nầy. Theo nhà sử học và khảo cổ học Bernet Kempers, trống đồng minh họa một tầm nhìn cơ bản (đồng nhất) về vũ trụ. Chính chiếc trống đồng này mà người Hán muốn phá hủy để kết thúc số phận của người Đồng Sơn vì đây là cây sự sống tượng trưng cho cả sức mạnh và quan niệm sống của họ. May mắn thay trong nhiều thế kỷ, trống đồng không biến mất nhưng nhờ những chiếc cuốc và xẻng của các nhà khảo cổ học người Pháp và Việt Nam, trống đồng đã xuất hiện trở lại một cách lộng lẫy và rạng rỡ để cho con cháu của người Đồng Sơn tìm thấy lại lịch sử thực sự của họ, mà không phải là người « man rợ bị nấu chín » như người Hán thường miệt thị.

Là một nhạc cụ thiêng liêng, trống đồng hơn bao giờ hết có liên quan đến sự phục hồi và chứng thực về danh tính của người dân Việt súy bị xoá đi  bao nhiêu lần bởi đế chế Trung Hoa trong suốt hành trình lịch sử của họ.

[Return CIVILISATION]

Références bibliographiques:


Xiao Rong Han: The Present Echoes of the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern Vietnam and China , Explorations in Southeast Asian studies, 1998,Volume 2,no 2
Joseph Buttinger : The smaller dragon: a political history of Viet Nam, Praeger, 1958.
Christine Nguyen Tri: La conquête de l’espace chinois sous les Qin et les Han 221 avant notre ère-220 de notre ère. Cahiers du CEHD, n° 34).
E. Gaspardone: Matériaux pour servir à l’histoire de l’Annam » (BEFEO, 1929)
Cung Ðình Thanh : Trống Ðồng Ðồng Sơn, Tập San Tư Tưởng, số 18, 2002
Catherine Noppe: La civilisation Dông Son et son rayonnement. Le Vietnam à l’âge du bronze. Le Vietnam des Royaumes. Cercle d’art. Paris, 1995
Yves Goudineau: Tambours de bronze et circumambulations cérémonielles. BEFEO. Année 2000, Volume 87, no 87-2, pp: 553-578
Deniker: Les races et les peuples de la terre, 1926, p 607.
Madeleine Colani: Vestiges d’un culte solaire en Indochine. BIIEH, III, 1/2, 1940
Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine. Comptes-rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres, année 2003, volume 147, no2,pp 703-802
Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam. BEFEO, Tome 68, 1980. pp: 113-154.
Trịnh Sinh : Giao lưu văn hóa Đồng Sơn ở vùng ven biển và hải Đảo. Viện Khảo cổ học
Trịnh Sinh 1988: a comment on the bronze drums discovered in Thailand. Comparative Thai-Vietnamese Archaeology: Culture in Metal Age. Bangkok:93-102
Trnh Sinh 1989. Hợp kim có chì, Vua Hùng và văn hóa Đồng Sơn. Tạp chí Khào cổ học. Số 2 năm 1989.
Guehler U. 1944. Studies Ueber Bronzetrommeln. In: Journal oft he thailand research society. T. XXXV Bangkok.