Pulluciampelle (Cù Lao Chàm)

Poulo Cham

Version vietnamienne
English version
Galerie des photos

Située à 18km de l’estuaire du fleuve Thu Bỗn de la vieille ville Hội An, l’île Poulo Cham ou Pulluciampelle (Cù Lao Chàm) par UNESCO comme une réserve de biosphère du monde en 2009. Elle est en fait constituée de huit îlots : Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông avec une superficie totale de 15 km2. Sa population répartie sur ces îlots est estimée à peu près de 3000 habitants. Autrefois, Poulo Cham était le point de relais destiné aux navigateurs pour pouvoir être approvisionnés en nourriture et en eau dans leur long voyage sur la mer de l’Est et appartenait au royaume du Champa. C’est pourquoi on trouve ici beaucoup d’anciens puits et elle est connue sous le nom de l’île du Champa. De passage dans cette île, le touriste a l’occasion de découvrir un environnement riche et varié non seulement en quantité mais aussi en genre de poissons trouvés dans la zone côtière tropicale de la mer de l’Est à travers un bâtiment d’exposition.

On y trouve aussi une coutume que le chercheur Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) a considérée comme une caractéristique typique trouvée chez les Vietnamiens vivant le long de la côte du Centre et du Sud Vietnam car les gens du Nord ne l’ont pas eue. C’est le culte de la baleine. Selon certains érudits vietnamiens tels que Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước ou Trần Hàm Tấn, ce culte appartenait aux Chams. Lors de l’occupation de leur territoire par les Vietnamiens, ceux-ci n’hésitaient pas à l’adopter comme la déesse Po Nagar à Nha Trang. Mais cette hypothèse n’est pas très convaincante dans la mesure où aucun document n’apporte jusqu’aujourd’hui la certitude sur cette appartenance chame. Selon le père Léopold Cadière, cette coutume n’est pas une exception car les Vietnamiens étaient animistes et polythéistes. C’est dans cette île qu’on découvre un temple dédié au culte de la baleine. Ce mammifère marin est vénéré comme un génie. Selon l’érudit Thái văn Kiểm, sous le règne de l’empereur Gia Long, la baleine reçut un brevet de génie et le titre d’amiral des mers du Sud car l’empereur Gia Long dut sa vie à ce mammifère marin lors d’une noyade. Rien ne contredit pas ce que le chercheur anglais Ruddle Kenneth a remarqué dans son livre: le culte de la baleine renforce la cohésion de la communauté des pêcheurs vietnamiens vivant le long de la côte du centre et du Sud Vietnam. En passant une journée dans cette île, je m’aperçois que les ressources naturelles sont énormes sans parler de la réserve du pétrole. Le Vietnam est désigné souvent par l’expression suivante: Rừng vàng biển bạc pour dire que le Vietnam est gâté par la nature ( » La forêt « dorée » et « la mer « argentée« ). Comment les pêcheurs vietnamiens sont-ils si pauvres et si malheureux ? C’est une question que chacun de nous en tant que Vietnamien se demande la cause de cette tragédie et reconnait qui est le coupable afin d’éviter d’être blâmé par notre conscience et par nos ancêtres.

Version vietnamienne

Cù lao Chàm nằm cách bờ biển Cửa Đại  của  Hội An 18 cây số. Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009.  Nó gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với tổng diện tích là 15km2. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người. Thưở xưa, Cù Lao Chàm là nơi dừng chân của các thuyền nhân để tiếp vận lương thực và nước ngọt  trong cuộc hành trình trên biển Đông và thuộc về vương quốc Chămpa. Vì vậy mới  thấy nơi nầy còn rất nhiều giếng cổ và có tên là cù lao Chàm. Đến đây, du khách sẻ nhận thấy  một  môi trường phong phú và đa dạng của vùng biển nhiệt đới về số lượng cũng như số loại cá trên biển Đông qua một nhà trưng bày hải sản.

Cũng ở nơi nầy, du khách sẻ khám phá một tập quán mà theo nhà nghiên cứu Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) là một đặc tính của người Việt ở vùng biến  chớ ở miền Bắc thì không có đó là tục lệ thờ cá ông (hay cá voi) nhưng cho đến giờ các nhà học giả Việt như Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước hay Trần Hàm Tấn thì nghĩ rằng đây là một tập quán cũa người Chàm mà người Việt tiếp nhận  cũng như ở Nha Trang với thánh mẫu Po Nagar nhưng cho đến giờ không có sách vỡ nào chứng minh là thuộc về dân tộc Chàm. Theo cố cả Léopold Cadière thì đúng hơn là người dân Việt  theo thuyết duy linh và đa thần nên chuyện thờ cá ông cũng không ngoại lệ. Ở cù lao chàm có một đền thờ cá ông hẳn hòi.   Người dân Việt kính nể cá ông như  cha mẹ  và thần thánh. Theo lời nhà học giả Thái văn Kiểm, dưới thời vua Gia Long, cá ông được chứng chỉ sắc phong làm thống chế của các biển phía nam vì cá ông đã giúp vua Gia Long thoát chết đuối. Cũng có phần đúng với sự nhận xét của học giả Anh Quốc Ruddle Kenneth như sau: chuyện thờ cúng cá ông cũng là một thể thức nhẳm cố liên kết chặt chẻ các ngư dân Việt sống ở vủng biển. Đến đây mới thấy tài nguyên cũa đất nước rất lớn ở biển Đông với bao nhiêu loại tìm thấy trong hải sản chưa nói đến dầu lửa. Rừng vàng biển bạc dùng để ám chỉ đất nước Việt Nam của chúng ta. Thế mà ngư dân Việt vẫn khốn đốn nghèo khổ.? Câu hỏi  nầy mỗi nguời Việt chúng ta  tự hỏi lòng mình từ đâu,  tự nhân diện nó là ai  để khỏi hổ thẹn với lương tâm và ông cha của chúng ta.

Tàl liệu tham khảo

Charles J. H. MacDonald:  Le culte de la baleine, une exception vietnamienne 
Trần văn Phước: Chronique: Funérailles d’une baleine . Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, tome XLIX, no2, 1974, p 273-282
Thái Văn Kiểm: Le culte de la baleine . Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, tome XLIX, no2, p 311-326
Ruddle Kenneth : Traditional community based coastal marine fisheries  management in Vietnam . Ocean and Coastal management,  Elsevier Science Ltd, 40, p 1-22
Cadière Léopold:  Croyances et pratiques religieuses. Tomes I et II. Saigon,  Imprimerie nouvelle d’Extrême Orient 1955-1958

Picture Gallery

Located 18 km from the estuary of the Thu Bồn River in the old town of Hội An, Poulo Cham Island or Pulluciampelle (Cù Lao Chàm) was recognized by UNESCO as a world biosphere reserve in 2009. It actually consists of eight islets: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, and Hòn Ông, with a total area of 15 km². Its population spread across these islets is estimated to be about 3,000 inhabitants. In the past, Poulo Cham was a relay point for navigators to be supplied with food and water during their long journey on the East Sea and belonged to the Champa kingdom. This is why many ancient wells are found here, and it is known as the Island of Champa. Visitors passing through this island have the opportunity to discover a rich and varied environment, not only in the quantity but also in the variety of fish found in the tropical coastal zone of the East Sea through an exhibition building.

There is also a custom that the researcher Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) considered a typical characteristic found among the Vietnamese living along the coast of Central and Southern Vietnam, as the people of the North did not have it. It is the whale cult. According to certain Vietnamese scholars such as Thái Văn Kiểm, Trần Văn Phước, or Trần Hàm Tấn, this cult belonged to the Chams. During the occupation of their territory by the Vietnamese, they did not hesitate to adopt it, like the goddess Po Nagar in Nha Trang. But this hypothesis is not very convincing since no document to date provides certainty about this Cham affiliation. According to Father Léopold Cadière, this custom is not an exception because the Vietnamese were animists and polytheists. It is on this island that one discovers a temple dedicated to the whale cult. This marine mammal is revered as a spirit. According to the scholar Thái Văn Kiểm, under the reign of Emperor Gia Long, the whale received a spirit patent and the title of admiral of the Southern seas because Emperor Gia Long owed his life to this marine mammal during a drowning incident. Nothing contradicts what the English researcher Ruddle Kenneth noted in his book: the whale cult strengthens the cohesion of the community of Vietnamese fishermen living along the coast of Central and Southern Vietnam.

Spending a day on this island, I realize that the natural resources are enormous, not to mention the oil reserves. Vietnam is often referred to by the following expression: Rừng vàng biển bạc, meaning that Vietnam is blessed by nature (« the golden forest » and « the silver sea »). How are Vietnamese fishermen so poor and so unhappy? This is a question that each of us, as Vietnamese, asks ourselves to understand the cause of this tragedy and to recognize who is to blame in order to avoid being condemned by our conscience and by our ancestors.

[Return to CHAMPA]

Rừng tràm Trà Sư (Tịnh Biên, Châu Đốc)

 

Rừng tràm Trà Sư

Version française 
Version anglaise
Galerie des photos

Là một hệ sinh thái đầm lầy nước ngọt có rễ cây tràm trú ẩn các động vật có vỏ, cá và động vật giáp xác, rừng tràm Trà Sư  là khu rừng ngập nước ngọt  tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu và cũng là nơi sinh sống của 140 loài động vật (dơi ăn quả, dơi, diệc, cò, chim cốc vân vân) và  thực vật thuộc hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Nằm cách thành phố Châu Đốc khoảng 30 cây số về phía tây nam và thành phố Long Xuyên 64 cây số. Rừng tràm Trà Sư là nơi mà người du khách có cơ hội hoà mình vào thiên nhiên len lỏi theo xuồng ba lá hay  tắc ráng giữa mênh mông rừng tràm qua các con đường bèo quanh co, rất thú vị nhất là với mùa nước nổi từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm.

Étant un écosystème de marais d’eau douce  dont le cajeputier abrite dans ses racines échasses coquillages, poissons et crustacés, la mangrove Trà Sư est une forêt inondée typique du  delta du Mékong dans la région ouest du Bassac. C’est aussi ici la réserve forestière du Vietnam  où on trouve  140 animaux (roussettes, chauves-souris, hérons, aigrettes, cormorans etc.)  et plantes. Elle est située à 30 kilomètres au sud ouest  de  la ville de Châu Đốc  et distante de 64 km de la ville de Long Xuyên. La forêt inondée Trà Sư est le lieu où le touriste a l’occasion de de se jeter à corps perdus dans la nature et  pouvoir s’introduire    dans les  recoins de l’immense sylve remplis  de lentilles d’eau et  parsemés parfois par des fleurs de lotus   grâce à la barque avec pagaie ou équipée d’un petit moteur. C’est très agréable de passer une journée en période de hautes crues  de l’année (de septembre à novembre). 

Being a freshwater swamp ecosystem whose cajeput trees shelter shellfish, fish, and crustaceans in their stilt roots, the Trà Sư mangrove is a typical flooded forest of the Mekong Delta in the western Bassac region. It is also the forest reserve of Vietnam where 140 animals (flying foxes, bats, herons, egrets, cormorants, etc.) and plants can be found. It is located 30 kilometers southwest of the city of Châu Đốc and 64 km from the city of Long Xuyên. The flooded forest of Trà Sư is a place where tourists have the opportunity to immerse themselves completely in nature and explore the corners of the vast forest filled with duckweed and occasionally dotted with lotus flowers, thanks to a paddle boat or one equipped with a small motor. It is very pleasant to spend a day there during the high flood season of the year (from September to November).

La forêt des cajeputiers

Tra_su

Cây khèn bè (Khène)

Version française
English version  

Chúng ta  thường đặt câu hỏi về nguồn gốc của nhạc cụ mà được gọi là khèn bè.  Có nhiều nhà khoa học cho rằng nhạc cụ nầy đến từ nước Lào. Nhưng cũng không ít người ngần ngại và hoài nghi. Đó là trường hợp  của nhà nghiên cứu Pháp Noël Péri của  Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO).

Đối với ông nầy, nếu người  dân Việt không dùng nhạc cụ nầy  như người Lào nhưng nhạc cụ mà được trông thấy  thường ở người Muờng, một dân tộc rất gần gũi với người Việt về văn hóa và tập quán và người Hmong,  cũng giống  như khèn bè của người Lào. Hơn nửa nhạc khí nầy được thể hiện không những ở trên các trống và thạp đồng mà còn ở các vật dụng của văn hóa Đồng Sơn. Đó là trường hợp cái cán của một cái môi bằng đồng được trang trí với một nhân vật nam giới ngồi đang thổi khèn bè và được trưng bày  hiện nay  ở bảo tàng viện lịch sữ ở Saïgon (thành phố Hồ Chí Minh).

Chúng ta  dẫn đến đến kết luận và  khẳng định một cách quả quyết  là nhạc khí nầy có từ thời đồ đồng  (giữa 3000 và 1200 trước công nguyên ở Đông Nam Á) và được sáng chế bỡi người thuộc chủng Nam Á (Austro-asiatique) trong đó có các dân tộc Lào,  Hmong, Mường, Việtnam và Mnong vân vân… mà chúng ta thường gọi là đại tộc Bách Việt. Cũng không nên quên có một thời điểm nào trong quá khứ dân tộc Lào (chi nhánh Tây Âu) và dân tộc Việt (chi nhánh Lạc Việt) cùng nhau hiệp  sức trong việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán và  chống cự lại  quân Tần của  Tần Thủy Hoàng.  Theo bà khảo cứu Pháp Madeleine Colani thì các khèn bè nầy không bao giờ vượt qua dãy núi Hy Mã Lập Sơn và thung lũng Bramahpoutre của Ấn Độ. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

joueur_khen2

Khène

 Đó là truờng hợp  các khèn bè của dân tộc Dayak ở đảo Bornéo (Nam Dương) vì trước khi họ định cư trên đão nầy, họ đã sống trước đó dọc theo bờ biển phía đông của Đông Dương.  Dựa trên khèn bè của người thuộc chủng Nam Á, người Trung Hoa cũng sáng chế một nhạc cụ thường gọi là lusheng mà được nhắc đến trong kinh nhạc của Đức Khổng Tử.

Theo nhà nghiên cứu Victor Goloubew, người Đồng Sơn tức là tổ tiên của người Việt hiện nay cũng biết thổi khèn bầu.

Khèn bè được xuất hiện dưới nhiều hình dạng mà theo bà Madeleine Colani thi khèn bè của dân tộc Lào xem là óng chuốt và tao nhã nhất.  Nói chung thì  cây khèn bè  thông thường có một cấu tạo ống theo số chẵn, làm bằng tre và ở mỗi cái ống có một lỗ nhỏ  thường gọi là lỗ thổi và  bên trong ống có một  lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Các ống nầy được lắp ráp theo cặp với  chiều dài giống nhau, theo thứ tự  và giảm dần từ miệng của cái bầu khèn được cung  cấp không khí bởi hơi thổi của người chơi khèn. Chiều dài của các ống xác định độ cao của nốt. Cây khèn càng dài thì âm điệu càng thấp. Số ống dùng để thổi không có cố định và còn có liên hệ đến truyến thống văn hóa của mỗi dân tộc.  Như người Hmong ở các dãy núi phiá bắc Việtnam hay là người Mnong ở Tây Nguyên, thì  trên cây khèn chỉ có thấy 6 ống mà thôi. Còn với người Thái ở vùng Mai Châu, số ống  lên đến 14.

Khèn có  6 ống (hay Mbuot) của dân tộc Mnong ở Tây Nguyênm_buot  

Còn khèn của nguời Lào thì số ống có thể biến đổi: hoặc 6 ống với chiều dài có thể lên  đến 40 cm thì gọi là khène hot hoặc là 14 ống với   khène jet

hoặc là 16 ống với   khène baat.  Khèn nầy được trọng dụng nhiều nhất ở Lào.  Để phát âm tiếng, nguời chơi khèn phải  giữ giữa hai bàn tay nhạc cụ  mà  ở nơi đó  có miệng khèn   dùng để thổi và đưa không khí vào khèn, xem như là nơi để tụ không khí.   Cùng lúc đó người thổi  khèn phải bịt ở đầu các ống với các ngón tay khiến làm rung chuyển các lưỡi gà phù hợp  qua sự  hít vào hay thở ra của mình.

khenz_bambou

Khèn lào (16 ống)

Khèn thường có liên hệ mật thiết với các nghi lễ tôn giáo và các sự kiện quan trọng ( hội chợ, đám cưới, tang lễ vân vân …).  Có thể thổi khèn một mình hay là  với một nhóm người  nhằm để kèm theo các điệu nhảy  hay ca hát.  Mỗi dân tộc có sự tích cá biệt về khèn. Tiếng khèn cũng làm cho  thế giới con người  đến   gần với thế giới tâm linh. Đối với dân tộc Lào cũng như các dân tộc thiểu số ở Vietnam (Hmong, Thái vân vân..), cây khèn bè biểu tượng  bản sắc văn hóa. Đối với dân tộc Hmong, có một cây khèn trong nhà là niềm hãnh diện được có một người đàn ông tài hoa và khí phách trong gia đình.

Trong ngạn ngữ của người  Lào, muốn được xem là người Lào đích thực, thì phải biết thổi khèn, ăn cơm nếp với cá ươn  (padèk) và ở nhà sàn.

Dù có một vai trò rất  quan trọng như các cồng chiền Tây Nguyên (Việtnam), cây khèn bè tiếp tục bị bỏ rơikhene_laotien  theo ngày tháng bởi giới trẻ  vì muốn   thông thạo trong việc thổi khèn bè thì không những cần có sự kiên nhẫn mà cần có khiếu về  âm nhạc. Bởi vậy khèn bè không phải ai cũng thổi được mà cần phải biết diễn xuất một số giai điệu căn bản và biết nhảy hòa nhịp  theo tiếng khèn. Một số giai điệu có thể gợi lên các khía cạnh của thiên nhiên và cuộc sống. Có hơn 360 giai điệu dành cho tang lễ. Chính vì thế cây khèn bè có một vị trí quan trọng trong đời sống dân gian và tinh thần của các dân tộc thiểu số.


Tài liệu tham khảo

Essai d’ethnographique comparée. Madeleine Colani, BEFEO, 1936,Vol 36, N°1, pp. 214-216
Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam.
Rapport sur une mission officielle d’étude musicale en Indochine. Péri Noël, G. Knosp. BEFO. 1912. Tome 12, pp 18-2
Pour continuer d’entendre le son du khèn des Hmongs. Hoàng Hoa. Courrier du Vietnam, 24.03.2012

[Retour Vietnam des 54 minorités]

 

Nhà Đông Hán (Dynastie des Han orientaux)

 

titre_dynhan_9Bảo tàng viện Guimet (Paris)

English version

French version

Nhà Đông Hán (Dynastie des Han orientaux)

Niên đại nhà Đông Hán

icon_daihan

 Đông Hán

25-57: Quang Vũ Đế

57-75: Minh Vũ Đế

75-88: Hán Chương Đế

88-106: Hán Hoà Đế

106: Hán Thương Đế

106-125: Hán An Đế

125:Hán Thiếu Đế

125-144: Hán Thuận Đế.

145-146: Hán Chất  Đế.

146-168: Hán Hoàn Đế.

168-189: Hán Linh Đế

184: Giặc Khăn Vàng 

189: Hán Thếu Đế 

189-220: Hán Hiến Đế

190: Cũng cố thế lực  Tào Tháo

220: Tào Tháo và  Hán Hiến Đế qua đời

Nhà Hán diệt vong

Thời kỳ bắc  thuộc lần thứ nhất

Ở các vùng lãnh thổ bị người Hán chinh phục, đặc biệt là ở miền nam Trung Quốc, việc Hán hóa tiếp tục một cách dữ dội bất chấp mọi  phản ứng. Vì thế các cuộc nội loạn tiếp nối diễn ra đầu tiên ở  Điền Quốc ( năm 86, 83 TCN, 14 sau CN, từ năm  42 à đến năm 45 ) nhưng bi trấn áp một cách nghiêm khắc.  Cũng phần đông từ các việc hà hiếp của các quan chức nhà Hán và thái độ ngang tàng cướp đất của các cư dân tàu và  tiếp tục đẩy lùi các dân bản xứ đến các vùng heo hút. Hơn nửa họ phải học tiếng tàu, theo phọng tục và tín ngưỡng của người tàu. Sau đó năm 40, xãy ra một cuộc nổi dậy  ở Giao Châu gồm có ở thời kỳ đó một phần lãnh thổ của Quảng Tây và Quảng Đông.   Cuộc khởi nghĩa do hai người con gái  của  lạc tướng ở Mê Linh tên là Trưng Trắc (Zheng Cè) và Trưng Nhị (Zheng Er). Để làm gương cho các  quân phiến lọan, thái thú Tô Định (Su Ding) không ngần ngại giết  chồng của bà Trưng Trắc tên là Thi Sách (Shi Suo) vì ông nầy phản đối chính sách đồng hóa  gắt gao. Việc hành hình nầy khiến làm phẫn nộ hai bà và khơi mào đến cuộc vùng dậy ở toàn lãnh thổ của người Bách Việt nhất là vùng của người Việt. 

icon_tigre

Dụng cụ dùng  để giữ  các vành của chiếc chiếu 

Poids de natte

 

 

Hai bà Trưng được sự hưởng úng của các tộc trưởng khác  Man Di ở quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố  nên hai bà ta đã đoạt được 65 thành trì  trong thời gian rất ngắn, trở thành Nữ vương và đóng dô tại Mê Linh (Meiling).  Năm 41, hai bà bị khắc phục bỡi Mâ Viện Phục Ba tướng quân (Ma Yuan) và gieo mình tự sát ở Hát Giang thay vì đầu hàng.  Hai bà trở thành  một biểu tương về ý chí quật cường của dân tộc Việtnam. Hai bà vẫn được sùng bái không những ở Vietnam mà ở ngay trên các lãnh thổ của dân Bách Việt mà ngày nay thuộc về Trung Quốc (Quảng Tây và Quảng Đông). 

Mã Viện bất đầu thi hành chinh sách khủng bố và hán hoá bằng cách đặt người tín nhiệm tàu  ở các then chốt của nguồn máy hành chánh và áp đặt tiếng tàu là ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ của người dân Việt.  Đây là thời kỳ bắc thuộc lần đầu và được kéo dài gần một ngàn năm trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc với  Ngô Quyền. Giữa lúc đó, Hán Quan Vũ Đế (Guangwudi) đã thành công đem lại sự thịnh vượng và ổn định  trong nước bằng cách giảm thuế về lợi nhuận. Cũng như Hán Vũ Đế, sau khi Quan Vũ Đế mất, con ông Hán Minh Đế (Mingdi) đeo đuổi chính sách bành trướng đất đai với  các cuộc tấn công chống lại quân Hung Nô nhầm tranh giành ảnh hưởng ở các nước Trung Á và đem lại sự an toàn cho con đường tơ lụa (Route de la soie). Tướng Ban Siêu (Ban Chao), anh của sử gia nổi tiếng Ban Cố (Ban Gu)  (hay Mạnh Kiên)(*) ở thời đó, được trọng trách  trong cuộc viễn chinh nầy. Ông đã thành công đến tận hồ Caspienne (hay Caspi) và chinh phục được dân tộc Nhục Chi nhờ có sự giúp đỡ của dân tộc Kusana.  


(*) Tác giã của  Hán Sử (Annales des Han)

Galerie des photos

guimet_han

 

Đình Làng (Maison communale)

dinhlang

Version française

Đình Làng hai chữ  khó mà tách rời ra trong tâm trí của người dân Việt vì ở đâu có làng thì nơi đó cũng có một cái đình. Luôn luôn được  lợp ngói,  đình làng là một ngôi nhà  chung to lớn bằng gỗ và dựng  trên mặt đất không cần chân móng.  Ngược lại với chùa thường có cửa  để khép đóng lại, đình làng  không có vách mà cũng không có cửa,  thông ra bên ngoài một cách trực tiếp.  Mái đình rất bể thế nặng nề khó mà không nhìn thấy  từ xa  nhất là với các đầu đao uốn cong.   Nơi mà có  đình được  nghiên cứu một cách tĩ mĩ theo phép phong thủy vì nó có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của cả làng.   Đình phải được dựng thông thường ở môt nơi thoáng đãng hướng về chổ  nào có nước (hồ, giếng hay sông) để được trong tư thế tụ thủy, tụ linh và tụ phúc.  Chẳng hạn đình Tây Đằng với một ao đầy sen trước lối vào mùa hè, đình Đồng Ky (Từ Sơn, Bắc Ninh) được dựng ngang con sông hay đình Lê Mật (Gia Lâm, Hànội) với một cái giếng thoáng rộng.  Đình làng Viet Nam được xây cất  thông thuờng trong một khung cảnh cây cối xanh tươi với các cây đa cổ thụ xum xuê  có cả trăm năm, cây sứ hay cây cau vân vân….


Không thể định nghĩa vai trò của nó hơn những gỉ mà ông Paul Giran, một quan chức Pháp lo việc dịch vụ dân sự ờ Đông Dương  tường thuật lại trong cuốn sách với tựa đề:  Ma thuật và tôn giáo của người Việt ở trang  334-335, 1912:

Đình làng nơi mà thờ cúng Thành Hoàng là một chốn  cai quản cuộc sống cộng động. Chính ở nơi nầy  mà có các kỳ hợp của chư vị kỳ mục, chức sắc địa phương để giải quyết   những  vấn đề liên quan đến hành chánh và công lý nội bộ.  Cũng chính ở nơi nầy mà có các lễ nghi  tôn giáo và  diễn ra tất cả những cảnh tượng của cuộc sống hằng ngảy trong xã hội Vietnam.


Có thể ví đình như là toà thị chính của một thành phố hiện đại. Nhưng đình  được  qúi trọng hơn toà thị chính nhiều bởi vì nó có liên hệ mật thiết với tất cả dân làng. Với đình,  người dân Việt có thể tìm lại  không những cội nguồn mà luôn cả khát vọng và kỷ niệm chung ở làng, nơi mà mình sinh và lớn lên. Sự gắn bó sâu đậm với làng nhất là đình không bao giờ làm quên đi với ngày tháng những tình cảm riêng tư mà thông thường được tìm thấy trong các câu ca dao:

Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu….

hay là

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
……………………………
Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta ….

Hình ảnh ngôi  đình  nó  in sâu mật thiết vào tâm khảm mỗi  người dân Việt  từ bao thế hệ cha ông vì nó  biểu tượng  cội nguồn và bản sắc.  Từ triều nhà Lý có ra một chỉếu chỉ  qui định trên toàn lãnh thổ Vietnam  mỗi làng phải có một đình riêng tư. Từ vùng châu thổ sông Hồng, ngôi đình  theo gót chân của người dân Việt mà  phổ biến hội nhập   trong cuộc nam tiến từ thế kỷ  12 đến thế kỷ 18.  Trước hết ở miền trung Vietnam qua các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An dưới triều đại nhà Lê rồi đến Quảng Nam và Thuận Hóa dưới triều đại nhà Mạc và sau cùng ở đồng bằng sông Cửu Long đến mũi Cà Mau với các chúa Nguyễn.  Ngôi đình  phải thích nghi không những với khí hậu,  vùng đất mới và nguyên vật liệu khác mà còn luôn cả phong tục tập quán địa phương qua suốt cuộc hành trình có hàng ngàn cây số, kéo dài 4 thế kỷ. Ngoài trừ  vùng núi Tây Nguyên, cái nôi  văn hóa của các dân tộc thiểu số, ngôi đình được nổi bật khác biệt  với tính cách đa dạng  và một phong cách và kiến trúc riêng tư  được trông thấy ở  mọi vùng đất  nước.

Được xây dựng vài thế kỷ trước đó, ngôi đình miền Bắc được xem là hình mẫu tham khảo đối với người dân Việt vì nó không phải duyên dáng hơn mà nó có tính chất độc đáo.  Nó là biểu tượng chân chất của cuộc sống nông thôn Vietnam qua nhiều thế kỷ. Chính nó được  dựng  lên đầu tiên trong văn hóa nông thôn ở đồng bằng sông Hồng.  Ngôi đình miền Bắc không những là một hệ thống cột kèo chồng rường xà kết cấu  vững chắc kê trên nền gạch hay đất mà còn là một bộ khung thuần gỗ mà mái đình nén xuống  nhờ  có trọng lượng của nó. Vai trò của  các  chân cột  dùng đề đỡ mái đình là một  đặc tính  của ngôi đình làng Việtnam. Chân cột càng lớn thì ngôi đình càng vững chãi.

       Ðình Bảng ( Tiên Sơn, Bắc Ninh )

dinhvn_1dinhvn_2

Hình dạng của ngôi  đình xem rất bề thế nhờ các cột cái to tướng.  Đây là trường hợp của ngôi đình Yên Đông bị hủy diệt bởi hỏa hoạn (Quảng Ninh) và các cột cái có  đường kính đến 105 cm.  Cảm tưởng nầy thường  được minh họạ qua câu thành ngữ mà ta  thường hay nói: to như cột đình và được thấy ở ngôi đình nổi tiếng « Ðình Bảng » với 60 cột đình bằng gỗ lim và một mái nhà vĩ đại với các đầu đao hình cánh hoa sen.   (tiếp theo phần 2                                        

Đình Bảng (Bắc Ninh)

Âm Dương trong đời sống của người dân Việt (Yin et Yang dans la vie des Vietnamiens): Phần 2


Version francaise

Version anglaise

Trong lý thuyết Âm Dương,  có nhắc đến vuông tròn là muốn nói đến sự hoàn thiện và kết hợp mỹ mãn.  Từ một hình vuông ta có thể biến hình có tám cạnh rồi tiếp tục đến 16 cạnh, cứ nhơn 2 cho đến cuối cùng tạo thành một hình tròn, một hình không còn cạnh nửa. Đây là một hình hoàn hảo  (perfectissima forma). Bởi vậy người ta thường nói « Mẹ tròn, con vuông » để chúc mừng mẹ con được dồi dào sức khoẻ lúc sinh đẻ.   Cái thành ngữ nầy được truyền lại bởi  các tiền nhân để chúng ta  lưu ý đến tính cách  sáng tạo của vũ trụ. Các hình tròn và vuông là hai hình dáng  đựợc thấy  không những qua bánh chưng bánh Tết hay là bánh Su Sê mà còn ở trên các đồng tiền đồng của Việtnam.

Sapèque
Hình dáng của các đồng tiền xưa nầy rất liên quan đến thiên văn học của người Việt cổ: sự tròn trĩnh của các đồng tiền gợi  lại Trời  tròn như cái bát úp cùng Đất qua lỗ vuông  ở giữa. Thông thường thì có một tỷ lệ phải tôn trọng ờ các đồng tiền xưa nầy: 70 phần trăm cho hình tròn và 30 phân trăm cho hình vuông. Hai dáng hình vuông tròn nầy cũng được thấy qua cây gậy tre mà trưởng nam dùng đi theo sau quan tài  trong lúc đưa  đám tang của cha. Còn nếu người qua đời là mẹ thì người con phải đi trong tư thế lùi trước  nhìn quan tài. Đây là nghi thức  « Cha đưa mẹ đón » cần phải tôn trọng trong phong tục đám tang của người dân Việt. Gậy tre  biểu tượng tính ngay thẵng và khả năng chịu đựng của cha.  Nếu là mẹ thì phải thế với cây vong để nói lên sự gian dị, dịu dàng và khéo léo.  Cây gậy phải có đầu tròn và chân hình vuông để biểu tượng Trời Đất còn thân gậy thì dành cho con cái với hàm ý là cần sự che chở của Trời Đất, giáo dục của cha mẹ và tương trợ của anh em trong xã hội. Để bày tỏ sự kính trọng đối với  người qua đời, quan khách phải lạy trước quan tài với con số chẳn (2 hoặc 4) vì người qua đời sẻ về âm phủ (Âm).  Theo nhà nghiên cứu Việt Trần Ngọc Thêm, mọi thứ liên quan chặt chẽ hoặc xa xôi đến cái chết đều phải sử dụng số chẳn (Yin=yên bình=cái chết).

Thưở xưa thường có phong tuc để trong miệng người chết một lát vàng (Dương)  để bao quản thể xác và để  tránh thối rữa.

Bàn thờ tổ tiên

Trong lúc hấp hối , người chết được  các người thân nhân cho một biệt danh (hay tên thụy) mà chỉ họ và người chết biết thôi  vì đến ngày giỗ, người chết sẻ được gọi về nhà để tham dự  cúng kiến và tránh các cô hồn. Bởi vậy người ta thường nói tên cúng cơm  để nhắc nhở  mỗi người có biệt danh. Cũng phải  chọn con số chẳn với  các bó bông dành cho tang lễ. Nhưng có một trường hợp ngoài lệ khi người chết là cha mẹ hay Phật. Thông thường trước bàn thờ  của các người nầy thường cắm ba cây nhan trong bình  hay là quỳ gối đầu đụng tới đất lạy 3 lần (số lẻ) vì lúc nào cũng xem họ là những người thân thuộc còn sống. Để bày tỏ sự kính trọng với các người cao tuổi còn sống, người ta chỉ bái 1 hay 3 lần mà thôi. Ngược lại trong lễ đám cưới, cô dâu trước khi về nhà chồng phải qùy bái cha mẹ ruột có công  sinh thành và nuôi dưởng mình nhưng chỉ lạy với số chẳn vì từ nay cô dâu kể như chết và thuộc về nhà chồng. 

Còn có một phong tục cho đêm tân hôn. Chọn một phụ nữ có nhiều con, đức hạnh vẹn toàn, được gia đình chú rể  mời đến để trực tiếp dọn giường  với đôi chiếu: 1 úp 1 mở  theo mô hình kết hợp của Âm Dương. Thưở xưa, cô dâu chú rể  hay trao đổi với nhau bằng  một nhúm đất lấy  một nhúm muối. Họ muốn thực hiện lời hứa và gắn bó với nhau suốt đời bằng cách lấy Trời Đất làm nhân chứng. Có một thành ngữ  cũng cùng một ý nghĩa: Gừng cay muối mặn để nhắc nhở vợ chồng trẻ chớ đừng bỏ nhau vì vị mặn của muối hay vị cay của gừng lại rất đậm đà và rất khó quên cũng như tình nghĩa vợ chồng rất sâu đậm và thắm thiết dù có bao thăng trầm trong cuộc sống.

Để nói đến đức hạnh, người dân Việt thường hay nói 

Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiễn đời con sang giàu

Khi nói đến ba vuông, làm ta nhớ đến  hình dáng của bánh chưng thường thấy nhân dịp Tết.  Với  những đường được vẻ  thẳng bằng  với thước vuông góc, hình dáng nầy tượng trưng lòng trung thành và tính cương trực   trong mối quan hệ của Tam Tòng: Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tữ tòng tữ. Còn 7 vòng tròn thì làm ta nhớ  sự tròn trĩnh của bánh giầy. Vòng tròn của bánh tựa như một dãy dấu chấm được cách xa đều đặn với tâm điểm nơi  mà có trái tim. Đây là tiêu biểu của một tâm hồn  rất thăng bằng mà không có  đam mê nào lay chuyển được. Chính ở đây mới thấy sự hoàn thiện của thất tình:  hỹ, nộ, ái, lạc, sĩ, ố, dục Ai mà có được một cuộc sống đạo đức nếu có được lòng trung thành và tính cương trực với mọi người và giữ đựợc mãi khoảng cách một cách cân bằng qua sự bộc lộ tình cảm của mình?

Từ  ngữ  « vuông tròn » thường được  nói đến trong một số châm ngôn dân gian của người Viêt:

Lạy trời cho đặng vuông tròn 
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!

Đấy mà xử ngãi (nghĩa) vuông tròn
Ngàn năm ly biệt vẫn còn đợi trông

hoặc là trong các đọan thơ  411-412 và  1331-1332 của Kim Vân Kiều:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn 
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ

hay 

Trăm năm tính cuộc vuông tròn, 
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

Lưỡng tính Âm Dương biểu hiện dưới nhiều hình thức ở Vietnam.  Ở Trung Hoa thì có một vị thần (ông tơ)  lo chuyện hôn nhân   nhưng ở Vietnam thì có đôi thần minh, môt ông một bà thường gọi Ông Tơ Bà Nguyêt. Cũng như ở chùa chiền thì có Phật Ông Phật Bà trên bàn thờ Phật. Người dân Việt  rất tin  rằng mỗi người được gắn bó từ lúc đầu với các con số.  Trước khi sinh, bào thai cần phải đợi 9 tháng 10 ngày.  Để nói ai có được  mệnh tốt thì người ta nói người đó có số đỏ. Còn ngược lại số đen dành cho ai có một định mệnh xấu. [ Con số Âm Dương của người Việt]

Âm Dương trong đời sống của người dân Việt (Yin et Yang dans la vie des Vietnamiens): Phần 1

 

yinyangviet

Version française

Version anglaise

 Triết lý  Âm Dương nó được gắn bó mật thiết hằng ngày với đời sống của người dân Việt và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Thuộc về Âm tất cả những gì có tính chất lỏng, ẩm, lạnh, tĩnh, tối, nội hay có cốt yếu nữ tính như  mặt trời, mặt trăng, đêm, nước hay mùa đông. Còn ngược lại thuộc về dương tất cả gì hiện ra tính chất cứng, khô,  nóng, cử động, sáng, ngoại hay có cốt yếu nam tính như  đất, thái dương, lửa, mùa hè vân vân…. Tính âm dương nầy được nhận ra trong  việt ngữ  qua hai phụ từ « con » và « cái ». Tựa như các mạo từ  xác định « le » và « la » trong Pháp ngữ, các  phụ từ « con » và « cái » được dùng để chỉ định trong vài trường hợp nào đó tính  đực và  cái. Nhưng dưa trên các từ chỉ đồ vật có hàm nghĩa tĩnh (không cử động) hay động (cử động) thì  các phụ từ « cái » và « con » nầy dùng theo, được  thuộc về loại ngữ nghĩa tương ứng tức là có dạng tĩnh hay động như các đồ vật. Phụ từ « cái » dùng khi đồ vật mang  tính cách  không cử động (tĩnh) ví dụ như  cái nhà, cái hang, cái nồi vân vân etc… Ngược lại khi đồ vật có tính cách cử động hay liên hệ đến cử động thì phải dùng  phụ từ « con » như  con mắt, con tim, con trăng, con ngươi, con dao, con đường, con hẻm vân vân  … Con mắt nhúc nhích  không ngừng cũng như con tim  đập rộn ràng. Cũng như con trăng hay con ngư cử động. Người Việt cổ thường xem  dao như con vật thiêng.  Nó được nuôi dưỡng với máu, rượu và gạo. Dù đồ vật được gọi cùng một danh từ nhưng có thể có ý nghĩa khác tùy theo  sử dụng  từ phụ « con » hay « cái » . Ví dụ sau đây thể hiện tĩnh hay động của chiếc thuyền  tùy theo sử  dụng tự phụ « cái » hay « con ». Con thuyền trôi theo dòng nước. Có nghĩa là có dùng mô tơ hay có ai chèo nên con thuyền được tiến lên. Ngược lại khi nói cái thuyền trôi theo dòng nước thì không có ai vận hành chiếc thuyền chi cả. Đây là làn sóng nước nó làm thuyền di chuyển một mình. Câu nầy muốn ghi nhận cái trạng thái  tĩnh của chiếc thuyền. Thuyền đậu thì gọi là « cái thuyền » còn thuyền chuyển động trên sông thì thường gọi là « con thuyền ». Lưỡng tính âm dương còn thể hiện rõ  ràng  qua các dụng cụ thông dùng chẳng hạn như  dao: dao cái (dao to) hay dao đực (dao rựa). 

Sự nhận xét nầy được nhà nghiên cứu và hán học  Pháp Alain Thote ghi nhận trong bài có tựa đề là « Origine et premiers développements de l’épée en Chine » (Nguồn gốc và phát triển đầu tiên của các thanh kiếm  ở Trung Hoa). Các gươm của người Việt cổ rất được nổi tiếng như  dao trủy thủ Ngư Trường  (Yuchang)(ou l’épée des entrailles de poisson)  mà Chuyên Chư  (Zhuan Zhu)  dùng để giết Ngô Vương Liêu,  vào thời Xuân Thu vân vân… Qua các thanh kiếm, có thể biết giống đực hay cái. Từ ngữ  « đực rựa » thường được nghe trong các cuộc đàm thoại để ám chỉ các người đàn ông vì họ thường mang mạ tấu hay dao rựa khi ra khỏi nhà  từ sự nhận xét của các người dân Việt. Lưỡng tính âm dương thường được thấy từ lâu ở Việtnam trong nghề trồng lúa: chồng cuốc vợ cấy. Tượng trưng giống đực (Dương),  lưỡi cày xuyên qua đất (Âm)  còn khi  lúc cấy, vợ  (Âm) truyền lại khả năng sinh sản cho các cây lúa (Dương). Để nói lên sự hoàn hảo gắn bó vợ chồng (Âm Dương), người ta thường nói: thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

Người Việt cổ rất gắn bó không những với đất mà luôn cả môi trường nơi họ sinh sống vì nhờ các hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, mây vân vân…) họ  có được có mùa mang tốt đẹp hay không.   Việc trồng lúa trên nương rẫy còn tùy thuộc sự may rủi với thời tiết. Bởi vậy người Việt cổ họ cần sống hài hoà với thiên nhiên.  Họ thường xem họ là nối gạch giữa Trời và Đất.  Từ khái niệm nầy ta thường hay nói: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Chính ba hệ số nầy dành chiến thắng cho dân tộc Việt với các nhà chiến lựơc  Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay  Quang Trung trong công cuốc chống ngọai xâm.  Người dân Việt xem trọng các hệ số nầy trong cách suy nghĩ và cuộc sống hằng ngày.  Đối với họ, cái khái niệm nầy  nó có một ảnh hưởng không chối cãi được trên con người: định mệnh thường được áp đặt theo ý trời và còn phụ thuộc theo ngày sinh tháng đẻ.   Con người  có thể hấp thụ được  linh khí tốt hay xấu (qi) mà trời đất tạo ra với môi trường trong và ngoài nơi mà con người ở. Nghệ thuật làm điều hòa linh khí môi trường sẻ làm giảm đi sự buồn phiền và mang lại sự thoả mái và sức khoẻ cho con người.   Một mãnh  đất bằng phẳng không có nhấp nhô và không có đồi  là một mãnh đất thiếu linh khí và không có sự sống.   Người Việt ám chỉ núi đồi  với  Rồng và Hổ.  Các nhà thường có Rồng xanh ở phiá tây  và hổ trắng ở  phiá đông. Con Rồng thông thường hùng tráng hơn con Hổ (Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ)  có nghĩa là núi (Rồng) phải cao hơn đồi (Hổ). Sự hài hoà được hoàn mỹ nếu điạ điểm nào được  dựa vào núi và hai bên có các dãy đồi che đở chống gió không làm phân tán đi các chi mà còn dẫn đến một cái hồ hay con sông, nơi có nước và thức ăn cho sự sống  và cũng là nơi  tụ các chi.

Cái mô hình nầy có thể thấy được qua kinh thành (hay phương thành)  Huế. Kinh thành quay mặt về phiá nam vì Kinh dịch đã viết: « Thánh nhân nam  diện nhi thính thiên hạ thí (vua quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ) ».  Với   tính cách quân sự phòng vệ, vòng thành của kinh thành nầy   được dựng  lên dựa theo kiểu thành lũy của  Vauban  và  bao gồm  một hoàng thành (hay Đại Nội) ở mặt phiá nam.  Đại Nội  nầy   cũng bị hạn chế bởi một vòng đai thứ nhì  hình chữ nhật  622×606 thước mà trong đó  lại có cung thành hay là  Tử Cấm Thành,  nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia với một vòng đai cuối cùng cũng gần như vuông (330×324  thước).  Sự chồng chéo ba vòng đai nầy  thể hiện  khái niệm Tam Tài (Thiên-Nhân-Địa).    Phía nam của kinh thành nơi có Ngọ Môn, cổng chính của hoàng thành, được dọc theo khúc cong của sông Hương. Cũng như rồng ngoạ về phiá tây, sông nầy  bò  từ nam lên Bắc  len lỏi giữa những gò đồi  rồi quay một cách đột ngột 90 độ về phiá đông. Sông Hương  gặp  hai  cù lao Dã Viên và Cổn Hến trước khi đổ ra biển, tạo ra cái « Chi Huyền Thủy »  rất phù hợp với  sơ đồ được  nói ở trên trong thế  Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ  mà được  Dã Viên và Cồn Hến tượng trưng, ngang mặt với núi Ngự Bình  cao 150 thước làm một bức bình phong thiên nhiên theo lý thuyết phong thủy.

Con người có thể tác động và thay đổi cuộc sống của mình.  Với những hành động nhân từ đối với kẻ khác, con người có thể tìm thấy được  hạnh phúc và  cải thiện được phần nào  cái nghiệp của mình. Ngày xưa ở Việtnam có một lễ quan trọng mà do triều đình nhà Nguyễn  tổ chức hàng năm. Đó là lễ tế Nam Giao.   Chính vua có quyền cúng tế Trời Đất và cha mẹ mình ở đàn Nam Giao vì vua là con của Trời. Đàn nầy  được xây dựng vào năm 1806 cách kinh thành Huế về phía nam. Đàn Nam Giao có ba tầng, tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Đia, Nhân. Mỗi tầng mang một hình dạng và màu sắc riêng tư.  Được chay tịnh lòng mình trước đó, vua lên đàn tế và cầu khẩn cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất.  Vua là  người  trung gian duy nhất giữa Trời và Đất.  Quan niệm Tam Tài cũng thưòng được nhắc đến trong các truyện cổ tích Việt Nam.  

Trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Nương được cầu hôn bởi hai vị thần hay là trong truyện Táo Quân, người phụ nữ bị phân vân giữa mối tình xưa và hiện tại.  Trong truyện trầu cau, quan niệm  tam tài dựa trên   vợ, chồng và em.  Một khi qua đời họ  trở thành dây  trầu, cây cau và đá vôi thì bộ ba nầy biểu thị  cho tiết hạnh, ngay thẳng và trong trắng.  Truyện trầu cau  phản ảnh  khái niệm cân đối hài hoà  mà được thấy trong lý thuyết Âm Dương.   Để làm miếng trầu, người ta thường phết vôi trên lá trầu. Rồi thêm vào đó vỏ của  cây chay  Artocarpus tonkinese màu vàng cam cùng vài  lát cau thái mỏng. Rồi bỏ vào miệng và nhai chậm rãi đến khi chỉ còn bã trầu mới nhổ ra sau đó.  Có đến 5 vị  trong miếng trầu:   ngọt với cau, cay với lá trầu, đắng với rễ vỏ của cây chay,  mặn với vôi và chua với nước bọt.  Hình ảnh  dây leo của cây trầu nhô ra từ đất mà được tiêu biểu  qua  đá vôi  và quấn chặt thân cây cau dong dỏng cao thẳng   nầy khiến ta nhận thấy được tính chất trung dung  giữa Âm và Dương  trong sự  hài hoà hoàn hảo.  Miếng trầu là đầu câu chuyện thuờng được nghe nói trong ngạn  ngữ của người Việt.  Sự chấp nhận ăn miếng trầu  mang nhiều ý nghĩa thường dẫn đến một lời cam kết mà không ai có thể nghĩ khước từ về sau.  Nếu đây là sự trao đổi giữa trai và gái thì nó còn  có nghĩa là một đề nghị thành hôn. Trong truyền thống của người Việt, miếng trầu là biểu tượng cho hạnh phúc vợ chồng. Vì vậy nó không thể thiếu trong lễ cưới.

Trong nền văn hóa trồng lúa nước, còn có nhiều bộ ba cũng quan trọng như Thiên Địa Nhân. Đây là trường hợp của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Con người cần có đất để trồng lúa, nước và phân bón  để làm cho đất có  màu mỡ. Cũng như con người cũng cần có cây cỏ để sinh sống và kim loại để làm dụng cụ  canh tác.  Nhưng trong trường hợp nào đi nửa, con người cũng cần có đất vì đất là yếu tố chung của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Chính vì vậy đất (hay Thổ) chiếm môt vị trí trung ương và then chốt  trong việc quản lý bốn phương.  Trong đời sống nông nghiệp, yếu tố quan trọng sau đất là nước. Bởi vậy người nông dân  thường  nói:  Nhất nước nhì phân. Như nước thuộc  về « Âm », người ta gán cho phương Bắc vì phương nầy tương thích với trời  lạnh (mùa đông). Ngược lại trong bộ ba  (Thủy, Hỏa, Thổ), yếu tố lửa đựợc  nối kết với phương nam vì nơi nầy trời nóng và nhiều ánh sáng. Còn yếu tố Mộc thường liên quan đến cây cối mà thường được nẩy nở ở mùa xuân. Bởi vậy Mộc được  chiếm ở phương tây với sư tăng trưởng của Duơng. Còn lại là yếu tố Kim với tinh chất dễ uốn nắn và đa dạng nên nó  được ở phương đông mà thường được liên nối với mùa thu. 

Người Việt thường nhận thấy ở lý thuyết Âm Dương một khái niệm luân phiên hơn là một khái niệm đối nghịch.  Hai thành tố Âm và Dương tạo thành một thực thể dẩn đến việc thiết lập một cân bằng thích hợp và hài hoà.  Đối với họ, thế giới  biểu thị  qua tất cả những qui luật tuần hoàn hơp thành bởi sự liên hợp của hai thể hiện luân phiên và bổ sung. Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âmHai thanh tố Âm và Dương được xem như là bánh xe lăn.  Vận động đến chốn, các thanh tố bắt đầu làm lại. Một khi giới hạn được đạt thì các thành tố nầy trở lại một lần nửa.

Có một lô châm ngôn dân gian có quan hệ nhân quả  biểu lộ cụ thể sự chuyển hóa của Âm Dương.  Bởi vậy thường nghe nói:  Trong rũi có may, Trong họa có phúc,   Sướng lắm khổ nhiềuTrèo cao ngã đau Yêu nhau nhiều cắn nhau đau, Của đi thay người.  Hai yếu tố Phúc và Họa  thông thường thay đổi đi ngược chiều với nhau.  Nhờ có lưỡng tính Âm Dương nầy  mà người dân Việt thường kiếm một cân bằng thích hợp trong cuộc sống hằng ngày.  Họ tìm cách có được sự  hoà thuận hoàn hảo với mọi người và thiên nhiên  luôn cả sau khi qua đời. Đây là sự việc mà người ta khám phá được ở mộ cổ Lạc Trương (Thanh Hóa) ba thế kỷ trước Công Nguyên với các đồ mai táng bằng gỗ (Dương) được chôn cất phương bắc (Âm) và các đồ bằng đất nung (Âm) thì ở phương Nam (Dương). Khái niệm cân bằng cũng được thấy rõ ở chùa chiền với Ông Thiện Ông ÁcChính nhờ triết lý cân bằng nầy mà người dân Việt có khả năng để  thích  ứng với bất cứ tình huống hay thảm họa nào đi nửa. Chính cũng nhờ nguyên tắc cân bằng nầy mà các nhà lãnh đạo Việt đã tiếp tục giữ được trong quá khứ khi có chung đụng với ngoại bang. Để tránh sĩ nhục cho quân  Mông Cỗ bị thất bại hai lần ở Việtnam, tướng Trần Hưng Đạo đề nghị cống nạp cho Hốt Tất Liệt để có được  hoà bình bền lâu. Sau khi thắng quân Minh, Nguyễn Trãi  không gần ngại thả Vuơng Thông trở về Trung Hoa với  13000 quân lính  và đề nghị môt hiệp ước cống hiến 3 năm một lần hai tượng bằng kim loại mịn để đền bồi thường hai tướng nhà Minh Liễu Thăng Lương Minh bị chết lúc giao chiến.

Cũng như vua Quang Trung rất khiêm tốn và chấp nhận gữi sang Trung Hoa một sứ giã để giải  hoà với vua Càn Long sau khi tiêu diệt quân Thanh ở Hànội vào năm 1788 trong một thời gian ngắn  ngủi (6 ngày). Cũng không quên nhắc đến thái độ khéo léo của các nhà lãnh đạo cộng sản trên phương diện ngoại giao trong các cuộc xung đột với Pháp Quốc và Mỹ Quốc.  Hội nghị Genève (1954) và Paris (1972)  biểu hiện một lần nửa giải pháp   cân bằng hay phương pháp trung dung mà người dân Việt tìm thấy trong lý thuyết Âm Dương. Ở Vietnam, tất cả đồ vật nào có hình dáng tròn thuộc về Dương còn những đồ vật nào có hình vuông thuộc vế Âm. Đây là một khái niệm đã có từ thuở xa xôi mà người ta nghĩ rằng  mặt trời lại  tròn và mặt đất thì  vuông nhờ người dân Việt cổ  san bằng làm cho vuông vức  mới làm rẫy và cất nhà được. Chính với quan niệm « thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông) » nầy   mà nguời Việt cổ có thói quen chia mãnh đất ra chín lô với mô hình dựa trên chữ  tĩnh 井 (giếng nước) viết bằng chữ Hán. Lô ở trung tâm dùng để xây cái giếng còn 8 lô  xung quanh còn lại để xây cất nhà. Đây là đơn vi gia cư đâu tiên  trong xã hội nông nghiệp.  Câu châm ngôn dân gian sau đây : trời xanh như tán lọng tròn ; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông phản chiếu quá đúng cái tín ngưỡng nầy. Tổ tiên chúng ta vẫn biết trái đất tròn trong tìm thức nên khi nói  « trời tròn đất vuông » là muốn phân biệt giữa thể (cái gì tồn tại tự chính nó) như trời   và dụng (cái gì được  dùng khi được san bằng) như đất. 

[ Âm Dương trong đời sống dân Việt: phần 2]


Tài liệu tham khảo

–Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
–Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống đồng giữa học giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18. 
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Thái văn Kiểm: Việt Nam quang hoa . Nhà sách Xuân Thu. USA
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net) 
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001. 
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36. 
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556) …..

La pagode du Maître (Chùa Thầy)

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

 Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số, chùa Thầy  tọa lạc  ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, xã Sài Sơn và được xây dựng từ thời nhà Đinh. Chùa nầy là một trong ba chủa nổi tiếng nhất ở đất Hà Thành mà còn là chủa có liên quan mật thiết đến quãng đời sau cùng của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ông  thuộc thế hệ thứ 12 của  dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và còn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng Mật Tông qua những pháp thuật.  Ông là  thủy tổ múa rối nước. Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo, sáng tạo nên trò múa rối nầy  và truyền dạy cho dân chúng. Chính ở giữa hồ Long Trì mà ngày lễ hội thường  thấy ở thủy đình có trò múa rối nước.

 

Từ Đạo Hạnh không những  là một thiền sư rất uyên thâm hiểu biết mà còn là một danh nhân văn hóa. Chính vì vậy công lao của ông đóng góp với  đất nước và dân gian rất lớn  duới triều Lý cho nên ông được dân gian biết ơn sùng kính  thường gọi ông là Thầy, là Thánh hay Phật. Cuộc đời của ông cũng không thiếu màu sắc huyền thoại từ việc  hóa thân thành con trai của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, chính là vua  Lý Thần Tông sau này  đến  cái chết của ông được dân chúng thần thánh hóa trở thành cái chết đẹp và để trở thành người khác với cuộc sống mới   qua bài kệ thi tịch  của ông:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ sư kỉ độ tác kim sư.

Dịch nghĩa

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

 Ông trở thành  là người mở đầu cho dân gian  một tín ngưỡng thờ Thánh Tổ hòa trộn vào Phật giáo qua mô hình  « Tiền Phật – Hậu Thánh« . Đây cũng  là  một thể thức tôn sùng từ đó ở chùa của người dân Việt  dành cho những người có công đức hay  gần gũi và bảo trợ  dân gian. 

(*) Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội. 
Version française

Loin du centre-ville de Hanoïi de 20 km, la pagode du Maître est située au pied de la montagne Sài Sơn dans la commune du district Quốc Oai. Celle-ci fut édifiée à l’époque de la dynastie des Đinh.  Elle est  l’une des trois  pagodes  célèbres de la capitale Hanoï mais elle est liée intimement aussi à la durée de vie restante du moine zhen Từ Đạo Hạnh. Celui-ci appartint à cette époque à la douzième génération de l’école   Vinitaruci  et il fut considéré comme le représentant du bouddhisme tantrique à travers ses pouvoirs magiques. Il est aussi le créateur du spectacle des marionnettes sur l’eau. Étant passionné pour les danses et les  chansons  traditionnelles, il a appris au peuple  le théâtre populaire  ainsi que la façon de se distraire avec  les marionnettes sur l’eau.  C’est au milieu de l’étang du Dragon que se déroule fréquemment le spectacle des marionnettes sur l’eau à l’occasion des festivités locales. 

Từ Đạo Hạnh était non seulement  un moine ayant  une profonde connaissance mais aussi un illustre personnage culturel.  C’est pour cela que ses contributions étaient énormes   pour le peuple et le pays si bien que tout le monde  exprimait sa gratitude en l’appelant souvent « Maître », « Saint » ou « Bodhisattva ». Il ne manque pas la coloration mythique dans la vie de ce moine zhen. De son incarnation dans le personnage du roi Lý Thần Tông, fils de Lý Dương Hoán jusqu’à sa mort que le peuple a mystifiée en lui donnant une belle mort et une réincarnation avec une nouvelle vie à travers son  kê (une sorte de stance bouddhique): 

Le retour de l’automne n’accompagne pas celui des hirondelles,
Je désapprouve les gens continuant à s’accrocher à  leur vie avec tristesse et douleur  devant la mort
Il est déconseillé à mes disciples de  montrer trop d’attachements émotionnels à cause de moi,
Étant l’ancien maître,  j’ai incarné tant de fois pour devenir le maître d’aujourd’hui.(*)

Il  est le premier à introduire au peuple le culte des personnages déifiés dans le bouddhisme  à travers le modèle « Devant Bouddha-Derrière les Saints ou les personnages déifiés« . C’est une forme de vénération adoptée à cette époque  par les Vietnamiens pour exprimer leur gratitude envers tous ceux qui avaient la vertu et le mérite de les protéger dans le quotidien.

(*) Source : Ly Tran Poésie et littérature (Volume I), Maison d’édition des sciences sociales.

Version anglaise

Far from the city center of Hanoi by 20 km, the Master’s Pagoda is located at the foot of Sài Sơn mountain in the commune of Quốc Oai district. It was built during the Đinh dynasty. It is one of the three famous pagodas of the capital Hanoi but is also closely linked to the remaining lifespan of the monk zhen Từ Đạo Hạnh. He belonged at that time to the twelfth generation of the Vinitaruci school and was considered the representative of tantric Buddhism through his magical powers. He is also the creator of the water puppet show. Passionate about traditional dances and songs, he taught the people popular theater as well as how to entertain themselves with water puppets. The water puppet show frequently takes place in the middle of the Dragon pond during local festivities.

Từ Đạo Hạnh was not only a monk with profound knowledge but also an illustrious cultural figure. That is why his contributions were enormous for the people and the country, so much so that everyone expressed their gratitude by often calling him « Master, » « Saint, » or « Bodhisattva. » The mythical coloring is not lacking in the life of this venerable monk. From his incarnation as King Lý Thần Tông, son of Lý Dương Hoán, until his death, which the people mystified by giving him a beautiful death and a reincarnation with a new life through his kê (a type of Buddhist stance):

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

The return of autumn does not accompany that of the swallows,
I disapprove of people continuing to cling to their lives with sadness and pain before death.
My disciples are advised not to show too much emotional attachment because of me,
Being the former master, I have incarnated so many times to become today’s master.(*)

He was the first to introduce to the people the worship of deified figures in Buddhism through the model « In front Buddha – Behind Saints or deified figures. » This was a form of veneration adopted at that time by the Vietnamese to express their gratitude toward all those who had the virtue and merit to protect them in daily life.

(*) Source: Ly Tran Poetry and Literature (Volume I), Social Sciences Publishing House.

Pictures Gallery

[Return RELIGION]

Cathédrale Saint Joseph (Nhà thờ Lớn Hànội)

Version française
Version anglaise
Picture Gallery

Dựa theo mẫu nhà thờ Đức Bà Paris, nhà thờ Saint Joseph được thiết kế bỡi giám mục Paul-François Puginier theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ  Âu Châu và được xây dựng  vào năm 1884 trên khu đất mà trước đó có  chùa Báo Thiên, một chùa nổi tiếng đã có từ thời nhà Lý (thế kỷ 11) . Nhà thờ nầy thường đươc gọi là nhà thờ lớn vì ngoài kích thước hoành tráng  với  chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m có đến 5 chuông còn  được xem là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ nầy được hoàn thành vào năm 1886 sau bốn năm xây cất. Chi phí tốn kém nhờ hai đợt xổ số (đợt một năm 1883, đợt hai năm 1886). Tuy rằng bề ngoài của nhà thờ có vẻ đen tối vì ô nhiễm, nhà thờ nầy vẫn được xem là một di tích lich sữ thời kỳ Pháp thuộc và là điểm tham quan cực kỳ quan trọng đối với người du khách nước ngoài khi đến Hànội.

Basée sur le modèle de Notre Dame de Paris, l’église Saint Joseph dont les plans ont été dessinés par l’évêque  Paul-François Puginier est   du style néo-gothique. Elle fut construite  en 1884  sur l’emplacement de la pagode Báo Thiên, un édifice bouddhique très connu à l’époque de la dynastie des Lý (XIème siècle).  Cette église est fréquemment appelée « grande église » car outre ses dimensions imposantes avec sa longueur de 64,5 mètres, sa largeur de  20,5 mètres  et ses deux clochers carrés hauts de 31 mètres et  équipés de 5 cloches, elle est encore  l’église-mère de l’archidiocèse d’Hanoï. Sa réalisation fut terminée en 1886 après 4 années de construction avec l’argent alimenté par le système de loterie (organisé en 1883 et en 1886). Malgré son aspect extérieur assombri par la pollution, cette église est un vestige historique de l’époque coloniale française et devient actuellement l’un des sites  extrêmement importants pour les touristes étrangers lors de leur passage à Hanoï.

English version

Based on the model of Notre Dame de Paris, Saint Joseph Church, whose plans were drawn by Bishop Paul-François Puginier, is in the neo-Gothic style. It was built in 1884 on the site of the Báo Thiên pagoda, a very well-known Buddhist building during the Lý dynasty (11th century). This church is often called the « great church » because, in addition to its imposing dimensions with a length of 64.5 meters, a width of 20.5 meters, and two square bell towers 31 meters high equipped with 5 bells, it is also the mother church of the Archdiocese of Hanoi. Its construction was completed in 1886 after 4 years of building, funded by a lottery system (organized in 1883 and 1886). Despite its exterior darkened by pollution, this church is a historical relic of the French colonial era and has become one of the extremely important sites for foreign tourists during their visit to Hanoi.
 
Eglise Saint Joseph

[RETURN]

Lotte center (Hànội)


Version française
Version anglaise

Tọa lạc ở giữa thành phố Hànội trong quận Ba Đình, trung tâm  Lotte center Hànôi   gồm 65 tầng nổi và 5 tầng hầm. Toà nhà nầy cao thứ 2 Việt Nam từ năm 2014 cho tới khi landmark 81 của Saigon  vượt qua chiều cao của nó 2017 (bề cao 461,5m). Nơi nầy, ngoài khách sạn 5 sao, còn có  đại siêu thị Lotte Mart chiếm toàn bộ tầng hầm B1. Từ tầng 1 đến tầng 6  là trung tâm thương mại với các mặt hàng thời trang cao cấp. Đến đây , có thể nhìn thấy tổng quát Hà thành với  đài quan sát  Sky Walk ở tầng 65, cao tới 272 m.  Ngoài ra còn bố trí các quán bar để du khách giải lao và ăn uống. 

 

Trung Tâm Lotte

Le gratte-ciel Lotte center  est situé au cœur de la capitale de Hànội dans le district de Ba Đình.  Il a 65  étages et 5 étages en sous-sol.  Classé deuxième au Vietnam depuis 2014, il est devancé désormais par le gratte-ciel landmark 81 de Saigon. Ce dernier  a la  hauteur de 461,5m.  C’est ici qu’outre l’hôtel 5 étoiles, il y a encore le supermarché Lotte Mart. Celui-ci  occupe  carrément  l’étage en sous-sol B1. Du premier étage jusqu’au 6ème étage, c’est le centre commercial avec des boutiques de mode. La tour d’observation Sky Walk haute de 272m est  au 65 ème étage. On peut y avoir la vue d’ensemble  magnifique  de la capitale Hanoï.  Le cadre est aussi superbe avec les bars et restaurants. Les visiteurs peuvent  s’y  détendre.

The Lotte Center skyscraper is located in the heart of the capital Hanoi, in the Ba Đình district. It has 65 floors and 5 basement levels. Ranked second in Vietnam since 2014, it is now surpassed by the Landmark 81 skyscraper in Saigon. The latter has a height of 461.5m. Here, in addition to the 5-star hotel, there is also the Lotte Mart supermarket, which occupies the entire B1 basement floor. From the first floor to the 6th floor, there is a shopping center with fashion boutiques. The Sky Walk observation tower, 272m high, is on the 65th floor. You can enjoy a magnificent overall view of the capital Hanoi. The setting is also superb with bars and restaurants. Visitors can relax there.

 

[RETURN]