Từ bao giờ có khu 36 phố phường ở Hà Nội?

Từ bao giờ có khu 36 phố phường ở Hà Nội?
Depuis quand il y a le quartier des 36 rues et corporations  à Hanoï?

Version française 
Version anglaise
Galerie des photos

Thăng Long được xuất phát từ làng Long Đỗ. Từ thế kỷ  thứ năm, vua Lý Nam Đế đã xây ở  đây « mộc thành» của nước Vạn Xuân. Nhà Đường, sau khi xâm chiếm nước ta lấy nơi nầy làm trị sở trên đất Long Đỗ và đổi tên nó ra Tống Bình.

Lý Công Uẩn dưới sự giúp đở của sư Vạn Hạnh nhận ra tiềm năng của vùng đất nầy vì nó là điểm giao nhau của các trục đường bộ và đường sông trong việc vận chuyễn hàng hóa. Vã lại nó còn  đáp ứng cho việc cân bằng  giữa các yếu tố  nước và đất hay là giữa dòng khí tốt (Rồng xanh) và dòng khí xấu (hổ trắng)   trong phong thủy mà được tướng nhà Đường Cao Biền  du nhập vào nước ta. Tục truyền Cao Biền dùng bùa phép yểm trấn thành Đại La nhưng nhờ thần Bạch Mã  trợ  giúp mà Lý Thái Tổ thành công trong  việc xây thành Thăng Long trên nền móng cũ của  thành Đại La. Đền thờ Bạch Mã vẫn  còn ngày nay ở phố Buồm (Rue des voiles). Vì vậy vào mùa thu 1010, Lý Công Uẩn mới ra quyết định dời đô từ Hoa Lư về vùng đất « Rồng cuộn, hổ ngồi ». Ngài muốn chọn một nơi để phát triển kinh tế  cho vận nước được lâu dài và tính kế lâu dài  cho con cháu được  muôn vạn thế hệ và muôn vật được phồn thịnh và phong phú.

Từ đó, ngài cần lập các công xưởng thủ công để sản xuất các hàng hóa mà triều đình cần dùng và tiêu thụ.  Không những các thợ thụ công giỏi đua nhau đến Thăng Long làm việc mà luôn cả các nông dân ở thôn quê vùng sông Hồng  lúc nhàn rỗi  cũng tham gia sản xuất các sản phẩm hàng thủ công bán cho các con buôn mà những người này họ mang về kinh thành bán lại để kiếm lời. Lúc đầu họ tụ hợp ở các phiên chợ  của bốn chợ lớn tại các cửa  ô kinh thành. Nhưng về sau vì các xưởng sản xuất của triều đình không thể cung ứng đủ nên khiến một số thương nhân dần dần tập trung tại khu phố  ở cửa Đông vì ở đây địa thế của chợ nầy rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng thuyền từ nông thôn ra kinh thành qua sông Hồng, Tô Lịch và các kênh. Phía trước mặt chợ  thời đó là đền Bạch Mã. Còn bên phải là sông Tô Lịch và thưở đó có cái cầu bắc ngang sông hiện nay đó là phố Hàng Đường. Bởi vậy ở thế kỉ 14 mới  có thành ngữ  « Kẻ Chợ » (những người của chợ) để nói đến khu phố tấp nập này. Chính  nơi nầy được gọi về sau là  khu 36 phố phường để bán các sản phẩm  thủ  công mà các làng nghề  xung quanh và ở nông thôn cung cấp. Các cửa hàng đều là những  nhà chòi dùng để làm cơ xưởng hay để buôn bán dọc theo phố (hay đường).

Tựa như các nhà ở đồng quê, các cửa hàng nầy được dựng lên bằng gỗ, tre, mái rơm và tường trét bùn. Nhà nào cũng có chum nước để ở trên mái  khi có hỏa họan  thì kéo đổ xuống mái. Quá sợ hỏa hoạn, người dân lập đền Hỏa Thần (nay nó nằm ở Hàng Điếu) để ngày rằm cầu xin thần lửa đừng gây cháy.  Kẻ Chợ dần dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào kinh thành từ thế 17 dưới sự ngự trị của các chúa Trịnh nhờ có một  loạt nghị quyết như giảm thuế, thống nhất hệ thống tiền bạc và xây dựng nhiều công trình đô thị lớn dẫn đến sự phát triển đáng kể. Các thủ công nhà buôn từ các làng nghề đổ xô về cư ngụ lâu dài ở thành phố và các nhà con buôn nước ngoài  thì bắt đầu lập chi nhánh tại kinh thành khiến làm nền kinh tế nó rất sôi động hơn. Nhờ đó mà kinh thành trở nên trung tâm buôn bán lớn nhất của miền bắc Việt Nam.

Các thợ  thủ công và các thương nhân cùng một làng quê gốc tập hợp thành các phương hội rồi cùng nhau  chuyên sản xuất hay  bán ở phường. Để kiếm hàng cần mua thì chỉ cần đến phường mà trước lối cổng vào thì có một tấm bảng ghi rõ chất  lượng và loại hàng được bán.Thời kỳ này chữ phố cũng chưa được dùng. Theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến thì chữ phố vẫn được dùng với nghĩa là bến sông. Bởi vậy mới có câu « Gác mái ngư ông về viễn phố » (nhớ về bến xa)  trong bài thơ « Chiều hôm nhớ nhà » của bà Huyện Thanh Quan.Theo nhà sử học Pháp Philippe Papin, thì chữ phố được sử dụng vào năm 1851 ở huyện Thọ Xuyên và Vĩnh Thuân nên mới có chức trưởng phố  trong  quyến sách mang tựa đề là  « Lịch sử Hà Nội ». Còn trong sách Đại Nam nhất thống chí thì có chép như sau: Hà Nội là kinh đô xưa, nguyên trước có 36 phố phường …. Còn trong cuốn « Chuyến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi  (1876) của học giả Trương Vĩnh Ký thì ông có kể ra 21 phố gồm có: Hàng Buồm, phố nầy cũng là phố Khách Trú có nhiều tiệm thuốc bắc, nhiều hàng cao lâu, Hàng Quảng Đông (Hàng Ngang hiện nay) nơi nầy cũng toàn  người khách trú ở, Hàng Mã thì gắn liền với nghề sản xuất, buôn bán đồ giấy, đồ vàng mã cúng lễ, ma chay vân vân… Như vậy chữ phố có thể ra đời từ đầu thời vua Tự Đức.

Các thợ kim hoàn xuất phát từ làng Châu Khê thì định cư ở phố Hàng Bạc. Còn thợ tiện gỗ đến từ làng Nhị Kê thì ở phố Tô Tịch vân vân…Họ luôn luôn giữ liên lạc với ngôi làng gốc của họ ở nông thôn trong việc tuyển nhân công, cung ứng nguyên liệu, ghi tên vào gia phả của làng, tham gia mỗi năm và các ngày hội của làng.


Các làng ở nông thôn trở thành các nơi cung cấp không những cho làng phố  đô thị các sản phẩm đạt trình độ kỹ thuật cao mà còn luôn cả nông phẩm cho kinh thành. Có thể nói các làng ở nông thôn và các làng phố ở kinh thành phụ thuộc lẫn nhau. Chính nhờ thế tình thần đoàn kết giữa các làng phố đô thị và các làng ở nông thôn càng chặt chẽ hơn nữa. Mỗi làng phố  đô thị được xây dựng dọc theo phố hay một đoạn của phố và lệ thuộc một hay nhiều làng cùng làm một nghề thủ công. Thời đó đăc điểm của làng phố là ở mỗi đầu của làng phố là có cổng ra vào. Các cổng nầy đều đóng lại lúc về đêm. Mỗi làng phố còn có một  bộ máy hành chánh riêng biệt cũng như có một trưởng phố, một  ngôi đình riêng tư nhầm để thờ các ông tổ của nghề hay là  các thần hoàng của các làng gốc ở nông thôn.  Dưới thời Pháp thuộc, để tránh hỏa hoạn thì chính quyền Pháp mới ra chỉ thị xây dựng lại thành phố qua  các công trình kiến trúc  kiên cố với các  ngôi nhà  hình ống mà  chúng ta được thấy ngày nay ở phố cổ Hà Nội mà họ còn  lấp đi nhiều ao hồ như hồ Hàng Đào, hồ Mã Cảnh, hồ Hàng Chuối, hồ Liên Trì vân vân…  Năm 1894, Pháp lấp đọan đầu sông Tô Lịch để xây chợ Đồng Xuân. Họ lại phá tường thành Hà Nội và các cửa thành. Nay chĩ còn duy nhất Ô Quan Chưởng hay (Ô cửa Đông) còn khúc sông Tô Lịch dưới chân thành cũng bị lấp đi.  Giờ  đây nhiều phố  chỉ còn tên mà thôi như phố Hàng Bè chớ cát bồi đưa sông ra xa nên bè mảng không còn vào được sát chân đê nữa. Như vậy đâu  còn bè mà cũng không còn chợ cái bè trên đê nữa. 

Còn các nhà hình ống nầy mang đậm phong cách phương tây nhất là mặt tiền với ban công, lô gia, hiên nhà vân vân. Còn vật liệu xây dựng thì gồm có xi măng, cốt thép, bê tông, kính vân vân … Tuy nhiên theo sử gia Pháp Philippe Papin thì các nhà ống ở Hànội là ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa. Luận chứng nầy  không hẳn là sai nếu có  dịp đến tham quan các nhà cổ  của  người Hoa ở  Hội  An.  Nhưng theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến thì  dưới thời vua Minh Mạng,  đánh thuế  cửa hàng không  căn cứ  nhà đó  buôn to hay nhỏ  hay chiều sâu mà chỉ  đo mặt tiền.  Mặt tiền rộng đóng thuế  cao, hẹp thì  thuế  ít. Vì vậy mặt tiền rộng hay thường chia ra nhiều cửa hàng. Đôi khi con trai lập gia đình và không có điều kiện mua chỗ buộc cha mẹ phải nhường một phần cửa hàng nên mới có  sự  hình thành nhà ống.  Các nhà ống tuy mặt tiền rất eo hẹp nhưng có  thể có chiều dài lên đến 60 thước. Loại nhà nầy thường có ba phần: phiá trước dùng để buôn bán hay cơ xưởng  còn ở  giữa  hay thường  có  cái sân, nơi có một nhà nhỏ xây vòm cuống giống một cái lò cao 1,8 thước để chứa các đồ  qúi giá  phòng khi cháy chớ nếu không mất trắng tay và phần cuối thì để ở.

Trong quyển sách  được mang tên là « Miêu tả về vương quốc Bắc Kỳ », ông Samuel Baron, một thương gia người Anh có nhắc đến phố cổ qua một số tài liệu hình ảnh và những gì ông  mô tả  thật thú vị. Tuy rằng nhỏ hẹp so với diện tích của Việt Nam, khu phố cổ Hà Nội nó là minh chứng tiêu biểu của  nền văn hóa thương mại và đô thị của người dân Việt qua nhiều thế kỷ. Đây là một kiểu mẫu mà cần thiết phải biết tường tận để hiểu rõ  được cái cấu trúc truyền thống của đô thị trong thế giới làng mạc của người  dân Việt.


Version française

Thăng Long était issue  du village de Long Đỗ. Dès le Vème siècle, le roi  Lý Nam Đế construisit ici la « citadelle en bois » du royaume de Vạn Xuân. Après avoir envahi notre pays, la dynastie des Tang a pris cet endroit comme le quartier général de son armée sur les terres de  Long Đỗ et a changé son nom en Tống Binh. Lý Công Uẩn aidé par le  moine Van Hanh, a  trouvé l’énorme  potentiel de cet endroit  car il était à  l’intersection des routes et des voies fluviales pour faciliter le transport de marchandises. De plus, il a  répondu  également à l’équilibre et l’harmonie  entre les éléments Eau et Terre ou bien  entre le souffle  bienfaisant  (Dragon vert) et le souffle malfaisant (Tigre blanc) dans la géomancie  introduite dans notre pays par le général Tang Gao Pian. La légende racontait  qu’il  se servit des sortilèges pour protéger la citadelle de Đại La, mais grâce à l’aide  apportée par le génie  « métamorphosé en Cheval Blanc », Lý Thái Tổ réussit à édifier  la citadelle de Thăng Long sur les anciennes fondations de la citadelle de Đại La. Le temple dédié au culte du Cheval Blanc  existe encore aujourd’hui  dans la rue des voiles (Phố Buồm). C’était pourquoi à l’automne 1010, Lý Thái Tổ vint de décider le transfert de la capitale, de Hoa Lư à la région où le dragon s’enroulait et le tigre était assis. Il voulait choisir un endroit pour développer l’économie à long terme et prévoir un avenir radieux avec prospérité et abondance pour dix mille  générations futures. 

Il dut créer  dès lors des usines artisanales pour produire les marchandises dont la cour royale avait besoin pour la consommation.  Il y avait non seulement des artisans talentueux  se précipitant à  travailler à Thăng Long, mais aussi des agriculteurs vivant dans les campagnes de la région du fleuve Rouge. Ces derniers,  durant leur temps libre, ont également participé à la production de produits artisanaux destinés à être vendus aux intermédiaires  qui les ont ramenés dans la capitale pour les revendre dans le but de gagner de l’argent. Dans un premier temps, ils s’étaient rassemblés aux quatre grands marchés se trouvant tout près des  portes de la capitale. Mais comme les usines royales ne pouvaient pas approvisionner suffisamment les  produits, ils  s’étaient  progressivement regroupés  dans le quartier de la Porte Est car le terrain d’ici  était très propice au transport fluvial des marchandises  de la campagne vers la capitale en passant par le fleuve Rouge jusqu’à Tô Lich et les canaux.

À cette époque, devant le marché se trouvait le temple du Cheval Blanc (Bạch Mã). Sur sa droite il y avait la rivière Tô Lich et  un pont, le tout devenant aujourd’hui la rue  du sucre (Hàng Đường). C’était  pourquoi au 14ème siècle l’expression « Kẻ Chợ »  (ou les gens du marché) était employé  pour désigner ce quartier animé. C’était cet endroit qui devenait  plus tard  le  quartier de 36 rues et corporations  destiné à vendre tous les produits artisanaux fournis par les villages artisanaux et ruraux  aux alentours.  Les magasins  étaient entièrement  des huttes utilisées comme des ateliers de fabrication  ou des lieux pour faire du commerce tout le long de la rue.

Analogues à des maisons de campagne, ces magasins étaient  construits en bois et en bambou, avec des toits de paille et des murs enduits de boue. Chaque maison possédait  une jarre d’eau sur le toit qui, en cas d’incendie, pouvait  être renversée  sur le toit pour éteindre le feu. Étant effrayés par le feu, les gens ont décidé de construire  un temple  destiné au génie du feu (situé aujourd’hui dans la rue des pipes) pour lui demander de ne pas provoquer d’incendie tout le 15ème  jour du mois lunaire.  Kẻ  Chợ s’’était  progressivement échappé de la dépendance de la capitale depuis le XVIIème siècle sous le règne des seigneurs Trinh grâce à une série de résolutions telles que la réduction des impôts, l’unification du système monétaire et la réalisation de nombreux  projets urbains conduisant à un développement important. Les artisans  commerçants  des villages artisanaux affluèrent vers la capitale pour y vivre de manière permanente et les commerçants étrangers commencèrent à ouvrir aussi des succursales dans la capitale, ce qui rendait  l’économie plus dynamique. Grâce à cela, la capitale était  devenue ainsi  le plus grand centre commercial dans le  nord du Vietnam.

Les artisans et les commerçants d’un même village se regroupaient en corporations et se spécialisaient ensemble dans la production ou la vente dans le quartier. Pour trouver les produits dont vous avez besoin,  il vous suffit de vous rendre au quartier dont le portail d’entrée porte un panneau indiquant clairement la qualité et le type de produits vendus. Durant cette période, le mot rue n’était pas utilisé. Selon l’écrivain Nguyễn Ngoc Tiến, le mot rue était encore employé  pour désigner le quai fluvial. C’est pourquoi il y a la phrase « En déposant la rame, le pêcheur  se dépêche de retourner à la rive lointaine » dans le poème «L’après-midi  teinté de nostalgie» de Mme Huyện Thanh Quan. Selon l’historien français Philippe Papin, le mot « rue » était utilisé en 1851 dans les districts de Thọ Xuyên et Vĩnh Thuận. C’est pour cela que  le poste du chef de la rue est apparu  dans son  livre intitulé « Histoire de Hanoi ».

Dans le livre intitulé  Đai Nam Nhất Thống Chí (Géographie du Viet Nam), il est écrit ainsi: Hanoï était l’ancienne capitale, elle comptait à l’origine 36 rues etc. Dans le livre « Un voyage au Tonkin de  l’année du cochon en bois (1876) » de l’érudit Trương Vĩnh Ký, il a répertorié 21 rues dont: Hàng Buồm (Rue des voiles). Cette rue étant aussi la rue des immigrants chinois  avec de nombreux magasins de médecine traditionnelle et des restaurants chinois , Hàng Quảng Đông  c’était la rue des Cantonnais à l’époque française (rue Hang Ngang d’aujourd’hui), Hàng Mã  (Rue du cuivre à l’époque française) était  associée à la production et au commerce de papiers votifs, des objets de funérailles, etc. Le mot rue pourrait donc être né dès le début du règne du roi Tự Đức.

Les bijoutiers venus du village de Châu Khê s’étaient installés dans la rue des changeurs (Hàng Bạc). Quant aux tourneurs sur bois du village de Nhi Kê, ils habitaient dans la rue Tô Tịch et ainsi de suite… Ils gardaient toujours le contact avec leur village d’origine à la campagne en recrutant des ouvriers, en fournissant du matériel, en inscrivant leurs noms dans la généalogie du village et en participant chaque année aux fêtes villageoises.

Les villages ruraux étaient  devenus ainsi  des lieux qui approvisionnaient non seulement les villages urbains en produits de haute technologie mais aussi en produits agricoles pour la capitale. On peut dire que les villages de la campagne et les villages de la capitale dépendaient les uns des autres. Grâce à  cette interdépendance, l’esprit de solidarité entre les villages urbains et les villages ruraux était encore plus serré. Chaque village urbain était construit le long d’une rue ou d’un tronçon de rue et dépendait d’un ou plusieurs villages exerçant le même métier.

A cette époque, la particularité du village résidait sur le fait qu’à chaque extrémité du village il y avait toujours un portail d’entrée qui était fermé durant la nuit. Chaque village disposait  également d’un appareil administratif distinct ayant un chef de village, une maison communale dédiée  au culte des ancêtres du métier ou  des génies du village dont les gens étaient issus. 

Durant la période coloniale française, afin d’éviter les incendies, le gouvernement français prit la décision de réorganiser la ville au moyen des travaux architecturaux avec des maisons tubulaires que l’on voit aujourd’hui dans la vieille ville de Hanoï, mais il fit disparaître également  de nombreux étangs et lacs comme le lac Hàng Đào, lac Mã Cảnh, lac Hàng Chuối, lac Liên Trì  etc. pour construire les maisons et les bâtiments publics. En 1894, les Français ont asséché la partie supérieure de la rivière Tô Lich pour construire le marché de  Đồng Xuân. Ils ont de nouveau détruit les murs de la citadelle de Hanoi et ses portes. Il ne restait désormais que la porte Quan Chưởng  (porte  de l’Est) et la rivière Tô Lich en contrebas de la citadelle a également été comblée de sable et d’alluvions. À présent, de nombreuses rues n’ont plus que leur nom, comme la rue Hàng Bè (rue des radeaux), car le sable a repoussé la rivière plus loin, de sorte que les radeaux ne peuvent plus s’approcher du pied de la digue. Donc il n’y a plus de radeau. Alors  il n’y a non plus de marché des radeaux sur la digue.

Quant aux maisons tubulaires, on les voit mettre en valeur le style occidental, notamment leur  façade avec balcon, loggia, porche etc. Les matériaux de construction comprennent le ciment, les barres d’armature, le béton, le verre etc. Cependant, selon l’historien français Philippe Papin, les maisons tubulaires de Hanoï sont influencées par la communauté chinoise. Cet argument n’est pas forcément faux si on a l’occasion de visiter les anciennes maisons des Chinois à Hội An. Mais selon l’écrivain Nguyễn Ngoc Tiến, sous le règne du  roi Minh Mang, l’impôt sur les magasins n’était pas basé sur la taille ou la profondeur du magasin, mais uniquement sur la façade. Le propriétaire d’un magasin  ayant une façade relativement large doit payer une taxe plus élevée par rapport à celui possédant une  petite façade. On a intérêt de diviser  la grande façade en plusieurs petites façades donc en plusieurs boutiques. Parfois, un fils  qui se marie et n’a pas les moyens d’acheter un nouveau logement est obligé de demander à ses parents de céder une partie de leur boutique, ce qui donne naissance à la création des maisons tubulaires. Bien que celles-ci aient des façades très étroites, elles peuvent avoir une longueur allant jusqu’à 60 mètres.

Ce type de maison comporte généralement trois parties: le devant avec sa façade est réservé au commerce ou à l’atelier tandis qu’au milieu se trouve généralement  une  petite cour où on édifie  une petite maison avec un dôme  ressemblant à un four de 1,8 mètre de haut pour garder des objets de valeur en cas d’incendie  et le derrière  du magasin est destiné à l’habitation.

Dans son livre intitulé « Une description du royaume de Tonkin », le commerçant anglais Samuel Baron en a parlé avec ses illustrations et ses descriptions intéressantes. 
Malgré sa taille insignifiante par rapport à celle du Vietnam, le vieux quartier de Hanoï témoigne incontestablement de la culture commerciale et urbaine des Vietnamiens au fil de plusieurs siècles. C’est un modèle dont on a besoin pour connaître d’une manière approfondie la structure traditionnelle de la « ville » dans le monde rural des Vietnamiens.

English version

Thăng Long originated from the village of Long Đỗ. As early as the 5th century, King Lý Nam Đế built here the « wooden citadel » of the kingdom of Vạn Xuân. After invading our country, the Tang dynasty took this place as the headquarters of their army on the lands of Long Đỗ and renamed it Tống Binh. Lý Công Uẩn, aided by the monk Van Hanh, discovered the enormous potential of this place because it was at the intersection of roads and waterways, facilitating the transport of goods. Moreover, it also met the balance and harmony between the elements of Water and Earth, or between the beneficial breath (Green Dragon) and the harmful breath (White Tiger) in geomancy introduced to our country by General Tang Gao Pian. Legend has it that he used spells to protect the Đại La citadel, but thanks to the help provided by the spirit « transformed into the White Horse, » Lý Thái Tổ succeeded in building the Thăng Long citadel on the old foundations of the Đại La citadel. The temple dedicated to the worship of the White Horse still exists today on Sail Street (Phố Buồm). That is why, in the autumn of 1010, Lý Thái Tổ decided to transfer the capital from Hoa Lư to the region where the dragon curled and the tiger sat. He wanted to choose a place to develop the economy long-term and foresee a bright future with prosperity and abundance for ten thousand future generations.

He then had to create artisanal factories to produce the goods that the royal court needed for consumption. There were not only talented artisans rushing to work in Thăng Long, but also farmers living in the countryside of the Red River region. The latter, during their free time, also participated in the production of handicrafts intended to be sold to intermediaries who brought them back to the capital to resell in order to make money. At first, they gathered at the four main markets located near the gates of the capital. But since the royal factories could not supply enough products, they gradually regrouped in the East Gate neighborhood because the land there was very suitable for the river transport of goods from the countryside to the capital via the Red River to Tô Lich and the canals.

At that time, in front of the market was the White Horse Temple (Bạch Mã). To its right was the Tô Lich river and a bridge, all of which today is Sugar Street (Hàng Đường). That is why in the 14th century the expression « Kẻ Chợ » (or the market people) was used to designate this lively neighborhood.It was this place that later became the district of 36 streets and guilds, intended to sell all the handcrafted products supplied by the nearby artisanal and rural villages. The shops were entirely huts used as workshops or places for trade along the street.

Similar to country houses, these shops were built of wood and bamboo, with thatched roofs and mud-plastered walls. Each house had a water jar on the roof which, in case of fire, could be overturned onto the roof to extinguish the flames. Being afraid of fire, people decided to build a temple dedicated to the fire spirit (located today on Pipe Street) to ask it not to cause any fires on the 15th day of the lunar month. Kẻ Chợ gradually escaped dependence on the capital since the 17th century under the reign of the Trinh lords thanks to a series of resolutions such as tax reduction, monetary system unification, and the completion of many urban projects leading to significant development. Artisanal merchants from the craft villages flocked to the capital to live there permanently, and foreign traders also began opening branches in the capital, making the economy more dynamic. Thanks to this, the capital had thus become the largest commercial center in northern Vietnam.

Artisans and merchants from the same village would group together into guilds and specialize collectively in production or sales within the neighborhood. To find the products you need, you just have to go to the neighborhood whose entrance gate bears a sign clearly indicating the quality and type of products sold. During this period, the word « street » was not used. According to the writer Nguyễn Ngọc Tiến, the word « street » was still used to refer to the river quay. That is why there is the phrase « Upon laying down the oar, the fisherman hurries back to the distant shore » in the poem « Afternoon tinged with nostalgia » by Mrs. Huyện Thanh Quan. According to the French historian Philippe Papin, the word « street » was used in 1851 in the districts of Thọ Xuyên and Vĩnh Thuận. That is why the position of street chief appeared in his book entitled « History of Hanoi. »

In the book entitled Đai Nam Nhất Thống Chí (Geography of Vietnam), it is written as follows: Hanoi was the ancient capital, originally comprising 36 streets, etc. In the book « A Journey to Tonkin in the Year of the Wooden Pig (1876) » by the scholar Trương Vĩnh Ký, he listed 21 streets including: Hàng Buồm (Sail Street). This street was also the street of Chinese immigrants with many traditional medicine shops and Chinese restaurants. Hàng Quảng Đông was the street of the Cantonese during the French era (today’s Hang Ngang street). Hàng Mã (Copper Street during the French era) was associated with the production and trade of votive papers, funeral objects, etc. The word « street » could therefore have originated at the beginning of King Tự Đức‘s reign.

Jewelers from the village of Châu Khê had settled in the money changers’ street (Hàng Bạc). As for the woodturners from the village of Nhi Kê, they lived on Tô Tịch street, and so on… They always maintained contact with their native village in the countryside by recruiting workers, supplying materials, registering their names in the village genealogy, and participating each year in village festivals.

The rural villages thus became places that supplied not only the urban villages with high-tech products but also agricultural products for the capital. It can be said that the countryside villages and the capital’s villages depended on each other. Thanks to this interdependence, the spirit of solidarity between urban and rural villages was even stronger. Each urban village was built along a street or a section of a street and depended on one or more villages practicing the same trade. At that time, the uniqueness of the village lay in the fact that at each end of the village there was always an entrance gate that was closed at night. Each village also had a distinct administrative body with a village chief, a communal house dedicated to the worship of the ancestors of the trade or the village spirits from which the people originated.

During the French colonial period, to prevent fires, the French government decided to reorganize the city through architectural works with tubular houses that can still be seen today in the old town of Hanoi. However, they also caused the disappearance of many ponds and lakes such as Hang Dao Lake, Ma Canh Lake, Hang Chuoi Lake, Lien Tri Lake, etc., to build houses and public buildings. In 1894, the French drained the upper part of the To Lich River to build the Dong Xuan Market. They again destroyed the walls of the Hanoi citadel and its gates. Only the Quan Chuong Gate (the East Gate) remained, and the To Lich River below the citadel was also filled with sand and sediment. Now, many streets exist only in name, such as Hang Bè Street (Raft Street), because the sand pushed the river further away, so rafts can no longer approach the foot of the embankment. Therefore, there are no more rafts. Consequently, there is no longer a raft market on the embankment.

As for the tube houses, they are seen to highlight the Western style, particularly their façade with balcony, loggia, porch, etc. The construction materials include cement, reinforcing bars, concrete, glass, etc. However, according to the French historian Philippe Papin, the tube houses of Hanoi are influenced by the Chinese community. This argument is not necessarily false if one has the opportunity to visit the old Chinese houses in Hội An. But according to the writer Nguyễn Ngoc Tiến, under the reign of King Minh Mang, the tax on shops was not based on the size or depth of the shop, but only on the façade. The owner of a shop with a relatively wide façade had to pay a higher tax compared to one with a small façade. It was advantageous to divide the large façade into several small façades, thus into several shops. Sometimes, a son who got married and could not afford to buy a new home was forced to ask his parents to give up part of their shop, which led to the creation of tube houses. Although these have very narrow façades, they can be up to 60 meters long.

This type of house generally consists of three parts: the front with its facade is reserved for commerce or the workshop, while in the middle there is usually a small courtyard where a small house with a dome resembling a 1.8-meter-high oven is built to keep valuables safe in case of fire, and the back of the shop is intended for living quarters.

In his book titled « A Description of the Kingdom of Tonkin, » the English merchant Samuel Baron spoke about it with his illustrations and interesting descriptions. Despite its insignificant size compared to that of Vietnam, the old quarter of Hanoi unquestionably bears witness to the commercial and urban culture of the Vietnamese over several centuries. It is a model needed to gain a deep understanding of the traditional structure of the « city » in the rural world of the Vietnamese.

Galerie des photos

VILLAGE_URBAIN

[Return HANOÏ]

Bibliographie:

Nguyễn Bá  Chính : Hà Nôi Chỉ Nam. Guide de Hanoï. Nhà xuất  bản Nhã Nam, Hà Nội.
Philippe Papin : Histoire de Hanoï. Editeur Fayard.
Hữu Ngọc: Hà Nội của tôi. Nhà xuất bản Văn Học.
Nguyễn Ngọc Tiến: Làng Làng Phố Phố Hà Nội. Nhà xuất bản hội nhà văn.

Le lever du soleil ( Bình minh ở vịnh Lan Hạ)

LHB

[Return LAN HA]

Myth of the household geniuses

Version vietnamienne

Version française

The myth of the household geniuses is based on the tragic story of a woodcutter and his wife. It has its roots in Taoism. This modest couple lived happily together until the day they discovered they couldn’t have children. The unfortunate husband began to drink and abuse his wife. Unable to bear it any longer, she left him and married a hunter from a neighboring village. But one day, overcome with loneliness and remorse, the woodcutter decided to visit his wife to apologize.

Meanwhile, the hunter returned home. To avoid any misunderstanding, the young woman hid her first husband in a thatched stable near the kitchen where the hunter was smoking his game. By misfortune, an ember escaped from the fireplace and set fire to the barn.

Panic-stricken, the young woman ran to the burning barn to save her ex-husband. The hunter followed to rescue her, and all three perished in the inferno. The Jade Emperor (Ngọc hoàng), deeply moved by this sad fate, divinized the three unfortunates from his celestial throne and entrusted them with looking after the welfare of the Vietnamese people in the advantageous location of the kitchen. From then on, they became the geniuses of the home.

During the week when the genies are in heaven, the Vietnamese fear that their homes will be unprotected. To prevent any incursion of evil spirits into their homes, they erect a tall bamboo pole (cây nêu) in front of their homes, on which clay plates (or khánh in Vietnamese) vibrate sonorously in the wind to ward off the spirits. At the top of the pole floats a piece of yellow cloth bearing the Buddhist emblem.

Vietnamese kitchen

This custom has its origins in a Buddhist legend entitled “The Woodcutter’s Tết”, according to which the Vietnamese have to confront evil spirits.

It’s always on the twenty-third day of the last lunar month that each Vietnamese organizes a ceremony to send the genie of the household to heaven. Not only are fruits, delicacies and flowers placed on his altar, but also appropriate travel equipment (3 pairs of boots, 3 hats, clothes, votive papers) and three carp placed in a small bowl. At the end of the ceremony, the votive papers are burned and the carp released into a pond or river for the genie to use to fly to heaven. The genie must report everything he has seen on earth to the Jade Emperor, particularly in the home of every Vietnamese. His stay in heaven lasts six days. He must return home on New Year’s Eve until the start of the New Year.

(*) cây nêu: This is a cosmic tree linking the earth to the sky, due to the beliefs of ancient sun-worshipping peoples, including the Proto-Vietnamese, but it is also used to demarcate their territory.

Mausolée des trois empereurs Dục Đức, Thành Thái et Duy Tân

Khu lăng mộ  của 3 vị vua triều Nguyễn: Dục Đức, Thành TháiDuy Tân.

Version française
English version
Galerie des photos

So với lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn, lăng Dục Đức có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn. Khu lăng mộ hình chữ nhật, có diện tích 3.445m2, bên trong không có tượng đá như các lăng vua khác. Muốn vào lăng phải đi qua hai cổng tam quan, có mái giả bằng xi măng. Lăng Dục Đức (An lăng) nằm trên đường Duy Tân, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc Quần thể di tích cố đô Huế.

Đây là nơi yên nghỉ của 3 thế hệ làm vua triều Nguyễn, gồm: Dục Đức (cha, 1852-1883), Thành Thái (con, 1879-1954) và Duy Tân (cháu, 1900-1945). Khu di tích này có diện tích khoảng 6ha, gồm 2 công trình chính là lăng mộ vua Dục Đức cùng hoàng hậu (bên phải) và điện Long Ân (bên trái). Mộ vua Thành Thái và Duy Tân được bao quanh bởi khu tập thể cũ phía sau điện Long Ân

Comparable à d’autres mausolées des empereurs de la dynastie des Nguyễn, celui de l’empereur Dục Đức possède une architecture très simple et modeste.  Étant de forme rectangulaire, celui-ci possède  une superficie de 3 445 mètres carrés et ne contient pas  des statues de pierre à l’intérieur comme les mausolées des autres rois. Pour y entrer on doit franchir les deux portails à trois entrées avec les faux toits en ciment. Connu sous le nom An Lăng, ce mausolée est situé sur la rue Duy Tân dans le district An Cựu de la ville Huế de la province Thừa Thiên Huế et fait partie du complexe des vestiges de la ville de Huế. C’est le lieu de repos des  rois des trois générations de la dynastie des Nguyen:  Dục Đức (père, 1852-1883), Thành Thái (fils, 1879-1954) và Duy Tân (petit-fils, 1900-1945). Ce complexe  d’environ 6 hectares comprend deux bâtiments principaux: le mausolée  du roi Dục Đức  et de son épouse (à droite) et le palais de Long An (à gauche). Les mausolées de Thành Thái et Duy Tân sont entourés par l’ancien quartier collectif derrière le palais Long Ân

Comparable to other mausoleums of the emperors of the Nguyễn dynasty, that of Emperor Dục Đức has a very simple and modest architecture. Being rectangular in shape, it covers an area of 3,445 square meters and does not contain stone statues inside like the mausoleums of other kings. To enter, one must pass through the two three-entry gates with false cement roofs. Known as An Lăng, this mausoleum is located on Duy Tân street in the An Cựu district of Huế city, Thừa Thiên Huế province, and is part of the Huế city relic complex. It is the resting place of the kings of three generations of the Nguyễn dynasty: Dục Đức (father, 1852-1883), Thành Thái (son, 1879-1954), and Duy Tân (grandson, 1900-1945). This complex, covering about 6 hectares, includes two main buildings: the mausoleum of King Dục Đức and his wife (on the right) and the Long An palace (on the left). The mausoleums of Thành Thái and Duy Tân are surrounded by the old collective quarter behind the Long Ân palace.

Galerie des photos

DUC_DUC

 

 

 

Mausolée de Gia Long

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Thông thường  đến Huế hay gặp trời mưa nhưng  kỳ nầy ba ngày ở Huế (7/11/2024 -9/11/2024) , trời lại không mưa. Nhờ đó mới có dịp đi tham quan lăng của người anh hùng được người dân Nam Bộ ngưỡng mộ, vua Gia Long nhất là nay có đường đất đi đến địa phận phường Long Hồ, quận Phú Xuân, thành phố Huế và tránh được đường bộ  khoảng 16 cây số và  phải qua  sông ở bến đò Kim Ngọc. Thật là mình có duyên kỳ nầy nhất là được đi tham quan năm lăng của các vua nhà Nguyễn và di tích thành Lồi của người Chàm ở trên đồi Long Thọ  cùng một lúc trong một ngày với chú xe ôm mặc dù đường xá không tốt chi cho mấy.

Habituellement,  il fait souvent pluvieux lors de mon passage à Huế mais cette fois, j’ai la chance d’y avoir trois jours  de suite au soleil.  Grâce à cela, j’ai eu l’occasion d’aller visiter le mausolée de celui qui était adulé par les gens de la Cochinchine, le roi Gia Long.  Il y a aujourd’hui une route menant au quartier de Long Hồ dans le district de Phú Xuân  de la ville de Huế. On peut  éviter ainsi de prendre la voie terrestre d’environ 16km et la traversée à l’embarcadère Kim Ngọc. C’est chanceux pour moi cette fois de pouvoir visiter successivement  cinq mausolées  de la dynastie des Nguyễn et la citadelle Lồi des Chams sur la colline Long Thọ  dans la même journée avec un taxi-moto malgré la route mal entretenue.

Usually, it is often rainy when I visit Huế, but this time, I was lucky to have three consecutive sunny days. Thanks to this, I had the opportunity to visit the mausoleum of the one who was adored by the people of Cochinchina, King Gia Long. Today, there is a road leading to the Long Hồ neighborhood in the Phú Xuân district of Huế city. This allows one to avoid taking the approximately 16km land route and the crossing at the Kim Ngọc ferry terminal. I was fortunate this time to be able to visit successively five mausoleums of the Nguyễn dynasty and the Lồi citadel of the Chams on Long Thọ hill in the same day by moto-taxi despite the poorly maintained road.

Galerie des photos

 

 

 

[Return DYNASTIE]

 

 

 

 

 

Les costumes traditionnels des minorités ethniques (Trang phục dân tộc thiểu số)

Trang phục dân tộc thiểu số

Version française

English version

Nhuộm, dệt và thêu là những công việc chính mà được thấy ở người phụ nữ của các dân tộc thiểu số  trong việc may các  bộ trang phục truyền thống.  Các bộ nầy không chỉ có vô số phong cách khác nhau mà còn có thêm hàng loạt màu rực rỡ.

Để nhuộm vải lanh hoặc vải gai dầu, các dân tộc thiểu số như người Hmong và người  Dao Tien thường dùng đến batik. Đây là kỹ thuật « nhuộm bao vải » có nghĩa là một phần vải được bao che trước khi nhuộm để tạo hoa văn. Người Ai Cập đã sử dụng batik để quấn xác ướp của họ  có hơn 2.400 năm trước. Kỹ thuật thủ công này đang phổ biến khắp nơi ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Nam Dương. Chính ở quốc gia nầy kỹ thuật  rất được phát triển ở đảo Java  và do đó được biết đến với cái tên « batik » có nguồn gốc từ  đảo nầy. Kỹ thuật nầy dựa hoàn toàn trên việc áp dụng sáp trước trên nền.

Người ta vẽ lên vải các họa tiết bằng sáp ong đã được đun nóng  chảy. Dụng cụ vẽ nầy là một loại bút đặc biết có ngòi cong bằng đồng hoặc một số khung đập hình tam giác, những ống tre nhỏ.

Tùy thuộc vào độ phức tạp của hình họa, sáp ong có thể được áp dụng nhiều lần trên các màu sắc khác nhau trong các bể nhuộm màu. Sau đó, được nhúng vào nước sôi cho sáp được  tan hết. Các họa tiết sáng tạo màu được bao bằng sáp để bảo vệ trước khi nhuộm sẽ xuất hiện trên nền vải chàm sẫm.

Những bộ trang phục sặc sỡ và các trang điểm lộng lẫy của họ đã trở thành cùng theo ngày tháng một sức hút không thể chối từ được đối với các du khách nước ngoài khi có dịp họ đến tham quan Việt Nam và đến các vùng có các dân tộc thiểu số như Hà Giang, Cao bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa vân vân…. Nó cũng là biểu tượng cho bản sắc của  các dân tộc thiểu số trên một đất nước có 54 dân tộc.

Teinture, tissage et broderie sont les tâches principales des femmes des minorités ethniques dans la confection de leurs costumes traditionnels. Ceux-ci déploient non seulement une multitude de styles différents mais aussi une gamme de couleurs chatoyantes.  Pour teindre les tissus en lin ou en chanvre, les minorités ethniques telles que les Hmong et les Yao Tien ont recours au batik. Celui-ci  est une technique de teinture à la cire,  employée pour qu’une partie du tissu soit protégée de la teinture durant l’exécution de motifs. Les Egyptiens se servaient du batik pour envelopper leurs momies il y a plus de 2400 ans. Cette technique artisanale  se répand partout  en Chine, en Inde, au Japon et en Indonésie. C’est dans ce dernier pays qu’elle est très développée à l’île de Java  et elle prend ainsi le nom « batik » d’origine javanaise. Elle est  basée sur l’application préalable de la cire  sur le support. 

On dessine d’abord  sur le tissu, des motifs à la cire fondue. Les outils utilisés sont des stylets à réservoir en cuivre courbé, des tampons triangulaires ou de petits tubes en bambou. En fonction de la complexité du dessin, la cire peut être appliquée plusieurs fois sur  des couleurs différentes dans des bains de teinture. Puis le dernier bain fixatif est nécessaire dans l’eau bouillante  pour faire fondre entièrement  la cire. Les motifs protégés de la teinture sont apparus en clair sur fond indigo. On obtient ainsi le tissu décoré.

Leurs costumes bigarrés et leurs parures magnifiques deviennent au fil des années la force d’attraction indéniable qu’ils exercent sur les touristes étrangers lorsqu’ils ont l’occasion de visiter les régions du Vietnam où il y a une forte concentration des minorités ethniques comme Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa  etc. C’est aussi le symbole de leur identité dans un pays à 54 ethnies.

English version

Dyeing, weaving, and embroidery are the main tasks of women from ethnic minorities in making their traditional costumes. These not only display a multitude of different styles but also a range of shimmering colors. To dye linen or hemp fabrics, ethnic minorities such as the Hmong and Yao Tien use batik. This is a wax-resist dyeing technique, used to protect parts of the fabric from dye during the creation of patterns. The Egyptians used batik to wrap their mummies over 2400 years ago. This artisanal technique spread throughout China, India, Japan, and Indonesia. It is in the latter country that it is highly developed on the island of Java and thus takes the name « batik, » of Javanese origin. It is based on the prior application of wax on the material.

First, patterns are drawn on the fabric with melted wax. The tools used are copper reservoir styluses with a curved tip, triangular stamps, or small bamboo tubes. Depending on the complexity of the design, the wax can be applied several times on different colors in dye baths. Then the final fixing bath is necessary in boiling water to completely melt the wax. The patterns protected from the dye appear light against an indigo background. This is how the decorated fabric is obtained.

Their colorful costumes and magnificent finery have become over the years the undeniable force of attraction they exert on foreign tourists when they have the opportunity to visit regions of Vietnam where there is a high concentration of ethnic minorities such as Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa etc. It is also the symbol of their identity in a country with 54 ethnic groups.

 

Techniques de pêche d’autrefois au Viet Nam

Cách thức bắt cá ngày xưa ở Việt Nam

Nhũi là một dụng cụ dùng để bắt cá. Nó có hai cái cán bằng tre tréo vơi nhau dươí dạng hình chữ X mà ở giữa lại có một tấm « sáo » bện bằng những cọng tre vót nhỏ mà ở cuối đầu dưới thì có một miếng gỗ lưỡi mỏng. Khi cầm hai cán  nhũi đẩy thì một số lượng nước đi vào nhũi và thoát ra ở phiá sau qua các cọng tre chỉ còn ở lại cá,cua hay tôm. Người đi nhũi hay thường mang theo rọ tre để đựng cá.

Version française

Nhũi est un outil de pêche très efface pour attraper les poissons. Il est constitué de deux longues manches en bambou attachées  en forme de croix au milieu desquelles se trouve une armature  creuse faite avec des  petites tiges de bambou et terminée à sa partie inférieure par un  mince morceau de bois. Au moment de son utilisation, il y a une quantité d’eau qui s’y introduit et s’échappe par derrière à travers ses tiges de bambou, ce qui permet de retenir les poissons, crabes et crevettes. Le pêcheur est habitué à emmener avec lui le panier à goulots pour contenir ces crustacés. 

Version anglaise

Nhũi is a highly effective fishing tool for catching fish. It consists of two long bamboo handles attached in the shape of a cross, in the middle of which is a hollow frame made from small bamboo stalks and terminated at the bottom by a thin piece of wood. When in use, a quantity of water enters and escapes through the bamboo stems at the back, holding back fish, crabs and shrimps. The fisherman is accustomed to taking the basket with him to hold these crustaceans.

 

 

Culture du riz inondé (Canh tác trồng lúa nước)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Chính cũng ở đất nước ta với các cuộc khai quật ở đầu thế kỷ 20 mà nhà nữ khảo cổ Pháp Madeleine Colani khám phá  được văn hoá Hòa Bình (18000-10000 TCN) vào năm 1922.  Đây cũng là một nền văn hoá khởi nguồn cho nền văn minh của người Việt cổ, một nền văn minh trồng lúa nước. Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ  trong thời gian qua thì biết rõ ngày nay cư dân Hoà Bình là những người đầu tiên biết rõ về kỷ thuật  trồng lúa  nước và nông nghiệp khác như ngũ cốc vân vân…(Hang Ma chẳng hạn).

C’est aussi dans notre pays que l’archéologue française Madeleine Colani a découvert, lors des fouilles archéologiques au début du 20ème siècle, la culture de Hoà Bình (18000-10000 avant JC) en 1922. C’est aussi la culture  donnant naissance à la  civilisation des Proto-Vietnamiens, une civilisation du riz inondé. Grâce aux fouilles archéologiques dans le passé, on sait maintenant  que les habitants de Hoà Bình étaient  les premiers à connaître la culture du riz irrigué et d’autres techniques agricoles comme la culture des céréales etc. (La cave des esprits par exemple).

It was also in our country that French archaeologist Madeleine Colani discovered the Hoà Bình culture (18000-10000 BC) in 1922, during archaeological excavations in the early 20th century. This is also the culture that gave rise to the Proto-Vietnamese civilization, a civilization of flooded rice. Thanks to archaeological excavations in the past, we now know that the inhabitants of Hoà Bình were the first to know irrigated rice cultivation and other agricultural techniques such as cereal cultivation, etc. (La cave des esprits, for example).

Photos prises au Musée  d’ethnographie (Hanoï)

Culture du riz inondé

[Return CIVILISATION]

Poétesse Huyện Thanh Quan

Version française
Version anglaise

Ít ai biết tên thật của bà  trong làng văn học Việt Nam ở đầu thế kỷ XIX. Chỉ gọi bà là bà huyện Thanh  Quan vì chồng bà tên là Lưu Nghị, có  đậu cử nhân năm 1821 (Minh Mạng thứ 2) và có một thời làm tri huyện Thanh Quan (tỉnh Thái Bình). Thật sự tên thật của bà là Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tâm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, quận Tây Hồ (Hà Nội).  Cha của bà là ông Nguyễn Lý  (1755-1837) đỗ thủ khoa năm 1783  dưới  đời vua  Lê Hiến Tông. Qua các  bài thơ nôm  bi thương của bà, chúng ta thường thấy có sự nhớ thương  day dứt không nguôi, có một nỗi buồn của nữ sĩ đa tài  về những sự thay đổi của cảnh vật thâm trầm nhất là Thăng Long nơi mà sinh ra cũng không còn là kinh đô của đất nước mà là Huế. Còn chồng bà cũng bị cách chức một thời sau đó được thăng lên chức  Bát phẩm Thư lại bộ Hình và mất sớm ở tuổi 43. Bà rất nỗi tiếng « hay chữ » nhất là về loại thơ Đường. Loại thơ nầy  còn được gọi là cổ thi vì được  dùng cho việc thi cử tuyển chọn nhân tài, rất phổ biến ở Việt Nam vào thời Bắc thuộc (Nhà Đường). Bởi vậy thơ nầy mới có tên là thơ Đường.

Lọai thơ nầy chỉ vỏn vẹn có 8 câu ; mỗi câu 7 chữ tức là có tất cả là 8×7= 56 chữ  thế mà bà mô tả và dựng   lên được  một cách tài tình,  một bức tranh tuyệt vời từ ngọai cảnh lẫn nội dung. Tuy nhiên thể thơ nầy nó có luật rất chặt chẽ và được điều chỉnh bởi ba quy tắc thiết yếu :vần, điệu và đối khiến  ở Việt Nam từ 1925 thì các thi sĩ không còn tôn trọng quy luật bằng-trắc để có thể hiện  được sự lãng mạn của mình trong từng câu thơ. Nhưng những bài thơ thất ngôn bát cú của bà Thanh Quan thì phải xem đây là những  viên ngọc quý trong làng văn học Việt Nam. Bà đã thành công trong việc vẽ được một cảnh quan nhỏ bé với 56 chữ và bày tỏ cảm xúc sâu sắc  của mình một cách tinh tế  và sử dụng ngôn ngữ Hán Việt trong  thể thơ thất ngôn bát cú một cách điêu luyện.Theo nhà nghiên cứu  Trần Cửu Chấn, thành viên của Viện hàn lâm văn học và nghệ thuật Paris  thì các bài thơ của bà được xem như  là  những  viên ngọc quý được  bà chọn lọc và  gọt dũa đặt trên vương miện hay  được cắt bằng men.

Các bài thơ Đường của bà không chỉ mang tính chất cổ điển mà còn thể hiện được  sự điêu luyện trong cách dùng chữ. Bà còn có tài năng  biết biến thành những biểu tượng vô hồn như đá  (Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt), nước (Nước còn chau mặt với tang thương), hay cỏ cây (Cỏ cây chen đá, lá chen hoa) thành những  vật thể sinh động, còn mang tính và  hồn người và còn biết dùng màu sắc đậm nhạt để thể hiện sự tương phản (Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn/ Vàng tỏa non tây bóng ác tà) hay đưa quá khứ về cùng với hiện tại  (Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương/Ngàn năm gương cũ soi kim cổ)  khiến  các  bài thơ  tả cảnh của bà trở thành những bức tranh thiên nhiên  tuyệt vời cũng như các bức tranh thủy   mà họa sĩ dùng bút lông  vẽ trên lụa  với sắc thái   đậm  nhạt nhờ  quan sát chính xác.

Những bài thơ Đường của bà rất được các nho gia xưa  ngâm nga  yêu chuộng. Tuy rằng chỉ  tả cảnh và  bày tỏ nỗi cảm xúc của mình nhưng lời thơ rất thanh tao của một bà thuộc tầng lớp qúy tộc  cao  có học thức thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước. Đây là lời nhận xét của nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm. Bà có tấm lòng thương tiếc nhà Lê nhưng  đồng thời  chỉ bày tỏ  tâm sự của một người không bằng lòng với thời cục, mong mỏi sự tốt đẹp như đã có ở một thời xa xôi trước đây mà thôi. (Nghìn năm gương cũ soi kim cổ/ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường).  Cụ thể bà còn  giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi dưới thời vua Minh Mang  cûa nhà Nguyễn. Có một lần vua Minh Mạng có một bộ chén kiểu của Trung Quốc mới đưa sang và vẽ sơn thủy Việt Nam cũng như một số đồ sứ kiểu thời đó. Vua mới khoe và ban phép cho bà được làm một bài thơ nôm. Bà liền làm ngay hai câu thơ như sau :

Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang

khiến làm vua rất  hài lòng và thích thú. Phài nói  người Trung Hoa hay thường xem trọng sơn hà nên thường thấy ở trên các đồ kiểu còn ở Việt nam ta thì rất hướng về  ruộng lúa xanh tươi thế mà bà biết vận dụng  thành thạo  chữ nôm để có hai câu thơ đối  gợi ý tuyệt vời.

Nhưng sau khi chồng bà qua đời, một tháng sau bà xin  về hưu và  trở về sinh sống ở quê quán của mình cùng 4 đứa con. Bà mất đi ở tuổi 43 vào năm 1848.(1805-1848)

Các bài thơ nôm của bà tuy không nhiều chỉ có 6 bài nhưng thể hiện được tinh thần  thanh cao của các nho sĩ, cùng với tinh túy của Đường thi. Viết chữ Hán thì đã khó mà sang chữ Nôm thì càng khó hơn vì khó học mà  còn dùng lời văn  trang nhã, điêu luyện và ngắn gọn  như bà để giữ được quy tắc chặt chẽ của thơ Đường. Thật không có ai có thể bằng bà đựợc nhất là bà biết dùng ngoại cảnh để bày tỏ nỗi cô đơn  và tâm trạng của mình. Bà cũng không biết cùng ai để chia  sẻ cái ray rứt ở trong lòng (Một mảnh tình riêng ta với ta./Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?). Bà luôn luôn tiếc nuối xót xa về quá khứ với một  tâm hồn thanh cao lúc nào cũng hướng về gia đình và quê hương.

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Lom khom dưới núí, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mâý nhà
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

THĂNG LONG HOÀI CỔ

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.

CẢNH CHIỀU HÔM

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc đưa xa vẳng trống đồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu, sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

Vàng tỏa non tây bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dậm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
Còi mục gác trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước dường ngao ngán
Mấy kẻ chung tình có thấu là..?

CHÙA TRẤN BẮC

Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu
Ai đi qua đó chạnh niềm đau
Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu

CẢNH THU

Thấp thoáng non tiên lác đác mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ ?
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ ?…

Version française

Peu de gens connaissaient son vrai nom dans la communauté littéraire vietnamienne au début du XIXème siècle. On l’appelait  simplement  Madame  le sous-préfet   du  district Thanh Quan parce que son mari  Lưu Nghi fut reçu aux trois concours de la  licence en 1821 sous le règne de l’empereur  Minh Mang et fut un temps sous-préfet du district de Thanh Quan (province de Thái Binh). En fait, son vrai nom était  Nguyễn Thị Hinh. Elle était issue du village  Nghi Tâm du district de Vĩnh Thuận, près du lac de l’Ouest dans l’arrondissement de Tây Hồ (Hanoï). Son père était Mr Nguyễn Lý  (1755-1837)  ayant eu réussi  être le premier dans le concours interprovincial  en 1783 sous le règne du roi  Lê Hiến Tông. À travers à ses poèmes élégiaques, nous  remarquons toujours  la douleur et la tristesse  sempiternelle  de la poétesse talentueuse  face aux changements ayant un  profond impact au paysage, en particulier à l’ancienne capitale Thăng Long où elle est née. Cette dernière n’était  plus  la capitale du pays mais c’était plutôt Huế. Son mari fut licencié durant un certain temps avant  d’être promu au poste de secrétaire du Ministère de la Justice. Il fut décédé prématurément à l’âge de 43 ans. Elle a un penchant  pour la  versification  Tang. Ce type de poésie est également appelé la poésie antique car il est utilisé  dans les concours destinés à  recruter des gens de talent et il est  très populaire au Vietnam durant  la période de domination des gens du Nord (dynastie des Tang). C’est pourquoi il  s’appelle la poésie  des Tang.

Ce type de poème composé seulement de  8 vers de 7 pieds permet d’avoir un total de 8 × 7 = 56 mots. Pourtant la poétesse  réussit à décrire avec ingéniosité  un magnifique  tableau porté à la fois sur le  paysage externe et le contenu. Cependant, ce poème  des Tang a des règles très strictes et est régie par trois principes essentiels: la rime, le rythme et le parallélisme. Depuis 1925 au Vietnam, les poètes ne respectent plus les règles de la métrique pour s’exprimer librement dans le but d’obtenir le lyrisme dans chaque vers. Mais les poèmes des  Tang de Mme Thanh Quan doivent être considérés comme un joyau précieux dans le monde littéraire vietnamien.  Elle a réussi à  décrire et à brosser un petit paysage avec 56 mots et a exprimé ses profonds  sentiments de manière raffinée.  Elle a utilisé la langue sino-vietnamienne sous une forme poétique de 8 vers de   7 pieds avec adresse. Selon le chercheur Trần Cửu Chấn, membre de à l’Académie des Lettres et des Arts de Paris, ses poèmes Tang  sont considérés comme des perles  précieuses qu’elle  sélectionne, polit et met sur une couronne en or ou  ciselée en émail.

Ses poèmes n’ont pas seulement le caractère classique  mais ils  traduisent aussi la virtuosité  dans l’utilisation des mots. Elle a également le talent de savoir  transformer des éléments sans vie tels que la pierre (la pierre reste toujours impassible au fil du temps), l’eau (l’eau se montre indignée  devant l’instabilité des choses de la vie) ou l’herbe et les arbres (l’herbe et les arbres s’intercalent avec les rochers tandis que  les feuilles s’introduisent au sein des fleurs) en des êtres vivants  ayant la nature humaine  et l’âme et utiliser des couleurs foncée et claire  pour faire sortir les contrastes (Sous le ciel blafard, le soir ramène les ombres du crépuscule / Le jaune brille sur les montagnes de l’ouest sous les rayons du soleil couchant) ou rapprocher  le passé du présent (Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/  Sur la vieille voie  prise par les calèches, se promène l’âme des herbes d’automne)(Nền cũ lâu đài bóng tịch dương/ Les vestiges du palais somptueux sont éclairés par les rayons du soleil couchant) (Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/ Au fil des siècles, dans ce  miroir antique, on met en parallèle le passé et le présent). Cela  fait de ses poèmes Tang  décrivant des  scènes de paysage  en de merveilleuses peintures naturelles comme les aquarelles  que l’artiste  réussit à peindre au pinceau   sur le  tissu en soie avec des nuances entre le foncé et clair  à l’aide d’une observation rigoureuse.

Ses poèmes des  Tang sont  très appréciés par les anciens érudits confucéens. Bien qu’ils  ne fassent  que décrire le paysage  et exprimer ses sentiments, les  termes  employés sont tellement  raffinés  et écrits par une dame aristocratique très instruite qui pense souvent à son foyer et à son pays. C’est le commentaire du chercheur littéraire  Dương Quảng Hàm. Elle avait un attachement profond à la dynastie des Lê  mais en même temps  elle n’exprimait que les sentiments de quelqu’un qui n’était pas satisfait de la situation actuelle et  qui espérait de retrouver  ce qui existait auparavant. ( Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/Cảnh đấy người đây luống đoạn trường) (Devant ce tableau, mes entrailles se sentent déchirées en morceaux).  La preuve est qu’elle  acceptait la tâche d’enseigner les princesses et les concubines   sous le règne de l’empereur Minh Mạng de la dynastie des Nguyễn. Une fois, ce dernier reçut  un nouvel service  à thé en céramique venant de la Chine  et ayant pour décor le paysage du Vietnam. Il le montra  à ses subordonnés et demanda  à la poétesse de composer un distique. Elle ne tarda pas à  improviser  les deux sentences  suivantes:

Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang.

L’herbe et les arbres du Sud sont reproduits visiblement   sur la céramique ainsi  que  les monts et fleuves du Nord ainsi ramenés.

Sa spontanéité rendit satisfait l’empereur. Il faut reconnaitre que les Chinois font souvent attention aux montagnes et aux fleuves qu’on retrouve souvent sur les objets de décoration. Par contre au Vietnam, on s’attache   à la luxuriance des rizières. Elle réussit à  saisir l’essentiel et à composer ces deux vers parallèles tout en sachant respecter strictement  les règles de poésie des Tang. Lors du décès de son mari, un mois plus tard, elle demanda au roi de  lui permettre de désister sa fonction et retourner  à sa terre natale avec ses quatre enfants. Elle mourut en l’an 1848 lorsqu’elle n’avait que 43 ans. (1805-1848)

Étant  en nombre limité (6 en tout), ses poèmes réussissent à refléter  l’esprit noble des poètes et  la quintessence de la poésie des Tang. La composition de ces poèmes est déjà difficile en caractères chinois mais elle parait insurmontable  en  caractères démotiques dans la mesure où il faut respecter en plus les règles strictes de la poésie des Tang. Peu de gens  arrivent à l’égaler car elle sait utiliser des mots avec une rare finesse de langage pour révéler sa solitude et son état d’âme  tout en s’appuyant sur le pittoresque des scènes de la nature. Elle  ne sait non plus à qui elle peut révéler ses confidences. (Một mảnh tình riêng ta với ta./Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?). Sous le poids de son état d’âme, elle se sent seule avec soi-même. Elle continue à éprouver  des regrets et se retourner vers  le passé  avec son esprit noble et à penser sans cesse  à son foyer et à sa terre natale.

 LE COL DE LA PORTE D’ANNAM (*)

Au moment je  gravis le Col de la Porte d’Annam, les ombres du crépuscule s’allongent vers l’occident
L’herbe et les arbres s’introduisent dans les rochers, les fleurs éclosent au milieu des feuilles.
Au pied de la montagne marchent quelques bûcherons , le dos courbé sous le faix;
Sur l’autre côté de la rivière s’élève un marché formé de quelques cases éparses.
En pensant avec douleur à la patrie absente le râle d’eau gémit sans arrêts,
Oppressée par l’attachement au foyer, la perdrix pusse des cris ininterrompus.
Je m’arrête sur le chemin et ne vois autour de moi que ciel, montagnes et mer;
Sous le poids de cet état d’âme, je me sens seule avec moi-même.

CRÉPUSCULE (*)

Sous un ciel blafard, le soir ramène les ombres du crépuscule
Au loin le son de la trompe des veilleurs répond au tam-tam du poste de garde.
Déposant sa rame, le vieux pêcheur regagne sa station lointaine;
Le jeune bouvier frappant sur les cornes de son buffle, retourne au hameau solitaire.
Les oiseaux volent avec effort vers les immenses touffes d’abricotiers qui ondulent sous le vent;
Le voyageur presse le pas sur la route que bordent les saules enveloppés de brume.
Moi je reste au logis ; vous , vous êtes en voyage;
À qui pourrais-je exprimer toutes mes confidences?

(*) Extrait du livre intitulé « Les grandes poétesses du Vietnam« , Auteur Trần Cửu Chấn. éditions Thế Giới

English version

Few people knew her real name in the Vietnamese literary community at the beginning of the 19th century. She was simply called Madame the sub-prefect of Thanh Quan district because her husband Lưu Nghi passed the three licensing exams in 1821 under the reign of Emperor Minh Mang and was at one time the sub-prefect of Thanh Quan district (Thái Binh province). In fact, her real name was Nguyễn Thị Hinh. She came from Nghi Tâm village in Vĩnh Thuận district, near West Lake in Tây Hồ ward (Hanoi). Her father was Mr. Nguyễn Lý (1755-1837), who succeeded in being first in the interprovincial exam in 1783 under the reign of King Lê Hiến Tông. Through her elegiac poems, we always notice the eternal pain and sadness of the talented poetess in the face of changes that had a profound impact on the landscape, especially the ancient capital Thăng Long where she was born. The latter was no longer the country’s capital but rather Huế. Her husband was dismissed for a time before being promoted to the position of secretary of the Ministry of Justice. He died prematurely at the age of 43. She had a penchant for Tang versification. This type of poetry is also called ancient poetry because it was used in exams intended to recruit talented people and it was very popular in Vietnam during the period of Northern domination (Tang dynasty).

This type of poem composed of only 8 lines of 7 syllables allows for a total of 8 × 7 = 56 words. Yet the poetess manages to ingeniously describe a magnificent picture focused both on the external landscape and the content. However, this Tang poem has very strict rules and is governed by three essential principles: rhyme, rhythm, and parallelism. Since 1925 in Vietnam, poets no longer adhere to the rules of meter to express themselves freely with the aim of achieving lyricism in each line. But Mme Thanh Quan’s Tang poems must be considered a precious jewel in the Vietnamese literary world. She succeeded in describing and painting a small landscape with 56 words and expressed her deep feelings in a refined manner. She used the Sino-Vietnamese language in a poetic form of 8 lines of 7 syllables with skill. According to researcher Trần Cửu Chấn, a member of the Academy of Letters and Arts of Paris, her Tang poems are considered precious pearls that she selects, polishes, and places on a golden crown or engraved with enamel.

Her poems not only have a classical character but also convey virtuosity in the use of words. She also has the talent to transform lifeless elements such as stone (stone remains impassive over time), water (water shows indignation at the instability of life’s things), or grass and trees (grass and trees intermingle with the rocks while the leaves penetrate among the flowers) into living beings with human nature and soul, and to use dark and light colors to bring out contrasts (Under the pale sky, the evening brings back the shadows of twilight / Yellow shines on the western mountains under the rays of the setting sun) or to bring the past closer to the present ((Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/The old path taken by carriages, the soul of autumn grass wanders there) (Nền cũ lâu đài bóng tịch dương/The remains of the sumptuous palace are illuminated by the rays of the setting sun) (Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/ Over the centuries, in this ancient mirror, the past and present are compared). This makes her Tang poems, which describe landscape scenes, like wonderful natural paintings such as watercolors that the artist manages to paint with a brush on silk fabric with shades between dark and light through rigorous observation.

Her Tang poems are highly appreciated by ancient Confucian scholars. Although they only describe the landscape and express her feelings, the terms used are so refined and written by a highly educated aristocratic lady who often thinks of her home and country. This is the commentary of the literary researcher Dương Quảng Hàm. She had a deep attachment to the Lê dynasty but at the same time only expressed the feelings of someone who was not satisfied with the current situation and hoped to regain what existed before. ( Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/Cảnh đấy người đây luống đoạn trường) (A thousand years the old mirror reflects the present/That scene, those people, all heartbreaking) (In front of this picture, my entrails feel torn to pieces). The proof is that she accepted the task of teaching the princesses and concubines under the reign of Emperor Minh Mạng of the Nguyễn dynasty. Once, the latter received a new ceramic tea set from China decorated with the landscape of Vietnam. He showed it to his subordinates and asked the poetess to compose a couplet. She quickly improvised the following two lines:

Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang.

The grass and trees of the South are visibly reproduced on the ceramics, as well as the mountains and rivers of the North brought there.

Her spontaneity pleased the emperor. It must be acknowledged that the Chinese often pay attention to the mountains and rivers frequently found on decorative objects. In contrast, in Vietnam, the focus is on the lushness of the rice fields. She succeeded in capturing the essence and composing these two parallel verses while strictly respecting the rules of Tang poetry. Upon the death of her husband, a month later, she asked the king to allow her to resign from her position and return to her homeland with her four children. She died in the year 1848 when she was only 43 years old (1805-1848).

Being limited in number (only 6 in total), her poems manage to reflect the noble spirit of the poets and the quintessence of Tang poetry. Composing these poems is already difficult in Chinese characters, but it seems insurmountable in demotic characters since one must also strictly adhere to the rules of Tang poetry. Few people manage to equal her because she knows how to use words with rare linguistic finesse to reveal her solitude and state of mind while relying on the picturesque scenes of nature. She also does not know to whom she can reveal her confidences. (Một mảnh tình riêng ta với ta./Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?). She continues to feel regrets and to turn back to the past with her noble mind, constantly thinking of her home and her native land.

THE PASS OF THE GATE OF ANNAM (*)

As I climb the Pass of the Gate of Annam, the shadows of twilight stretch towards the west.
Grass and trees penetrate the rocks, flowers bloom amidst the leaves.
At the foot of the mountain walk some woodcutters, their backs bent under the load;
On the other side of the river rises a market made up of a few scattered huts.
Thinking painfully of the absent homeland, the water’s moan groans without stopping,
Oppressed by attachment to home, the partridge utters uninterrupted cries.
I stop on the path and see around me only sky, mountains, and sea;
Under the weight of this state of mind, I feel alone with myself.

TWILIGHT (*)

Under a pale sky, the evening brings back the shadows of twilight
In the distance, the sound of the watchmen’s horn answers the drum of the guard post.
Laying down his oar, the old fisherman returns to his distant station;
The young herdsman, striking the horns of his buffalo, returns to the solitary hamlet.
The birds fly with effort towards the vast clumps of apricot trees swaying in the wind;
The traveler quickens his pace on the road lined with willows wrapped in mist.
I stay at home; you, you are traveling;
To whom could I confide all my secrets?

(*) Excerpt from the book titled « The Great Poetesses of Vietnam, » Author Trần Cửu Chấn. Thế Giới editions

 

[Return LITTERATURE]

Con phượng hoàng (Le phénix)

Con phượng hoàng

The phoenix (Fenghuang)

Version française
English version

Cũng như kỳ lân mà người  Hoa tHạ thường dùng  để ám chỉ một cập thì con phượng hoàng (Fenghuang)  nầy cũng vậy. Phượng  hay phụng chỉ  con đực và hoàng là con cái. Nhưng người dân Việt chỉ gọi  gắn gọn con chim nầy bằng phượng hoàng  trong văn hóa. Phượng hoàng có phần tựa giống  con chim trĩ có mỏ diều hâu dài, mảo trĩ, vảy cá chép, móng chim ưng và đuôi công. Lông của nó đại diện cho màu sắc của ngũ hành: đen, trắng, đỏ, xanh và vàng. Nó là một loài chim lớn ở thời tiền sử thường được coi là con chim thần thoại trong văn hóa phương Đông và hoàn toàn khác biệt với phượng hoàng  trong khái niệm của phương tây. Theo truyền thuyết, phượng hoàng chỉ xuất hiện vào thời thái bình, và sẽ ẩn mình trong thời loạn lạc. Chim còn biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Bởi vậy chim được dùng cùng rồng để nói lên  quan hệ hạnh phúc  và quyền lực mà Thượng đế ban cho hoàng hậu (Âm) và vua (Dương). Nó còn biểu hiện   đức hạnh và vẻ duyên dáng nữa. Trong truyền thuyết « Con Rồng Cháu Tiên » của dân tộc ta thì chim là hoá thân của mẹ Tiên  Âu Cơ cùng cha rồng Lạc Long Quân.

Vậy con phượng hoàng nầy nó có nguồn gốc từ đâu? Nó có phải là con linh vật  của người Hoa Hạ hay của đại  tộc Bách Việt? Dĩ nhiên nó xuất hiện ở Trung Hoa nhưng ở trong địa bàn của dân Bách Việt bị thôn tính bởi người Hoa Hạ vì hình tượng của nó được tìm thấy sớm nhất trên các miếng ngọc và các hiện vật của nền văn  hóa Thạch Gia Hà (Shiziahé) và Lương Chữ (Lianzhu) ở vùng trung và hạ lưu của sông Dương Tử, nơi  mà người dân  có một lối sống định cư ổn định sớm cùng một hệ thống tưới tiêu ruộng lúa  bằng nguồn nước lưu giữ qua các kênh mương. Các học giả Trung Hoa xác nhận  cư dân ở đây là Vũ Nhân (羽 人) hay Vũ dân tức là những người  thờ vật  Chim và Thú tức là Tiên Rồng (truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên).Theo tự điển Hán nôm, chữ () chỉ chung một loại chim. Tại sao Tiên Rồng? Từ thưở xưa, chim  là  loại  vật có thể   bay cao vượt núi đến bồng lai tiên cảnh, nơi  cư ngụ của các tiên nữ. Còn rồng chắc chắn là thủy quái  mà trong sử nước ta  gọi là con thuồng luồng (giao long). Thời đó ở sông Dương Tử có  một loại cá sấu  nay đang ở  trong tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng. Để tránh sự tấn công của thủy quái, tộc Việt hay có tục lệ xâm mình. Bởi vậy tộc Việt ghép cho vật tổ của họ là Chim và Rồng với quan niệm song trùng lưỡng hợp  (hai thành một).

Còn tên thị tộc  Hồng Bàng  cũng từ vật tổ Chim Rồng mà ra. Ở  văn hóa Thạch Gia Hà còn thấy các hiện  vật  hình tròn bằng ngọc thể hiện chim phượng hoàng hay rồng được tạo tác một cách tinh vi. Theo nhà khoa học chính trị người Mỹ Charles E. Merriam của đại học Chicago thì đây là một phương thức  hợp pháp hóa thực nghiệm  quyền lực và giữ vai trò «miranda» [*] để buộc dân chúng phải kính trọng  hai loại vật linh thiêng nầy. Bởi vậy  cư dân ở đây có thói xâm hình rồng trên người  và  đội mũ lông chim để thể hiện điều nầy. Các tập tục nầy đều có ở dân tộc ta và được thể hiện ở trên trống Đồng Sơn. Chính  ở nơi nầy về sau  thời Chiến Quốc là địa bàn của nước Sở sau khi thôn tính được  hai  nước Ngô Việt của Ngũ Tử Tư Câu Tiễn. Chính cũng có một thưở ban sơ trong truyền thuyết  của dân tôc ta có nhắc đến họ Hồng Bàng. Cụm từ nầy cũng từ Chim Rồng mà ra. Còn nước Văn Lang, bắc tới  Hồ Động Đình, đông thì Biển Đông, tây giáp với Ba Thục, nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) thì cũng nằm hoàn toàn trong địạ bàn của nước Sở. Sự trùng hợp ngẫu nhiên nầy  càng cũng cố thêm quan điểm của Edouard Chavannes[2] và Léonard Aurousseau [3]: người Việt cổ và  các thần dân của  nước Sở có cùng chung tổ tiên:  chữ Mi ở trong  ngôn ngữ nước Sở khi dịch sang Hùng () trong tiếng Việt thì được xem là tên của các vị vua nước  Sở và các vị vua nước Việt. Dựa trên sử  ký  lịch sử của Tư Mã Thiên do E. Chavannes [2]  dịch, chúng ta còn  biết rõ  vua của nước Sở  đến từ những kẻ man rợ ở miền Nam (hay Bách Vịệt). Hùng Cừ nói: Tôi là một kẻ man rợ và tôi không nhận chức tước và tên truy tặng của  nước Trung Hoa cả.

Nói tóm lại, phượng hoàng là con linh vật của đại tộc Bách Việt. Bởi vậy ở vùng đất của đại tộc Bách Việt như ở Quảng Đông thuộc nước Nam Việt thưở xưa nay vẫn còn món ẩm thực nổi tiếng đó là món ăn có tên là Phượng trảo » (鳳爪) tức là chân gà hầm  nấu với đậu đen. Cũng có ở môt địa diểm nổi tiếng tên là Phượng hoàng cổ trấn (Fenghuang) ở tỉnh Hồ Nam trong địa bàn nước Sở của Trung quốc ngày nay. Nơi nầy còn  gìn giữ được những  nét văn hóa đặc sắc  của người Miêu (hay Hmong), một tộc trong đại tộc Bách Việt. Cần nhắc lại trong  tập Lĩnh Nam Chích Quái có kể rằng vào đời  Chu Thành Vương (Zhou Chengwang), Hùng  Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu  một con chim trĩ trắng để liên kết  sự giao hảo và thân thiện với nhà Chu trong thời bình. Có phải con chim trĩ  nầy là  con phượng hoàng không? Có người cho rằng con chim Lạc ở trên trống Đồng Sơn là tiền thân của hình tượng phượng hoàng ở những thời đại sau này.  Có đúng hay không? Sự việc  nầy chưa có phần giải đáp cho đến ngày hôm nay  nhưng chúng ta có thể xác  định một điều là người Việt cổ có tín ngưỡng thờ chim.   

[*]miranda: thuật ngữ này liên quan đến các biểu tượng đề cập đến cảm xúc của một dân tộc nhằm áp đặt sự tôn trọng hoặc sự thán phục.

                                              

Version française

Analogue à la licorne que les Chinois ont utilisée pour se référer à un couple d’animaux, le phénix (Fenghuang) l’est aussi.  Phượng  (ou phụng) désigne un mâle tandis que Hoàng  est réservée à la femelle. Les Vietnamiens appellent tout simplement le phénix sans distinction dans leur culture. Cet oiseau ressemble à un faisan avec un long bec de faucon, une crête de faisan, des écailles de carpe, des griffes d’aigle et une queue de paon. Ses plumes représentent les couleurs des cinq éléments (Wu Xing): noir, blanc, rouge, jaune et vert. C’est un grand oiseau préhistorique souvent considéré comme un oiseau mythique dans la culture de l’Orient et complètement différent du phénix trouvé dans les concepts occidentaux. Selon la légende, le phénix n’apparaît qu’en temps de paix et se cache en temps de trouble ou du désordre. Il manifeste  également l’harmonie entre le  yin et le yang. C’est pourquoi on se sert du phénix  pour évoquer à la fois  la relation heureuse et le pouvoir  que Dieu accorde à la reine (Yin) et au roi (Yang). Il est aussi le symbole de vertu  et de grâce.  Dans la légende «Le fils du dragon et le petit-fils de l’Immortelle» de notre peuple, l’oiseau est la réincarnation de la fée mère Âu  Cơ et du père dragon Lac Long Quan. Alors, d’où vient ce phénix ? Est-il  l’oiseau sacré  des Chinois ou celui des Bai Yue?

Il est apparu en Chine mais dans l’aire  des Bai  Yue annexée par les  Chinois  car son image a été retrouvée plus tôt sur les objets en jade des  cultures de  Shiziahé et Liangzhu  se trouvant respectivement  dans les  cours milieu et  inférieur du fleuve Yang Tse, où les gens avaient un mode de vie sédentaire précoce et un système d’irrigation et de drainage des rizières avec de l’eau emmagasinée via des canaux. Les érudits chinois confirment que les gens d’ici sont des Vũ Nhân (羽 人) ou des  Vũ Dân. Ce sont  les adorateurs des oiseaux et des  animaux,  càd les Enfants du Dragon et les Grands Enfants de l’Immortelle (Con Rồng Cháu Tiên). Selon le dictionnaire sino-vietnamien, le mot Vũ () fait référence à un oiseau. Pourquoi Fée-Dragon ? Dans les temps anciens, les oiseaux sont  des animaux pouvant  voler au-dessus des montagnes jusqu’à l’endroit où vivent les Immortelles. Quant au dragon, il est certainement un monstre marin qui, dans l’histoire de notre pays, s’appelle le dragon d’eau (Giao Long). À cette époque, dans le fleuve Yang Tsé, il y avait un type d’alligator  qui est maintenant en danger d’extinction. Afin d’éviter l’attaque de  ce monstre marin, les Proto-Vietnamiens avaient  coutume de se tatouer. C’est pourquoi ils  associaient  à leur totem le couple (Oiseau /Dragon) avec la notion de dualité (deux en un). Le nom du clan Hồng Bàng provient également du couple (Oiseau/Dragon).

Dans la culture de Shijiahé, il y a également des artefacts ronds en jade (phénix, dragons) et fabriqués de manière tellement sophistiquée. Selon le politologue américain Charles E. Merriam [1] de l’université de Chicago, il s’agit d’un moyen de légitimation empirique du pouvoir et de possession de la fonction «miranda» pour forcer les gens à respecter ces deux animaux sacrés. C’est pourquoi les gens d’ici aiment tatouer des dragons sur leur corps et porter des chapeaux de plumes pour les montrer. Ces coutumes  ont été retrouvées chez notre peuple et sur le tambour de bronze de  Đồng Sơn. C’est ici  qui devint plus tard durant la période des Royaumes combattants, le  territoire de l’État Chu après que ce dernier avait réussi à annexer les deux états Wu et Yue de Wu Zisu et Goujian. Dans le légendes de notre peuple, le nom patronymique Hồng Bàng est souvent mentionné. Ce nom  trouve également  toute sa source  dans les mots « Oiseau » et « Dragon ».

Etant délimité au nord par le lac Dongtin, à l’est par la mer de l’Est, à l’ouest par le royaume Ba et  au sud par le Champa, le royaume Văn Lang se trouvait entièrement dans l’aire géographique  de l’état Chu. Cette coïncidence renforce encore les points de vues d’Édouard Chavannes[2] et de Léonard Aurousseau[3] : les Proto-Vietnamiens et les sujets de l’état Chu avaient des ancêtres communs: les noms Mi de l’état  Chu  traduit en Hùng () en vietnamien étaient considérés comme les noms des rois de l’état Chu et ceux des rois vietnamiens. D’après les chroniques historiques de Sima Qian traduites par E. Chavannes [2], on sait aussi que le roi de Chu était issu des barbares (Man Di)  du Sud (ou Bai Yue). Hùng Cừ a déclaré : Je suis un barbare et je n’accepte pas de titres et de noms posthumes en provenance de  la Chine. En résumé, le phénix est l’animal sacré des Bai Yue. C’est pourquoi dans les territoires des Bai Yue, comme à Canton appartenant  autrefois au royaume de Nan Yue, il existe encore un plat célèbre appelé « Griffes de Phénix » (鳳爪), où des pattes de poulet  sont mitonnées avec des haricots noirs.  Il y a également une ancienne ville très célèbre appelée  en vietnamien « Phượng Hoàng cổ  Trấn (ou village ancien Fenghuang » dans la province du Hunan faisant partie du territoire de l’état  Chu d’autrefois où on conserve encore les caractéristiques culturelles uniques du peuple Miao (ou Hmong), l’une des tribus des Bai Yue.

Il est important de rappeler que dans le recueil intitulé  « La Sélection des contes étranges à Lĩnh Nam (Lĩnh Nam Chích Quái », il est dit que sous le règne du  roi Zhu Chengwang (Chu Thành Vương) de l’état Zhou, le roi Hùng ordonna à son ambassadeur de présenter au roi de Zhou  un faisan blanc  pour se lier de bonne relation et d’amitié avec l’état Zhou en temps de paix. Le faisan est-il le phénix évoqué ? Certains pensent que l’oiseau  Lạc sur le tambour de bronze  Đồng Sơn est le précurseur de l’image du phénix des époques ultérieures. Est-ce vrai ou pas? Ce fait n’apporte  pas de réponse jusqu’à aujourd’hui. Par contre nous pouvons  affirmer que les Proto-Vietnamiens croyaient au culte des oiseaux.

 

 

 miranda: ce terme se rapporte aux symboles s’adressant à l’émotivité d’un peuple pour lui imposer le respect ou l’émerveillement.

Analogous to the unicorn that the Chinese used to refer to a pair of animals, the phoenix (Fenghuang) is as well. Phượng (or phụng) designates a male, while Hoàng is reserved for the female. The Vietnamese simply call the phoenix without distinction in their culture. This bird resembles a pheasant with a long hawk-like beak, a pheasant crest, carp scales, eagle claws, and a peacock tail. Its feathers represent the colors of the five elements (Wu Xing): black, white, red, yellow, and green. It is a large prehistoric bird often considered a mythical bird in Eastern culture and completely different from the phoenix found in Western concepts. According to legend, the phoenix appears only in times of peace and hides in times of trouble or disorder. It also represents the harmony between yin and yang. That is why the phoenix is used to evoke both the happy relationship and the power that God grants to the queen (Yin) and the king (Yang). It is also a symbol of virtue and grace. In the legend « The Dragon’s Son and the Immortal’s Grandson » of our people, the bird is the reincarnation of the fairy mother Âu Cơ and the dragon father Lạc Long Quân. So, where does this phoenix come from? Is it the sacred bird of the Chinese or that of the Bai Yue?

It appeared in China but in the Bai Yue area annexed by the Chinese because its image was found earlier on jade objects from the Shiziahé and Liangzhu cultures located respectively in the middle and lower courses of the Yangtze River, where people had an early sedentary lifestyle and a system of irrigation and drainage of rice fields with water stored through canals. Chinese scholars confirm that the people here are Vũ Nhân (羽人) or Vũ Dân. They are worshippers of birds and animals, that is, the Children of the Dragon and the Great Children of the Immortal (Con Rồng Cháu Tiên). According to the Sino-Vietnamese dictionary, the word Vũ (羽) refers to a bird. Why Fairy-Dragon? In ancient times, birds were animals capable of flying over mountains to the place where the Immortals live. As for the dragon, it is certainly a sea monster which, in the history of our country, is called the water dragon (Giao Long). At that time, in the Yangtze River, there was a type of alligator which is now endangered. To avoid attacks from this sea monster, the Proto-Vietnamese used to tattoo themselves. That is why they associated their totem with the couple (Bird/Dragon) with the notion of duality (two in one). The name of the Hồng Bàng clan also comes from the couple (Bird/Dragon).

In the culture of Shijiahé, there are also round jade artifacts (phoenix, dragons) made in such a sophisticated manner. According to American political scientist Charles E. Merriam [1] from the University of Chicago, this is an empirical means of legitimizing power and possessing the « miranda » function to compel people to respect these two sacred animals. That is why the people here like to tattoo dragons on their bodies and wear feathered hats to show them. These customs have been found among our people and on the bronze drum of Đồng Sơn. This is the place that later, during the Warring States period, became the territory of the Chu State after it succeeded in annexing the two states Wu and Yue of Wu Zisu and Goujian. In the legends of our people, the surname Hồng Bàng is often mentioned. This name also finds its origin in the words « Bird » and « Dragon. »

Being bordered to the north by Dongtin Lake, to the east by the East Sea, to the west by the Ba kingdom, and to the south by Champa, the Văn Lang kingdom was entirely located within the geographical area of the Chu state. This coincidence further supports the views of Édouard Chavannes[2] and Léonard Aurousseau[3]: the Proto-Vietnamese and the subjects of the Chu state had common ancestors: the Mi names of the Chu state translated into Hùng () in Vietnamese were considered the names of the kings of the Chu state and those of the Vietnamese kings. According to the historical chronicles of Sima Qian translated by E. Chavannes[2], it is also known that the king of Chu descended from the southern barbarians (Man Di) (or Bai Yue). Hùng Cừ declared: I am a barbarian and I do not accept titles and posthumous names from China. In summary, the phoenix is the sacred animal of the Bai Yue. That is why in the territories of the Bai Yue, such as in Canton, formerly belonging to the Nan Yue kingdom, there still exists a famous dish called « Phoenix Claws » (鳳爪), where chicken feet are stewed with black beans. There is also a very famous ancient town called in Vietnamese « Phượng Hoàng cổ Trấn » (or ancient Fenghuang village) in Hunan province, which was part of the territory of the former Chu state, where the unique cultural characteristics of the Miao (or Hmong) people, one of the Bai Yue tribes, are still preserved.

It is important to recall that in the collection entitled « The Selection of Strange Tales in Lĩnh Nam (Lĩnh Nam Chích Quái), » it is said that during the reign of King Zhu Chengwang (Chu Thành Vương) of the Zhou state, King Hùng ordered his ambassador to present to the King of Zhou a white pheasant to establish good relations and friendship with the Zhou state in times of peace. Is the pheasant the phoenix mentioned? Some believe that the Lạc bird on the Đồng Sơn bronze drum is the precursor of the image of the phoenix in later periods. Is this true or not? This fact remains unanswered to this day. However, we can affirm that the Proto-Vietnamese believed in the worship of birds.

miranda: this term refers to symbols that appeal to the emotions of a people to impose respect or wonder upon them.

Bibliographie:

[1] Charles E. Merriam, Political power : Its composition and incidence, New York-Londres, Whittlesey House/McGraw-Hil, 1934.
[2] Edouard Chavannes :Mémoires historiques de Sseu-Ma Tsien de Chavannes, tome quatrième, page 170).
[3] Léonard Rousseau: La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). BEFO, année 1923, Vol 23, no 1.
[4] Shin’ichi Nakamura: Le riz, le jade et la ville. Évolution des sociétés néolithiques du Yangzi. Éditions de l’EHESS « Annales. Histoire, Sciences Sociales. 2005/5 60 année  pages 1009 à 1034.

[Return RELIGION]