Đình Làng (Maison communale: phần 2)

Version française

Version anglaise

Đình Làng: phần 2

Người ta thường hay nói: Cầu Nam, Chùa Bắc, Ðình Ðoài để nhắc nhở đến ba vùng đặc biệt nổi tiếng trong kiến trúc truyền thống của người dân Việt. Đình Đoài nói bóng gió vùng Đoài (Hà Đông, Sơn Tây) nơi có danh lam thắng cảnh nhất là có các đình nổi tiếng như Tây Ðằng, Mông Phụ , Chu Quyến vân vân …. Chính ở nơi gần núi và rừng nên có nhiều cây côi quý, bền và cứng rất cần thiết trong việc xây cất đình.

Nguồn gốc của chữ Đình

Đến từ văn hóa Trung Hoa, chữ đình  gọi là Ting. Mặc dù như vậy, đình làng mà tìm thấy trong kiến trúc Việt Nam nó không đúng với cái nghĩa đình của người Hoa. Họ chỉ dùng để  chỉ một ngôi nhà biệt lập với mục đích là thưởng ngoạn, một  đình trạm dành cho người lữ khách  hay một quan viên đi công tác dừng chân nghỉ khoẻ hay là một đền để thờ thần  thành lũy đời nhà Hán. Với ý nghĩa nầy thì loại đình nầy  còn thấy hiện nay là đình Trấn Ba (đình ngăn sóng)  ở đền Ngọc Sơn giửa Hồ Gươm (Hànội) hay là Thủy đình (đình rối nước) ở hồ nước bằng phẳng ở chùa Thầy. Dựa trên nguồn góc của chữ đình, các nhà chuyên gia không ngần ngại nghĩ rằng chuyện thờ thần thành lũy hay cách dùng đình của người Hoa nó soi dẫn đến chuyện đình của người dân Việt. Theo nhà báo Hữu Ngọc thì thần thành lũy được thay thế bởi thành hoàng của làng Việtnam để thích nghi và đáp ứng với sở thích của người dân Việt. Nhưng rất có nhiều lý do bác bỏ giả thuyết nầy.

Trước hết, ngôi đình Việtnam sở dĩ được vửng chãi là nhờ hệ thống tinh xảo của các  rường cột xà và được dựng trên sàn  (không có đúc nền tảng). Vì vậy  đình dễ di chuyển ngắn  hay xoay hướng  trong trường hợp  thế đình đâu tiên không đem lại kết quả mong muốn  sau nhiều thập kỷ xây dựng.  Loại kiểu xây dựng nầy làm chúng ta nghĩ đến các nhà nghiên cứu, nhất là ông Georges Coedès , một nhà nghiên cứu Pháp đã nói rằng đình chịu rất  nhiều ảnh hưởng  đến từ phong cách kiến trúc của chủng cổ Mã Lai. Sự kiện nầy nó cũng không làm chúng ta thắc mắc những gì đã khám phá trên trống đồng của người dân Việt với nhà sàn mái cong (trống đồng Ngọc Lữ).  Được biết từ lâu người Đồng Sơn (tổ tiên của  người dân Việt) định cư dọc theo bờ biển Bắc Vịệt (có từ  ngàn năm năm trước công nguyên). Họ được xem là những người  chủng cổ Mã Lai (hay  người Nam Á), dân tộc Bách Việt. Theo  Trịnh Cao Tường, một  nhà nghiên cứu  về các đình làng Vietnam thì  kiến trúc  đình còn tiếp tục duy trì  được dư âm tâm trí của người Đồng Sơn  trong cuộc sống hằng ngày của người dân Việt. Hơn nữa loại ngôi nhà nầy nó giống như nhà rông mà thường trông thấy ở các dân tộc Nam Á, nhất là  các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Tựa như đình làng, nhà rông  có một số sinh hoạt xã hội:  phòng thảo luận của ủy ban nhân dân, nhà nghỉ tạm của các lữ khách, nơi tựu tập tất cả dân làng vân vân … Có vài nơi được thấy  dùng sàn gỗ ở đình   làm ghế ngồi trong lúc  hội thảo giữa các thân hào và dân làng. Chớ không phải là những nơi thưởng ngoạn của người Trung Hoa.

Đình Mông Phụ (Sơn Tây)

 

 

Ở thế kỷ 18, người ta kiểm kê nhận thấy có khoảng chừng 11800 làng ở Vietnam.  Như vậy có nghĩa là có bao nhiêu làng thì có bao nhiêu đình.  Người dân Việt thường hay nói: Uống nước nhớ nguồn. Như vậy  lúc nào cũng có ở nơi họ lòng biết ơn đối với những có công trạng với đất nước.  Bởi vậy không có gì ngạc nhiên thấy được một số nhân vật lịch sữ hay truyển thuyết ( thần núi Tản Viên chẳng hạn)  hay ân nhân có công dạy cho dân làng một nghề gì dó  trong làng đươc làm thành hoàng ở đình. Có luôn  các người có hành động cao cả.  Hơn  nửa còn có đủ loại người được làm thành hoàng: con nít, những kẻ ăn xin và ăn cướp hay những người bi chết đột ngột đúng  giờ thiên nên họ có quyền lực siêu phàm để bảo vệ dân làng tránh được tai họa và thiên tai. Nhờ các thành hoàng mà làng tìm lại được không những yên tịnh và thịnh vượng mà tấ cả lề luật, công lí và đạo đức. Họ trở thành phần nào hiện thân cái quyền thế tối cao mà có được từ sức mạnh của làng. Tùy theo chức vụ họ làm tròn mà họ được sắc phong  theo ba cấp: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thầnHạ đẳng thần.   Họ có thể bị mất chức nếu họ không hoàn thành sứ mệnh và  nếu họ để mất đi  trật tự ở làng hay là để dân làng bị chết. Các bản sắc phong được trân trọng  giữ  gìn trong Hậu Cung và  còn là niềm tự hào không thể tả được của dân làng. Đôi khi nếu làng không có thành hoàng, dân làng buộc lòng mượn thảnh hoàng của làng kế cận hay là thế bằng thổ thần.  Còn có trường hợp hai làng cùng có chung một thành hoàng thì họ phải thương lượng để mỗi làng được có một ngày lễ được biết trước để tránh cùng chung ngày và tất cả mọi người đều tham dự bằng các gữi sang một phái đoàn  hôm có diễu hành. Ngược lại với các  đền được xây cất và sùng tu với tiền của nhà nước, các đình thì chi phí đều do dân làng tài trợ  vì đây là chuyện thờ cúng địa phương.   Sự giàu có được thấy qua việc trang trí ở đình còn tùy thuộc ở tính hào hiệp và cuộc sống sung túc  của dân làng.  Ở mỗi làng có những miếng đất  gọi là tế điền hay ruộng thần từ được khai khẩn để bảo dưỡng đình mà  ờ vài làng trước 1945, diện tích có thể lên  đến vài chục mẫu. Chính quyền sở có trách nhiệm  cai quản đình làng như một tiểu triều đình. Luật lệ và tập quán được áp dụng nơi nầy  một các nghiêm ngặt và được   tôn trọng hơn quyền lực của vua chúa thời đó.  Các phụ nữ  cấm không được vào đình.  Bởi vậy người ta thường nói: « Phép vua thua lệ làng ». (tiếp theo đình làng phần 3)

 

Đình Làng (Maison communale)

dinhlang

Version française

Đình Làng hai chữ  khó mà tách rời ra trong tâm trí của người dân Việt vì ở đâu có làng thì nơi đó cũng có một cái đình. Luôn luôn được  lợp ngói,  đình làng là một ngôi nhà  chung to lớn bằng gỗ và dựng  trên mặt đất không cần chân móng.  Ngược lại với chùa thường có cửa  để khép đóng lại, đình làng  không có vách mà cũng không có cửa,  thông ra bên ngoài một cách trực tiếp.  Mái đình rất bể thế nặng nề khó mà không nhìn thấy  từ xa  nhất là với các đầu đao uốn cong.   Nơi mà có  đình được  nghiên cứu một cách tĩ mĩ theo phép phong thủy vì nó có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của cả làng.   Đình phải được dựng thông thường ở môt nơi thoáng đãng hướng về chổ  nào có nước (hồ, giếng hay sông) để được trong tư thế tụ thủy, tụ linh và tụ phúc.  Chẳng hạn đình Tây Đằng với một ao đầy sen trước lối vào mùa hè, đình Đồng Ky (Từ Sơn, Bắc Ninh) được dựng ngang con sông hay đình Lê Mật (Gia Lâm, Hànội) với một cái giếng thoáng rộng.  Đình làng Viet Nam được xây cất  thông thuờng trong một khung cảnh cây cối xanh tươi với các cây đa cổ thụ xum xuê  có cả trăm năm, cây sứ hay cây cau vân vân….


Không thể định nghĩa vai trò của nó hơn những gỉ mà ông Paul Giran, một quan chức Pháp lo việc dịch vụ dân sự ờ Đông Dương  tường thuật lại trong cuốn sách với tựa đề:  Ma thuật và tôn giáo của người Việt ở trang  334-335, 1912:

Đình làng nơi mà thờ cúng Thành Hoàng là một chốn  cai quản cuộc sống cộng động. Chính ở nơi nầy  mà có các kỳ hợp của chư vị kỳ mục, chức sắc địa phương để giải quyết   những  vấn đề liên quan đến hành chánh và công lý nội bộ.  Cũng chính ở nơi nầy mà có các lễ nghi  tôn giáo và  diễn ra tất cả những cảnh tượng của cuộc sống hằng ngảy trong xã hội Vietnam.


Có thể ví đình như là toà thị chính của một thành phố hiện đại. Nhưng đình  được  qúi trọng hơn toà thị chính nhiều bởi vì nó có liên hệ mật thiết với tất cả dân làng. Với đình,  người dân Việt có thể tìm lại  không những cội nguồn mà luôn cả khát vọng và kỷ niệm chung ở làng, nơi mà mình sinh và lớn lên. Sự gắn bó sâu đậm với làng nhất là đình không bao giờ làm quên đi với ngày tháng những tình cảm riêng tư mà thông thường được tìm thấy trong các câu ca dao:

Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu….

hay là

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
……………………………
Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta ….

Hình ảnh ngôi  đình  nó  in sâu mật thiết vào tâm khảm mỗi  người dân Việt  từ bao thế hệ cha ông vì nó  biểu tượng  cội nguồn và bản sắc.  Từ triều nhà Lý có ra một chỉếu chỉ  qui định trên toàn lãnh thổ Vietnam  mỗi làng phải có một đình riêng tư. Từ vùng châu thổ sông Hồng, ngôi đình  theo gót chân của người dân Việt mà  phổ biến hội nhập   trong cuộc nam tiến từ thế kỷ  12 đến thế kỷ 18.  Trước hết ở miền trung Vietnam qua các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An dưới triều đại nhà Lê rồi đến Quảng Nam và Thuận Hóa dưới triều đại nhà Mạc và sau cùng ở đồng bằng sông Cửu Long đến mũi Cà Mau với các chúa Nguyễn.  Ngôi đình  phải thích nghi không những với khí hậu,  vùng đất mới và nguyên vật liệu khác mà còn luôn cả phong tục tập quán địa phương qua suốt cuộc hành trình có hàng ngàn cây số, kéo dài 4 thế kỷ. Ngoài trừ  vùng núi Tây Nguyên, cái nôi  văn hóa của các dân tộc thiểu số, ngôi đình được nổi bật khác biệt  với tính cách đa dạng  và một phong cách và kiến trúc riêng tư  được trông thấy ở  mọi vùng đất  nước.

Được xây dựng vài thế kỷ trước đó, ngôi đình miền Bắc được xem là hình mẫu tham khảo đối với người dân Việt vì nó không phải duyên dáng hơn mà nó có tính chất độc đáo.  Nó là biểu tượng chân chất của cuộc sống nông thôn Vietnam qua nhiều thế kỷ. Chính nó được  dựng  lên đầu tiên trong văn hóa nông thôn ở đồng bằng sông Hồng.  Ngôi đình miền Bắc không những là một hệ thống cột kèo chồng rường xà kết cấu  vững chắc kê trên nền gạch hay đất mà còn là một bộ khung thuần gỗ mà mái đình nén xuống  nhờ  có trọng lượng của nó. Vai trò của  các  chân cột  dùng đề đỡ mái đình là một  đặc tính  của ngôi đình làng Việtnam. Chân cột càng lớn thì ngôi đình càng vững chãi.

       Ðình Bảng ( Tiên Sơn, Bắc Ninh )

dinhvn_1dinhvn_2

Hình dạng của ngôi  đình xem rất bề thế nhờ các cột cái to tướng.  Đây là trường hợp của ngôi đình Yên Đông bị hủy diệt bởi hỏa hoạn (Quảng Ninh) và các cột cái có  đường kính đến 105 cm.  Cảm tưởng nầy thường  được minh họạ qua câu thành ngữ mà ta  thường hay nói: to như cột đình và được thấy ở ngôi đình nổi tiếng « Ðình Bảng » với 60 cột đình bằng gỗ lim và một mái nhà vĩ đại với các đầu đao hình cánh hoa sen.   (tiếp theo phần 2                                        

Đình Bảng (Bắc Ninh)

Một ngày ở phố cổ Hanoï ( Une journée dans le vieux quartier de Hanoï)

Version française
English version
Galerie des photos

Bao lần đến Hànội  thỉ mình vẫn thích ở phố cổ. Phố nầy có  thời kì phong kiến thường gọi lả khu phố buôn bán hay kẻ chợ để ám chỉ những người của chợ. Khu phố nầy tuy nó có diện tích 82 ha quá nhỏ nhưng nó rất sống động. Nó là linh hồn của Hà Thành vì nó  thể hiện được bằng ký ức và  cảm xúc qua cuộc sống hằng ngày của người Hà Thành. Từ sáng đến tối, lúc nào cũng có người ngoài đường nhưng tùy giờ mà nhịp sống nó thay đổi. Chính mình cũng cảm nhận được sự kiện nầy khiến mình rất thích thú, không chán mà còn nhận ở nơi nầy có nhiều chuyện học hỏi, những tập quán mà không còn thấy ở những  đô thị khác ở Việt Nam và cũng có nhiều nơi để mình tham quan và lưu niệm qua máy ảnh   như nhà cổ Mã Mây, cầu Long Biên, cửa Ô Quan Chưởng, đền Quán Thánh vân vân…    Nhà văn Thạch Lam đã từng nói đến Hànội băm sáu phố phường qua  cái ăn uống của người Hà Thành.

Khu phố cổ nầy nó là hiện thân của nền văn hóa thương mại  và đô thị của Viêtnam đã có hơn nghìn năm. Nó còn minh chứng cho quá trình tiến triển của Hà Thành trong những năm gần đây. Mỗi giờ  luợng người qua lại  thay đổi. Sáng cở 5 giờ ở các đường nhất là ở phố Cầu Gỗ, các người bán rong hay bán hoa thường tựu về đây để họ trang trí lại  hoa  quả theo mùa và theo ý muốn của họ. Đây là một trong những nét đẹp của phố cổ. Bao lần đến ở phố cổ thì mình cũng mất ít nhất  một buổi sáng sớm cùng các du khách  ngọai quốc  đeo đuổi một cách kính đáo các người bán rong nầy để chụp ảnh. Vừa tội nghiệp cuộc sóng bon chen của họ mà cũng vừa thích thú khi chụp được các bó bông, các trái cây  họ kết hợp bày trưng   một cách khéo léo khiến  làm màu sắc rực rỡ  và làm   tăng thêm  cái  vẻ đẹp của  các thực phẩm  họ muốn bán.  Sau đó dọc theo bờ Hồ Hoàn Kiếm lối 6, 7 giờ thì có các nguời chạy bộ thư giãn,  các đoàn thể  cùng nhau tập thể dục theo nhạc hay tài chi. Còn trước các tiệm buôn bán,  bày ra la liệt  trên vĩa hè  các thúng rau cải  xanh, trái cây  hay  các thịt sống.  Đây cũng là một lối buôn bán nầy chắc có từ lâu vì thiếu chợ ở xung quanh. Có luôn cả  các nguời bán rong thức ăn (bánh cuốn Thanh Trì, nem rán, xôi, phở bò  hay cả phê vân vân…).

Nhưng cở 10 giờ trở đi  thì các trò buôn bán nẩy không còn nửa nhường vĩa hè lại cho các tiệm buôn trong ngày.  Đường xá cũng không ngừng tiếng kèn, người qua lại cũng đông, các quán cà phê  cũng  bất đầu có người và  du khách. Khi trời không mưa, có thể đi bộ  tử phố nầy sang phố khác, mỗi phố  có nghề nghiệp riêng biệt: Hàng Đào với các khăn quang cổ bằng tơ lụa đủ màu, Hàng thuốc bắc với mùi hương của các loại thảo, Hàng Mã thì bán đồ trang trí bằng giấy để cho công việc cúng lễ nhưng cũng có phố chỉ còn cò tên chớ không còn nghề bán riêng biệt như Hàng Bè nơi mình ở. Thưở xưa, nơi nầy có chợ ở trên con  đê bán  các bè gỗ.  Muốn đi bộ thư thản  như mình cũng mất ít nhất 2, 3 tiếng vỉ mình vừa đi vừa chụp hình.  Nhưng không thể đi lâu hơn được càng về trưa càng nóng không thể tưởng tượng nhất it khi có gió lắm nhưng khi có gió bấc mủa đông thì nó lạnh thấu xuơng không thua chi ở Paris. Ở phố cổ, ăn chi cũng có nhưng tùy giá mình muốn trả mà thôi.

Có một lần ngồi ăn bún chả Hànội ở vĩa hè chỉ có tốn  25 ngàn đồng nhưng  ăn không được vì chả nó bị cháy đóng  mỡ. Còn  đến tiệm ăn nổi tiếng cùng món ăn  đó thì phải trả 110 ngàn đồng. Còn ăn cá rán dầm nước mắm với xoài hay thịt kho nước dừa, món của miền nam thỉ rất khó tìm lắm nhưng khi tìm được rồi, mình cứ đến nơi đó ăn vài lần vì  mới biết người bếp từ Saigon ra đây sinh sống nấu ăn. Vị ăn của người Bắc quá mặn còn vị của người Nam quá ngọt biết  bao giờ thống nhất được  các vị nầy chắc chắn vị  nó sẻ đậm đà cho Quê Hương …Trưa lại  lại có thể ra bờ hồ Hoàn Kiếm  hứng gió như đôi tình nhân hay nghỉ mát như các du khách ngoại quốc. Nếu thích  thì có thể đi tham quan các bảo tàng nổi tiếng như bảo tàng dân tộc học, bảo tàng lịch sử vân vân … hay  đi xem múa rối nước hoăc đến các quán cà phê via hè lúc nào cũng tấp nập người. Chiều tối, có các trò biểu diển ngoài trời (ca nhạc, hát chèo vân vân ..) nếu cuối tuần thì có khu đi bộ, có chợ đêm rất náo nhiệt. Có ở Phố cổ bao nhiêu lần như mình khó mà không có kỷ niệm, khó mà quên đựợc cái đẹp  cá biệt của nó dù biết rằng cuộc sống ở đây  rất bon chen với   thời gian và không gian cùng các ngôi nhà sâu và hẹp san sát nhau (nhà ống).

Version française

En venant à Hanoï tant de fois, je continue à aimer son vieux faubourg et préférer d’y séjourner. Son existence date de l’époque féodale. On a l’habitude de l’appeler sous le nom de « quartier marchand » ou « kẻ chợ » pour faire allusion à tous ceux qui y vivent. Malgré sa très petite superficie de 82 ha, ce quartier est très animé. Il est l’âme de Hanoï car il réussit à  incarner  souvenances  et  émotions passées  dans la vie quotidienne des Hanoïens.  Du matin jusqu’au soir, le nombre  de gens ne cesse de varier dans les rues mais en fonction du créneau horaire, le rythme de vie change dont je m’aperçois également. C’est pourquoi je suis tellement satisfait  sans me lasser car c’est ici que j’apprend  à découvrir un tas de choses, des traditions que je ne trouve plus ailleurs   dans les autres villes du Vietnam. C’est aussi ici  que je peux flâner agréablement, ressentir la richesse visuelle du faubourg   et photographier des lieux  historiques tels que  l’ancienne maison Mã Mây, le pont Long Biên (ancien pont Paul Doumer), la porte Ô Quan Chưởng, le temple Quán Thánh etc.  Le célèbre romancier Thạch Lam a l’occasion d’évoquer ce faubourg à 36 rues à travers la cuisine vietnamienne. Ce vieux  quartier  témoigne  depuis plus de 1000 ans de la culture commerciale et urbaine de la civilisation vietnamienne et de son évolution jusqu’à aujourd’hui. Le va-et-vient   des  gens varie incessamment  d’heure en heure au cours de la journée. Vers 5 heures du matin dans les rues du quartier, en particulier dans  la rue Cầu Gỗ, les marchandes ambulantes ou les fleuristes  se regroupent   pour mettre en  valeur leurs produits  à vendre (fleurs et fruits) en fonction de la saison et à leur guise.

C’est l’un des attraits de ce vieux quartier. Comme les touristes étrangers, je suis obligé de consacrer au moins une matinée pour poursuivre ces marchandes. Bien que je sois  soucieux d’éviter de les gêner dans  leur vie difficile et de les photographier de loin  avec discrétion,  je retrouve parfois  la satisfaction d’avoir de  belles photos avec  leurs bouquets de fleurs fraîches (ou fruits) aux  couleurs vives et éclatantes. Puis,  vers 6 ou 7 heures, tout le long du lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm), on voit les uns  faire du  jogging ou de la danse aérobique en groupe et  les autres du  Tai Chi. Devant les façades des boutiques de commerce, on voit s’étaler sur le trottoir une  grande variété de légumes et d’herbes soigneusement sélectionnés ou de la viande fraîche. C’est une méthode de vente datant peut-être depuis longtemps  car  je ne trouve aucun  marché aux alentours. D’autres vendeuses de rue occupent  aussi le trottoir et  proposent des spécialités culinaires de Hanoi (galettes Thanh Trì, nems, riz gluant, soupe au bœuf et aux nouilles de riz ou café etc.).

Aux alentours de 10 heures,  toutes ces activités de commerce alimentaire disparaissent et cèdent la place aux boutiques ayant pignon sur rue dans la journée. Le klaxon des motos ne cesse pas de retentir. Le va-et-vient des gens commence à gêner la circulation. Les gargotes de café se remplissent progressivement. Au cas où il fait beau, il est possible de marcher à pied et de flâner d’une rue à une autre car chaque rue a sa spécialité: rue de la soie aux écharpes multicolores, rue des médicaments au parfum d’herbes aromatiques, rue des papiers et objets  votifs  pour les temples et  les âmes errantes etc. mais il y a aussi  les rues portant les noms d’autrefois et n’ayant aucun rapport avec les produits proposés à vendre aujourd’hui. C’est le cas de la rue Hàng Bè où se trouve mon hôtel. Autrefois c’est ici qu’il y avait un marché sur une digue où on  vendait les radeaux en bois. Pour flâner dans tous les coins des rues comme moi, il faut compter au moins 2 ou 3 heures car j’ai besoin de faire la photo tout en observant tout ce qui se passe dans la rue. Mais il est impossible de faire longtemps la marche à pied car il fait tellement chaud  surtout à midi en été.  Par contre, on peut être transi de froid avec le vent glacial venant du nord comme celui de Paris en hiver.

Dans ce faubourg, le prix de la bouffe varie d’une gargote à une autre. Dans l’après-midi, on peut se détendre au lac Hồ Hoàn Kiếm ou aller visiter les musées célèbres comme le musée d’ethnographie du Vietnam, le musée de l’histoire de Hanoï, le musée des beaux-arts  etc. ou aller voir l’art scénique des marionnettes sur eau ou fréquenter  les gargotes du café pour retrouver l’ambiance d’autrefois. Le soir, les spectacles (musique, théâtre etc…) ont lieu en plein air autour du lac. En fin de la semaine, il y a des  rues interdites pour la circulation et réservées pour les piétons ainsi que le marché de nuit où  tous les produits locaux et artisanaux sont proposés  avec des prix variables. Il est difficile pour quelqu’un comme moi de ne pas avoir des souvenirs et d’oublier le charmant trait caractéristique de ce faubourg bien qu’on sache que la vie journalière de ses habitants est difficile non seulement au niveau temporel mais aussi au niveau spatial avec leurs maisons tubulaires et adossées étroitement les unes des autres.

Coming to Hanoi so many times, I continue to love its old suburb and prefer to stay there. Its existence dates back to the feudal era. It is usually called the « merchant district » or « kẻ chợ » to refer to all those who live there. Despite its very small area of ​​82 ha, this district is very lively. It is the soul of Hanoi because it succeeds in embodying past memories and emotions in the daily life of Hanoians. From morning to evening, the number of people keeps varying in the streets but depending on the time slot, the rhythm of life changes which I also notice. That is why I am so satisfied without getting tired because it is here that I learn to discover a lot of things, traditions that I no longer find elsewhere in other cities in Vietnam. It is also here that I can stroll pleasantly, feel the visual richness of the suburb and photograph historical places such as the old Mã Mây house, Long Biên Bridge (former Paul Doumer Bridge), Ô Quan Chưởng Gate, Quán Thánh Temple etc. The famous novelist Thạch Lam has the opportunity to evoke this suburb with 36 streets through Vietnamese cuisine. This old quarter has been a testament to the commercial and urban culture of Vietnamese civilization for more than 1000 years and its evolution until today. The coming and going of people varies incessantly from hour to hour during the day. Around 5 a.m. in the streets of the neighborhood, especially on Cầu Gỗ Street, street vendors or florists gather to showcase their products for sale (flowers and fruits) according to the season and as they wish.

This is one of the attractions of this old quarter. Like foreign tourists, I’m obliged to devote at least a morning to pursuing these merchants. Although I’m careful to avoid disturbing them in their difficult lives, and to photograph them discreetly from a distance, I sometimes find the satisfaction of having beautiful photos with their brightly colored bouquets of fresh flowers (or fruit). Then, at around 6 or 7 o’clock, all along the Lake of the Restored Sword (Hò Hoàn Kiếm), we see some people jogging or doing aerobic dance in groups, and others practicing Tai Chi. In front of the store fronts, you’ll see a wide variety of carefully selected vegetables and herbs, or fresh meat, spread out on the sidewalk. This may be a long-established method of selling, as I can’t find any markets in the vicinity. Other street vendors also occupy the sidewalk, selling Hanoi’s culinary specialties (Thanh Trì pancakes, egg rolls, sticky rice, beef and rice noodle soup or coffee etc.).

Around 10 a.m., all these food trading activities disappear and give way to the stores that are open during the day. The horns of motorcycles blare incessantly. The comings and goings of people begin to impede traffic flow. The coffee shops are gradually filling up. If the weather is fine, it’s possible to walk and stroll from one street to the next, as each street has its own specialty: silk street with its multicolored scarves, medicine street with its fragrant herbs, paper street and votive objects for temples and wandering souls, etc. But there are also streets with names from yesteryear that have nothing to do with the products on sale today. Such is the case of rue Hàng Bè, where my hotel is located. In the past, there was a market here on a dike where wooden rafts were sold. To stroll around every corner like I do, you need at least 2 or 3 hours, as I need to take photos while observing everything that’s going on in the street. But it’s impossible to walk for long because it’s so hot, especially at midday in summer.  On the other hand, you can freeze to death in the icy north wind, like the one blowing from Paris in winter.

In this suburb, the price of food varies from one gargote to another. In the afternoon, you can relax at Lake Hồ Hoàn Kiếm or visit famous museums such as the Museum of Vietnamese Ethnography, the Hanoi History Museum, the Fine Arts Museum, etc., or see the scenic art of water puppetry, or frequent the café gargotes to recapture the atmosphere of yesteryear. In the evenings, there are open-air shows (music, theater, etc.) around the lake. At the end of the week, there are streets closed to traffic and reserved for pedestrians, as well as the night market where all kinds of local products and crafts are on offer at varying prices. It’s hard for someone like me not to remember and forget the charming characteristic of this suburb, even though we know that the daily life of its inhabitants is difficult not only temporally but also spatially, with their closely-spaced, tubular houses.

Pictures Gallery

[Return HANOÏ]

Âm Dương trong đời sống của người dân Việt (Yin et Yang dans la vie des Vietnamiens): Phần 2


Version francaise

Version anglaise

Trong lý thuyết Âm Dương,  có nhắc đến vuông tròn là muốn nói đến sự hoàn thiện và kết hợp mỹ mãn.  Từ một hình vuông ta có thể biến hình có tám cạnh rồi tiếp tục đến 16 cạnh, cứ nhơn 2 cho đến cuối cùng tạo thành một hình tròn, một hình không còn cạnh nửa. Đây là một hình hoàn hảo  (perfectissima forma). Bởi vậy người ta thường nói « Mẹ tròn, con vuông » để chúc mừng mẹ con được dồi dào sức khoẻ lúc sinh đẻ.   Cái thành ngữ nầy được truyền lại bởi  các tiền nhân để chúng ta  lưu ý đến tính cách  sáng tạo của vũ trụ. Các hình tròn và vuông là hai hình dáng  đựợc thấy  không những qua bánh chưng bánh Tết hay là bánh Su Sê mà còn ở trên các đồng tiền đồng của Việtnam.

Sapèque
Hình dáng của các đồng tiền xưa nầy rất liên quan đến thiên văn học của người Việt cổ: sự tròn trĩnh của các đồng tiền gợi  lại Trời  tròn như cái bát úp cùng Đất qua lỗ vuông  ở giữa. Thông thường thì có một tỷ lệ phải tôn trọng ờ các đồng tiền xưa nầy: 70 phần trăm cho hình tròn và 30 phân trăm cho hình vuông. Hai dáng hình vuông tròn nầy cũng được thấy qua cây gậy tre mà trưởng nam dùng đi theo sau quan tài  trong lúc đưa  đám tang của cha. Còn nếu người qua đời là mẹ thì người con phải đi trong tư thế lùi trước  nhìn quan tài. Đây là nghi thức  « Cha đưa mẹ đón » cần phải tôn trọng trong phong tục đám tang của người dân Việt. Gậy tre  biểu tượng tính ngay thẵng và khả năng chịu đựng của cha.  Nếu là mẹ thì phải thế với cây vong để nói lên sự gian dị, dịu dàng và khéo léo.  Cây gậy phải có đầu tròn và chân hình vuông để biểu tượng Trời Đất còn thân gậy thì dành cho con cái với hàm ý là cần sự che chở của Trời Đất, giáo dục của cha mẹ và tương trợ của anh em trong xã hội. Để bày tỏ sự kính trọng đối với  người qua đời, quan khách phải lạy trước quan tài với con số chẳn (2 hoặc 4) vì người qua đời sẻ về âm phủ (Âm).  Theo nhà nghiên cứu Việt Trần Ngọc Thêm, mọi thứ liên quan chặt chẽ hoặc xa xôi đến cái chết đều phải sử dụng số chẳn (Yin=yên bình=cái chết).

Thưở xưa thường có phong tuc để trong miệng người chết một lát vàng (Dương)  để bao quản thể xác và để  tránh thối rữa.

Bàn thờ tổ tiên

Trong lúc hấp hối , người chết được  các người thân nhân cho một biệt danh (hay tên thụy) mà chỉ họ và người chết biết thôi  vì đến ngày giỗ, người chết sẻ được gọi về nhà để tham dự  cúng kiến và tránh các cô hồn. Bởi vậy người ta thường nói tên cúng cơm  để nhắc nhở  mỗi người có biệt danh. Cũng phải  chọn con số chẳn với  các bó bông dành cho tang lễ. Nhưng có một trường hợp ngoài lệ khi người chết là cha mẹ hay Phật. Thông thường trước bàn thờ  của các người nầy thường cắm ba cây nhan trong bình  hay là quỳ gối đầu đụng tới đất lạy 3 lần (số lẻ) vì lúc nào cũng xem họ là những người thân thuộc còn sống. Để bày tỏ sự kính trọng với các người cao tuổi còn sống, người ta chỉ bái 1 hay 3 lần mà thôi. Ngược lại trong lễ đám cưới, cô dâu trước khi về nhà chồng phải qùy bái cha mẹ ruột có công  sinh thành và nuôi dưởng mình nhưng chỉ lạy với số chẳn vì từ nay cô dâu kể như chết và thuộc về nhà chồng. 

Còn có một phong tục cho đêm tân hôn. Chọn một phụ nữ có nhiều con, đức hạnh vẹn toàn, được gia đình chú rể  mời đến để trực tiếp dọn giường  với đôi chiếu: 1 úp 1 mở  theo mô hình kết hợp của Âm Dương. Thưở xưa, cô dâu chú rể  hay trao đổi với nhau bằng  một nhúm đất lấy  một nhúm muối. Họ muốn thực hiện lời hứa và gắn bó với nhau suốt đời bằng cách lấy Trời Đất làm nhân chứng. Có một thành ngữ  cũng cùng một ý nghĩa: Gừng cay muối mặn để nhắc nhở vợ chồng trẻ chớ đừng bỏ nhau vì vị mặn của muối hay vị cay của gừng lại rất đậm đà và rất khó quên cũng như tình nghĩa vợ chồng rất sâu đậm và thắm thiết dù có bao thăng trầm trong cuộc sống.

Để nói đến đức hạnh, người dân Việt thường hay nói 

Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiễn đời con sang giàu

Khi nói đến ba vuông, làm ta nhớ đến  hình dáng của bánh chưng thường thấy nhân dịp Tết.  Với  những đường được vẻ  thẳng bằng  với thước vuông góc, hình dáng nầy tượng trưng lòng trung thành và tính cương trực   trong mối quan hệ của Tam Tòng: Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tữ tòng tữ. Còn 7 vòng tròn thì làm ta nhớ  sự tròn trĩnh của bánh giầy. Vòng tròn của bánh tựa như một dãy dấu chấm được cách xa đều đặn với tâm điểm nơi  mà có trái tim. Đây là tiêu biểu của một tâm hồn  rất thăng bằng mà không có  đam mê nào lay chuyển được. Chính ở đây mới thấy sự hoàn thiện của thất tình:  hỹ, nộ, ái, lạc, sĩ, ố, dục Ai mà có được một cuộc sống đạo đức nếu có được lòng trung thành và tính cương trực với mọi người và giữ đựợc mãi khoảng cách một cách cân bằng qua sự bộc lộ tình cảm của mình?

Từ  ngữ  « vuông tròn » thường được  nói đến trong một số châm ngôn dân gian của người Viêt:

Lạy trời cho đặng vuông tròn 
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!

Đấy mà xử ngãi (nghĩa) vuông tròn
Ngàn năm ly biệt vẫn còn đợi trông

hoặc là trong các đọan thơ  411-412 và  1331-1332 của Kim Vân Kiều:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn 
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ

hay 

Trăm năm tính cuộc vuông tròn, 
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

Lưỡng tính Âm Dương biểu hiện dưới nhiều hình thức ở Vietnam.  Ở Trung Hoa thì có một vị thần (ông tơ)  lo chuyện hôn nhân   nhưng ở Vietnam thì có đôi thần minh, môt ông một bà thường gọi Ông Tơ Bà Nguyêt. Cũng như ở chùa chiền thì có Phật Ông Phật Bà trên bàn thờ Phật. Người dân Việt  rất tin  rằng mỗi người được gắn bó từ lúc đầu với các con số.  Trước khi sinh, bào thai cần phải đợi 9 tháng 10 ngày.  Để nói ai có được  mệnh tốt thì người ta nói người đó có số đỏ. Còn ngược lại số đen dành cho ai có một định mệnh xấu. [ Con số Âm Dương của người Việt]

Âm Dương trong đời sống của người dân Việt (Yin et Yang dans la vie des Vietnamiens): Phần 1

 

yinyangviet

Version française

Version anglaise

 Triết lý  Âm Dương nó được gắn bó mật thiết hằng ngày với đời sống của người dân Việt và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Thuộc về Âm tất cả những gì có tính chất lỏng, ẩm, lạnh, tĩnh, tối, nội hay có cốt yếu nữ tính như  mặt trời, mặt trăng, đêm, nước hay mùa đông. Còn ngược lại thuộc về dương tất cả gì hiện ra tính chất cứng, khô,  nóng, cử động, sáng, ngoại hay có cốt yếu nam tính như  đất, thái dương, lửa, mùa hè vân vân…. Tính âm dương nầy được nhận ra trong  việt ngữ  qua hai phụ từ « con » và « cái ». Tựa như các mạo từ  xác định « le » và « la » trong Pháp ngữ, các  phụ từ « con » và « cái » được dùng để chỉ định trong vài trường hợp nào đó tính  đực và  cái. Nhưng dưa trên các từ chỉ đồ vật có hàm nghĩa tĩnh (không cử động) hay động (cử động) thì  các phụ từ « cái » và « con » nầy dùng theo, được  thuộc về loại ngữ nghĩa tương ứng tức là có dạng tĩnh hay động như các đồ vật. Phụ từ « cái » dùng khi đồ vật mang  tính cách  không cử động (tĩnh) ví dụ như  cái nhà, cái hang, cái nồi vân vân etc… Ngược lại khi đồ vật có tính cách cử động hay liên hệ đến cử động thì phải dùng  phụ từ « con » như  con mắt, con tim, con trăng, con ngươi, con dao, con đường, con hẻm vân vân  … Con mắt nhúc nhích  không ngừng cũng như con tim  đập rộn ràng. Cũng như con trăng hay con ngư cử động. Người Việt cổ thường xem  dao như con vật thiêng.  Nó được nuôi dưỡng với máu, rượu và gạo. Dù đồ vật được gọi cùng một danh từ nhưng có thể có ý nghĩa khác tùy theo  sử dụng  từ phụ « con » hay « cái » . Ví dụ sau đây thể hiện tĩnh hay động của chiếc thuyền  tùy theo sử  dụng tự phụ « cái » hay « con ». Con thuyền trôi theo dòng nước. Có nghĩa là có dùng mô tơ hay có ai chèo nên con thuyền được tiến lên. Ngược lại khi nói cái thuyền trôi theo dòng nước thì không có ai vận hành chiếc thuyền chi cả. Đây là làn sóng nước nó làm thuyền di chuyển một mình. Câu nầy muốn ghi nhận cái trạng thái  tĩnh của chiếc thuyền. Thuyền đậu thì gọi là « cái thuyền » còn thuyền chuyển động trên sông thì thường gọi là « con thuyền ». Lưỡng tính âm dương còn thể hiện rõ  ràng  qua các dụng cụ thông dùng chẳng hạn như  dao: dao cái (dao to) hay dao đực (dao rựa). 

Sự nhận xét nầy được nhà nghiên cứu và hán học  Pháp Alain Thote ghi nhận trong bài có tựa đề là « Origine et premiers développements de l’épée en Chine » (Nguồn gốc và phát triển đầu tiên của các thanh kiếm  ở Trung Hoa). Các gươm của người Việt cổ rất được nổi tiếng như  dao trủy thủ Ngư Trường  (Yuchang)(ou l’épée des entrailles de poisson)  mà Chuyên Chư  (Zhuan Zhu)  dùng để giết Ngô Vương Liêu,  vào thời Xuân Thu vân vân… Qua các thanh kiếm, có thể biết giống đực hay cái. Từ ngữ  « đực rựa » thường được nghe trong các cuộc đàm thoại để ám chỉ các người đàn ông vì họ thường mang mạ tấu hay dao rựa khi ra khỏi nhà  từ sự nhận xét của các người dân Việt. Lưỡng tính âm dương thường được thấy từ lâu ở Việtnam trong nghề trồng lúa: chồng cuốc vợ cấy. Tượng trưng giống đực (Dương),  lưỡi cày xuyên qua đất (Âm)  còn khi  lúc cấy, vợ  (Âm) truyền lại khả năng sinh sản cho các cây lúa (Dương). Để nói lên sự hoàn hảo gắn bó vợ chồng (Âm Dương), người ta thường nói: thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

Người Việt cổ rất gắn bó không những với đất mà luôn cả môi trường nơi họ sinh sống vì nhờ các hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, mây vân vân…) họ  có được có mùa mang tốt đẹp hay không.   Việc trồng lúa trên nương rẫy còn tùy thuộc sự may rủi với thời tiết. Bởi vậy người Việt cổ họ cần sống hài hoà với thiên nhiên.  Họ thường xem họ là nối gạch giữa Trời và Đất.  Từ khái niệm nầy ta thường hay nói: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Chính ba hệ số nầy dành chiến thắng cho dân tộc Việt với các nhà chiến lựơc  Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay  Quang Trung trong công cuốc chống ngọai xâm.  Người dân Việt xem trọng các hệ số nầy trong cách suy nghĩ và cuộc sống hằng ngày.  Đối với họ, cái khái niệm nầy  nó có một ảnh hưởng không chối cãi được trên con người: định mệnh thường được áp đặt theo ý trời và còn phụ thuộc theo ngày sinh tháng đẻ.   Con người  có thể hấp thụ được  linh khí tốt hay xấu (qi) mà trời đất tạo ra với môi trường trong và ngoài nơi mà con người ở. Nghệ thuật làm điều hòa linh khí môi trường sẻ làm giảm đi sự buồn phiền và mang lại sự thoả mái và sức khoẻ cho con người.   Một mãnh  đất bằng phẳng không có nhấp nhô và không có đồi  là một mãnh đất thiếu linh khí và không có sự sống.   Người Việt ám chỉ núi đồi  với  Rồng và Hổ.  Các nhà thường có Rồng xanh ở phiá tây  và hổ trắng ở  phiá đông. Con Rồng thông thường hùng tráng hơn con Hổ (Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ)  có nghĩa là núi (Rồng) phải cao hơn đồi (Hổ). Sự hài hoà được hoàn mỹ nếu điạ điểm nào được  dựa vào núi và hai bên có các dãy đồi che đở chống gió không làm phân tán đi các chi mà còn dẫn đến một cái hồ hay con sông, nơi có nước và thức ăn cho sự sống  và cũng là nơi  tụ các chi.

Cái mô hình nầy có thể thấy được qua kinh thành (hay phương thành)  Huế. Kinh thành quay mặt về phiá nam vì Kinh dịch đã viết: « Thánh nhân nam  diện nhi thính thiên hạ thí (vua quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ) ».  Với   tính cách quân sự phòng vệ, vòng thành của kinh thành nầy   được dựng  lên dựa theo kiểu thành lũy của  Vauban  và  bao gồm  một hoàng thành (hay Đại Nội) ở mặt phiá nam.  Đại Nội  nầy   cũng bị hạn chế bởi một vòng đai thứ nhì  hình chữ nhật  622×606 thước mà trong đó  lại có cung thành hay là  Tử Cấm Thành,  nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia với một vòng đai cuối cùng cũng gần như vuông (330×324  thước).  Sự chồng chéo ba vòng đai nầy  thể hiện  khái niệm Tam Tài (Thiên-Nhân-Địa).    Phía nam của kinh thành nơi có Ngọ Môn, cổng chính của hoàng thành, được dọc theo khúc cong của sông Hương. Cũng như rồng ngoạ về phiá tây, sông nầy  bò  từ nam lên Bắc  len lỏi giữa những gò đồi  rồi quay một cách đột ngột 90 độ về phiá đông. Sông Hương  gặp  hai  cù lao Dã Viên và Cổn Hến trước khi đổ ra biển, tạo ra cái « Chi Huyền Thủy »  rất phù hợp với  sơ đồ được  nói ở trên trong thế  Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ  mà được  Dã Viên và Cồn Hến tượng trưng, ngang mặt với núi Ngự Bình  cao 150 thước làm một bức bình phong thiên nhiên theo lý thuyết phong thủy.

Con người có thể tác động và thay đổi cuộc sống của mình.  Với những hành động nhân từ đối với kẻ khác, con người có thể tìm thấy được  hạnh phúc và  cải thiện được phần nào  cái nghiệp của mình. Ngày xưa ở Việtnam có một lễ quan trọng mà do triều đình nhà Nguyễn  tổ chức hàng năm. Đó là lễ tế Nam Giao.   Chính vua có quyền cúng tế Trời Đất và cha mẹ mình ở đàn Nam Giao vì vua là con của Trời. Đàn nầy  được xây dựng vào năm 1806 cách kinh thành Huế về phía nam. Đàn Nam Giao có ba tầng, tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Đia, Nhân. Mỗi tầng mang một hình dạng và màu sắc riêng tư.  Được chay tịnh lòng mình trước đó, vua lên đàn tế và cầu khẩn cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất.  Vua là  người  trung gian duy nhất giữa Trời và Đất.  Quan niệm Tam Tài cũng thưòng được nhắc đến trong các truyện cổ tích Việt Nam.  

Trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Nương được cầu hôn bởi hai vị thần hay là trong truyện Táo Quân, người phụ nữ bị phân vân giữa mối tình xưa và hiện tại.  Trong truyện trầu cau, quan niệm  tam tài dựa trên   vợ, chồng và em.  Một khi qua đời họ  trở thành dây  trầu, cây cau và đá vôi thì bộ ba nầy biểu thị  cho tiết hạnh, ngay thẳng và trong trắng.  Truyện trầu cau  phản ảnh  khái niệm cân đối hài hoà  mà được thấy trong lý thuyết Âm Dương.   Để làm miếng trầu, người ta thường phết vôi trên lá trầu. Rồi thêm vào đó vỏ của  cây chay  Artocarpus tonkinese màu vàng cam cùng vài  lát cau thái mỏng. Rồi bỏ vào miệng và nhai chậm rãi đến khi chỉ còn bã trầu mới nhổ ra sau đó.  Có đến 5 vị  trong miếng trầu:   ngọt với cau, cay với lá trầu, đắng với rễ vỏ của cây chay,  mặn với vôi và chua với nước bọt.  Hình ảnh  dây leo của cây trầu nhô ra từ đất mà được tiêu biểu  qua  đá vôi  và quấn chặt thân cây cau dong dỏng cao thẳng   nầy khiến ta nhận thấy được tính chất trung dung  giữa Âm và Dương  trong sự  hài hoà hoàn hảo.  Miếng trầu là đầu câu chuyện thuờng được nghe nói trong ngạn  ngữ của người Việt.  Sự chấp nhận ăn miếng trầu  mang nhiều ý nghĩa thường dẫn đến một lời cam kết mà không ai có thể nghĩ khước từ về sau.  Nếu đây là sự trao đổi giữa trai và gái thì nó còn  có nghĩa là một đề nghị thành hôn. Trong truyền thống của người Việt, miếng trầu là biểu tượng cho hạnh phúc vợ chồng. Vì vậy nó không thể thiếu trong lễ cưới.

Trong nền văn hóa trồng lúa nước, còn có nhiều bộ ba cũng quan trọng như Thiên Địa Nhân. Đây là trường hợp của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Con người cần có đất để trồng lúa, nước và phân bón  để làm cho đất có  màu mỡ. Cũng như con người cũng cần có cây cỏ để sinh sống và kim loại để làm dụng cụ  canh tác.  Nhưng trong trường hợp nào đi nửa, con người cũng cần có đất vì đất là yếu tố chung của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Chính vì vậy đất (hay Thổ) chiếm môt vị trí trung ương và then chốt  trong việc quản lý bốn phương.  Trong đời sống nông nghiệp, yếu tố quan trọng sau đất là nước. Bởi vậy người nông dân  thường  nói:  Nhất nước nhì phân. Như nước thuộc  về « Âm », người ta gán cho phương Bắc vì phương nầy tương thích với trời  lạnh (mùa đông). Ngược lại trong bộ ba  (Thủy, Hỏa, Thổ), yếu tố lửa đựợc  nối kết với phương nam vì nơi nầy trời nóng và nhiều ánh sáng. Còn yếu tố Mộc thường liên quan đến cây cối mà thường được nẩy nở ở mùa xuân. Bởi vậy Mộc được  chiếm ở phương tây với sư tăng trưởng của Duơng. Còn lại là yếu tố Kim với tinh chất dễ uốn nắn và đa dạng nên nó  được ở phương đông mà thường được liên nối với mùa thu. 

Người Việt thường nhận thấy ở lý thuyết Âm Dương một khái niệm luân phiên hơn là một khái niệm đối nghịch.  Hai thành tố Âm và Dương tạo thành một thực thể dẩn đến việc thiết lập một cân bằng thích hợp và hài hoà.  Đối với họ, thế giới  biểu thị  qua tất cả những qui luật tuần hoàn hơp thành bởi sự liên hợp của hai thể hiện luân phiên và bổ sung. Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âmHai thanh tố Âm và Dương được xem như là bánh xe lăn.  Vận động đến chốn, các thanh tố bắt đầu làm lại. Một khi giới hạn được đạt thì các thành tố nầy trở lại một lần nửa.

Có một lô châm ngôn dân gian có quan hệ nhân quả  biểu lộ cụ thể sự chuyển hóa của Âm Dương.  Bởi vậy thường nghe nói:  Trong rũi có may, Trong họa có phúc,   Sướng lắm khổ nhiềuTrèo cao ngã đau Yêu nhau nhiều cắn nhau đau, Của đi thay người.  Hai yếu tố Phúc và Họa  thông thường thay đổi đi ngược chiều với nhau.  Nhờ có lưỡng tính Âm Dương nầy  mà người dân Việt thường kiếm một cân bằng thích hợp trong cuộc sống hằng ngày.  Họ tìm cách có được sự  hoà thuận hoàn hảo với mọi người và thiên nhiên  luôn cả sau khi qua đời. Đây là sự việc mà người ta khám phá được ở mộ cổ Lạc Trương (Thanh Hóa) ba thế kỷ trước Công Nguyên với các đồ mai táng bằng gỗ (Dương) được chôn cất phương bắc (Âm) và các đồ bằng đất nung (Âm) thì ở phương Nam (Dương). Khái niệm cân bằng cũng được thấy rõ ở chùa chiền với Ông Thiện Ông ÁcChính nhờ triết lý cân bằng nầy mà người dân Việt có khả năng để  thích  ứng với bất cứ tình huống hay thảm họa nào đi nửa. Chính cũng nhờ nguyên tắc cân bằng nầy mà các nhà lãnh đạo Việt đã tiếp tục giữ được trong quá khứ khi có chung đụng với ngoại bang. Để tránh sĩ nhục cho quân  Mông Cỗ bị thất bại hai lần ở Việtnam, tướng Trần Hưng Đạo đề nghị cống nạp cho Hốt Tất Liệt để có được  hoà bình bền lâu. Sau khi thắng quân Minh, Nguyễn Trãi  không gần ngại thả Vuơng Thông trở về Trung Hoa với  13000 quân lính  và đề nghị môt hiệp ước cống hiến 3 năm một lần hai tượng bằng kim loại mịn để đền bồi thường hai tướng nhà Minh Liễu Thăng Lương Minh bị chết lúc giao chiến.

Cũng như vua Quang Trung rất khiêm tốn và chấp nhận gữi sang Trung Hoa một sứ giã để giải  hoà với vua Càn Long sau khi tiêu diệt quân Thanh ở Hànội vào năm 1788 trong một thời gian ngắn  ngủi (6 ngày). Cũng không quên nhắc đến thái độ khéo léo của các nhà lãnh đạo cộng sản trên phương diện ngoại giao trong các cuộc xung đột với Pháp Quốc và Mỹ Quốc.  Hội nghị Genève (1954) và Paris (1972)  biểu hiện một lần nửa giải pháp   cân bằng hay phương pháp trung dung mà người dân Việt tìm thấy trong lý thuyết Âm Dương. Ở Vietnam, tất cả đồ vật nào có hình dáng tròn thuộc về Dương còn những đồ vật nào có hình vuông thuộc vế Âm. Đây là một khái niệm đã có từ thuở xa xôi mà người ta nghĩ rằng  mặt trời lại  tròn và mặt đất thì  vuông nhờ người dân Việt cổ  san bằng làm cho vuông vức  mới làm rẫy và cất nhà được. Chính với quan niệm « thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông) » nầy   mà nguời Việt cổ có thói quen chia mãnh đất ra chín lô với mô hình dựa trên chữ  tĩnh 井 (giếng nước) viết bằng chữ Hán. Lô ở trung tâm dùng để xây cái giếng còn 8 lô  xung quanh còn lại để xây cất nhà. Đây là đơn vi gia cư đâu tiên  trong xã hội nông nghiệp.  Câu châm ngôn dân gian sau đây : trời xanh như tán lọng tròn ; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông phản chiếu quá đúng cái tín ngưỡng nầy. Tổ tiên chúng ta vẫn biết trái đất tròn trong tìm thức nên khi nói  « trời tròn đất vuông » là muốn phân biệt giữa thể (cái gì tồn tại tự chính nó) như trời   và dụng (cái gì được  dùng khi được san bằng) như đất. 

[ Âm Dương trong đời sống dân Việt: phần 2]


Tài liệu tham khảo

–Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
–Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống đồng giữa học giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18. 
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Thái văn Kiểm: Việt Nam quang hoa . Nhà sách Xuân Thu. USA
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net) 
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001. 
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36. 
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556) …..

Nghệ thuật ẩm thực của người Việt

amthucvn

French version
English version

Người dân Việt rất chú trọng nhiều về nghệ thuật ẩm thực  nhất là các món ăn hằng ngày. Việc ăn uống nó trở thành một điều tất yếu  quan trọng trong cuộc sống và văn hóa của người dân Việt. Cũng không có gì phải ngạc nhiên khi một số từ họ thường dùng đều có chữ ăn dù biết rằng các từ nầy không có liên quan mật thiết  đến chữ ăn. Trong các  từ nầy, thường thấy chăng hạn: ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn tiêu, ăn ngủ, ăn gian, ăn hối lộ, ăn hiếp vân vân … Chúng ta thường nghe : Trời đánh tránh bữa ăn để nói lên ông Trời có giận dỗi đi nữa cũng phải tránh quấy rầy buổi ăn của người dân Việt.

Các thức ăn của họ được chế biến một cách kỹ lưỡng theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, một cơ bản chủ yếu của nền văn minh Văn Lang. Âm Dương là biểu tượng của hai thực thể vừa đối lập và bổ sung của vạn vật trong vũ trụ. Thuộc về Âm tất cả những gì có tính chất  lỏng, lạnh, ẩm, thụ động, nội hay bản chất nữ tính như trời, mặt trăng, tối, nước và mùa đông. Ngược lại thuộc về Dương tất cả những gì có tính cứng, nóng, khô, năng động, ngoại, hay bản chất nam tính như đất, mặt trời, sáng, lửa và mùa hè. Con người thường được xem là dấu gạch nối giữa hai thực thể đó hay nói đúng là giữa  Trời (Âm) và Đất (Dương). Sự hài hoà có thể có được nhờ sự thăng bằng mà con người mang lại cho môi trường, vũ trụ và trong  cơ thể của con người.

Qua  cách thức chế biến tỉ mỉ chu đáo và cá biệt trong mối quan hệ biện chứng của thuyết âm dương,  các món ăn của người Việt  còn biểu lộ  được sự tôn trọng truyền thống văn hóa đã có cả nghìn năm của một nước nông nghiệp và một nền văn minh rực rỡ với kỹ thuật trồng lúa nước. Chính vỉ thế mà gạo không thể thiếu trong một buổi cơm của người  Việt. Chính gạo là phần chủ yếu của các món ăn của người  Việt:   bánh cuốn, bánh xèo, phở, bún , bánh tráng, bánh chưng vân vân. Gạo có thể chỉ xay bỏ vỏ trấu (gạo lứt), dài, tròn, ghiền, thơm hay nếp (không có gluten) vân vân…  Còn hơn là một thức ăn, gạo là bằng chứng xác thực của người dân Việt thuộc về đại tộc Bách Việt và cũng là dấu ấn còn lại của một nền văn minh không bị hũy diệt   dưới sự thống trị lâu dài của người Hoa.

Âm Dương trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt

Cách thức ăn uống của người dân Việt cũng không ngoài lệ với  việc tìm kiếm cái trung dung mà được ca tụng trong lý thuyết Âm Dương. « Ngồi ăn chung » thường đòi hỏi phải có sự  kính  nể và trình độ văn hóa  trong nghệ thuật ăn uống bỡi vì có sự tương thuộc hiển nhiên giữa những người  thực khách  trong việc chia sẻ thức ăn và không gian. Chính vì vậy mà người ta thường nói:  Ăn trông nồi , ngồi trông hướng. Không những thận trọng để ý nồi cơm mà còn phải chú ý đến hướng khi ngồi vào ăn. Đó là  câu châm ngôn mà cha mẹ người Việt thường nói với các con khi lúc còn nhỏ. Phải biết xử sự cho đúng với hai chữ trung dung khi được mời ăn. Không được ăn mau quá vì sẻ bị xem như  vô lễ mà cũng không dược ăn chặm quá vỉ để người khác phải chờ đợi. Cũng không thể ăn hết các thức ăn hay cơm trong nồi vì thể hiện quá đỗi  sự tham ăn. Ngược lại ăn ít  quá thì sẻ bị xem như là người thiếu lịch sự nhất là có thể làm phật ý chủ nhà. Cái thái độ thận trọng nầy thường được nhắc nhở qua câu tục ngữ nầy: Ăn hết bị đòn, ăn còn mất vợ. Chính vì vậy người dân Việt phải cố kiên trì   tìm kiếm  cho mình với sự khéo léo cái cân bằng nầy của lý thuyết Âm Dương  trong bữa cơm.  Tính cách đa dạng trong  các  thức ăn mà người  Việt  biến chế,  cũng  thể hiên rỏ ràng sự dồi dào phong phú của  các nguyên liệu.  Trong bữa cơm, thường có rất nhiều thức ăn, màu sắc  và hương vị  chung quanh bát cơm ý là chưa kể đến sự biểu lộ của ngũ giác quan mà  đuợc cảm nhận như sau:  

Khứu giác : từ các mùi thơm ngào ngạt  của các thức ăn.

Thị giác: tìm thấy qua các  màu sắc của các nguyên liệu trong việc chế biến thức ăn.

Vị giác: cảm nhận được các vị truyền thống: mặn, ngọt, chua, cay và đắng trong các thức ăn.

Thính giá: thu nhận được tiếng động khi uống trà hay ăn canh.

Xúc giác:   cảm giác được khi dùng các đôi đũa.

Với  vài món ăn như gà nướng, gà luộc, gỏi cuốn , việc dùng tay rất được thích hợp. Phần đông người Tây Phương thường quen nghỉ rằng  văn hóa dùng đũa thuộc về người Hoa. Tuy nhiên nó là sản phẩm của cái nôi  văn hóa trồng lúa được  tọa lạc ở Đông Nam Á. Chính nhà sử gia Trung Hoa , ông Đàm Gia Kiện công nhận  trong quyển sách tựa đề : Lịch sử văn hóa Trung Hoa (1993, trang 769).

Nhớ lại trước  thời kỳ Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, người Hoa vẫn còn ăn bốc thức ăn với tay. Đây là một truyền thống thường thấy ở các dân tộc sống trồng kê, mạch và ăn bánh bao thịt. Họ chỉ biết dùng đũa khi họ mở mang bờ cõi trong cuộc nam tiến. Sự khẳng định nầy nó được xác nhận lại qua các cuộc khám phá gần đây. 

Các đôi đũa nầy chỉ làm ra được từ những vùng có nhiều tre.  Chỉ có vùng phía nam Trung Quốc và Đông Nam Á.  Đũa là công cụ thô sơ được chế biến theo hình giống mỏ chim để có thế bắt lấy dễ dàng hột gạo hay cá và tránh việc bẩn tay với các món ăn có nước (súp, cháo, nước  mắm vân vân …). Người ta tìm thấy ở nơi người dân Việt một triết lý giản dị và hóm hỉnh trong việc dùng đôi đũa.  Đôi đũa thường được xem như cặp vợ chồng:

Vợ chồng như đôi đũa có đôi
Bây giờ chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Dưới thời nhà Lê, việc bẻ gãy đôi đũa đồng nghĩa với hai chữ ly dị.  Thà có một bà vợ ngây ngô hơn là có một cặp đũa cong vòng.  Chính vì vậy ta thường nghe qua tục ngữ nầy như sau : Vợ dại không hại bằng đũa vênh. 

Ngoài tính cách nhanh nhẹn và linh hoạt trong việc dùng đũa, người ta không thể quên tính cách tập thể mà thuờng gán cho đũa. Thông thuờng người ta ám chỉ bó đũa để nhắc đến sự đoàn kết. Tục ngữ : Vơ đũa cả nắm phản ánh cái ý niệm nầy khi người ta muốn chỉ trích người nào hay gia đình của họ từ một cuộc tranh cãi hay thảo luận nào không cần biết tính cá biệt.

Trong cách thức ăn  uống, người dân  Việt vẫn coi trọng sự thăng bằng  của lý thuyết Âm Dương. Một bữa cơm ngon  phải thích hợp với  các tiêu chuẩn mà thường phụ thuộc lẫn nhau:

Nó phải phù hợp với khí hậu. Nó không thể nói là ngon dù có những món ăn thú vị.
Nó phải ở nơi nào và có một bầu không khí thỏa mái nếu không nó cũng không ngon.
Nó phải chia sẻ với các người bạn thân thiết nếu không chữ ngon cũng không thể gán cho nó.

Từ các tiêu chuẫn  được nêu ở trên đây, một bữa cơm ngon  không nhất thiết phải có thức ăn nhiều.  Đôi khi tìm thấy ít ỏi thức ăn trong bữa cơm ngon. Đó là bữa cơm của người nghèo mà sự kết hợp khéo léo các rau thơm khiến   giữ được một vai trò  quan trọng trong bữa cơm ngon. Việc tìm kiếm sự thăng bằng thích đáng trong lý thuyết âm dương thường được được nêu lên biểu lộ hiển nhiên trong các món ăn, cơ thể con người và giữa người và môi trường. Trong nghệ thuật ẩm thực, 3 điểm quan trọng sau đây được nêu lên:

1°) Sự thăng bằng Âm Dương trong các món ăn.

Dựa trên cách phận loại mà người Việt  thiết lập theo ngũ hành của Âm Dương thì mới nhận thấy được người Việt   rất chú ý  đến chuyện phân biệt các món ăn: hàn  (Nước), nhiệt (Hỏa), ôn (Mộc), lương (kim) và bình (Thổ). Họ  lưu ý đến  chuyện  bù đấp tương tác và kết hợp của các nguyên liệu và  gia vị trong việc chế biến  các thức ăn. Có một bản liệt kê  rau cỏ và gia vị   được ghi nhận lại   nhờ các công thức nấu ăn của người  Việt.  Được  dùng để trị các chứng bệnh phong hàn (ho, cúm vân vân ..),  gừng  (thuộc về Dương)   thường thấy được xử dụng nhiều  ở trong các món ăn có xu hướng mang tính chất hàn (lạnh): bí đao, cải bắp,  rau cải hay cá. Ớt (thuộc về Dương) có hương vị cay  thường được dùng ở các món ăn  có xu hướng mang tính chất lạnh hay ôn (hải sản, cá hấp vân vân…). Nguời ta có thói quen ăn trứng gà hay vịt lộn   (thuộc về Âm) nên thường  ăn với rau răm (thuộc về Dương). Cũng như dưa hấu (thuộc về Âm)  thường ăn lúc nào cũng có muối (thuộc về Dương).  Nước chắm  đặc biệt của người dân Việt vẫn là nước mắm. Trong cách pha nước mắm, thường thấy có 5 hương vị được xếp theo ngũ hành của Âm Dương: mặn với nước mắm, đắng với vỏ chanh, chua với nước chanh hay  giấm,  cay với ớt ghiền nát hay thái nhỏ và ngọt với đường bột.  Năm mùi  vị (mặn, đắng, chua, cay, ngọt) nầy  phối hợp và  được tìm thấy trong nước mắm tương ứng hoàn toàn với 5 hành chỉ định trong lý thuyết Âm Dương (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ).

2°) Sự thăng bằng Âm Dương  trong cơ thể con người.

Các thức ăn  người Việt   dùng thường được xem như là một vị thuốc hữu hiệu với chủ đích để bổ khuyết  loạn năng gây ra bỡi sự thiếu thăng bằng Âm Dương trong cơ thể con người. Đối với người Việt,  kịch bản mà thường thấy ở trong tạo hóa hay tái diễn lại trong cơ thể của họ.  Khi một bộ phận có « âm » nhiều quá thì con người sẻ cảm nhận có sự suy giảm chuyển hóa sinh lý ngay (cảm giác lạnh,  nhỉp tim chậm lại, tiêu hóa khó khăn vân vân…). Còn ngược lại nếu có « dương » nhiều quá thì sẻ có sự tăng nhanh  chuyển  hóa sinh lý (cảm giác nhiệt nhiều,  nhịp tim đập mau, sự tăng động thất thường thể xác hay trí tuệ vân vân…).

Bỡi vậy cần có lại  sự thăng bằng  Âm Dương để duy trì cuộc sống và đảm bảo sức khỏe. Để khôi phục lại sự thăng bằng nầy, một người bệnh có nhiều « âm » quá phải cần dùng các thức ăn có tính chất dương. Ngược lại với một người bệnh có « dương » nhiều thì phải chửa bệnh với các thức ăn mang nhiều tính chất « âm ». Đối với người Việt , ăn tức là tự chữa bệnh. Nguời bị chứng táo bón ( bệnh thuộc về dương)  được khỏi bệnh với các thức ăn có tính chất âm (chè đậu, chè đậu xanh vân vân …). Nguợc lại bị tiêu chảy hay đau bụng (bệnh thuộc về âm) thì chỉ trị có hữu hiệu với các thức ăn có nhiều gia vị (gừng, riềng vân vân mang tính chất dương). Người bị cảm lạnh chỉ tìm được giải pháp qua một tô cháo có nhiều khoanh gừng.

3°) Sự thăng bằng Âm Dương với môi trường.

Người  dân Việt hay thường nói : Ăn ở theo mùa. Câu tục ngữ nầy phản ánh thái độ của người dân Việt lúc nào cũng muốn có sự hài hòa với thiên nhiên và môi trường  trong các thức ăn. Mùa hè nóng nực  thì có rất nhiều rau cỏ, hải sản và cá. Người  Việt thường thích cá và rau cỏ.  Họ quen nấu nước để luộc rau, làm dưa hay làm gỏi. Các món ăn có nước cũng được ưa chuộng nhất là phở, món ăn truyền thống của người dân Việt. Các vị đắng và chua cũng không thể thiếu  được trong thức ăn của người Việt. Đó là  món canh chua  thường  được nấu với cá hay tôm, me (hay dứa) và cà chua.  Nguợc lại  với mùa đông, để chống lạnh,  người Việt  thích ăn thịt và các món ăn thường  có mỡ (thuộc về Dương).  Việc sử dụng các dầu thực vật hay động vật  và nhiều thứ gia vị như gừng, ớt, tỏi, tiêu vân vân … cũng  không ít. Rim thịt với nước mắm,  xào hay rán là những phương pháp nấu chín thường thông dụng và đáp ứng với sự thay đổi thời tiết. 

Việt Nam là một nước nhiệt đới (thuộc về Dương) nên có rất nhiều món ăn mang tính chất «lạnh ». (thuộc về Âm). Đây là sự nhận xét mà ông tổ của ngành y học cổ truyền Việtnam, Hải Thương Lãn Ông (Lê Hữu Trác) có dịp ghi lại trong quyển sách mang tên là Nữ Công Thắng Lãm. Trên 120 thực phẩm liệt kê, ông đã  chứng minh có  một trăm thực phẩm có tính chất Âm.  Sự nhận xét nầy  làm sáng tỏ sự ưa thích hiển nhiên của người Việt với  các món ăn có tính chất Âm trong cấu trúc ăn uống truyền thống   và sự quan tâm của họ trong việc tìm kiếm thăng bằng với môi trường và thiên nhiên.

Ở Tây Phương,  số  người thích ăn  các món ăn việt càng ngày càng nhiều.  Ngược lại các món ăn ngoại quốc mà nước sốt  giữ một vai trò quan trọng,  các món ăn việt chỉ dùng rất nhiều các rau cỏ và gia vị mà còn được xem là  các món ăn nhẹ nhàng và   dễ tiêu.  It mỡ so với các món ăn của người Trung Hoa nhưng nhờ  có nét độc đáo và  tinh tế nên  cũng có  được đến 500 món ăn mà mọi người  biết nhiều  nhất là món  chã giò hay nem. 

Chính trong các món ăn việt nầy người ta tìm thấy không những  sự hài hoà của các hương vị và các biến đổi tinh tế chung quanh bát cơm mà còn có sự hòa hợp sâu sắc và mật thiết với thiên nhiên và môi trường. 

Âm Dương  không mất đi sinh lực  cũng như

người dân Việt tâm hồn và khí chất.

[Retour Art vietnamien]

Yin and Yang numbers (Âm Dương: Part 3)


Yin and Yang numbers (Con số Âm Dương)

Version vietnamienne

Version française

We are used to saying in Vietnamese: sống chết đều có số cả (Everyone has their D-day for life as well as for death). Ði buôn có số, ăn cỗ có phần (One has their vocation for trade just as one has their share at a feast). In everyday life, everyone has their size for clothes and shoes. It is noticed that, unlike the Chinese who adore even numbers, the Vietnamese rather favor odd numbers (số âm) over even numbers (số dương).

The frequent use of odd numbers is found in Vietnamese expressions: ba mặt một lời (One needs to be face to face in the presence of a witness), ba hồn bảy vía (three souls and seven vital supports for humans, i.e., one is panicked), Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh (very turbulent), năm thê bảy thiếp (having 5 wives and 7 concubines, i.e., having multiple wives), năm lần bảy lượt (several times), năm cha ba mẹ (heterogeneous), ba chóp bảy nhoáng (hastily and carelessly), Một lời nói dối, sám hối 7 ngày (A lying word equals seven days of repentance), Một câu nhịn chín câu lành (Avoiding one offensive phrase is like having nine kind phrases), etc. or those involving multiples of the number 9: 18 (9×2) đời Hùng Vương (18 legendary Hùng Vương kings), 27 (9×3) đại tang 3 năm (27 months) (or a mourning period of three years which actually translates to only 27 months), 36 (9×4) phố phường Hà Nội (Hanoi with 36 districts), etc.

We must also not forget to mention the numbers 5 and 9, each having a very important role. The number 5 is the most mysterious number because everything begins from this number. Heaven and Earth have the 5 elements or agents (Ngũ hành) that give birth to all things and beings. It is placed at the center of the River Map (Hà Đồ) and the Luo River Writing (Lạc thư), which form the basis of the transformation of the 5 elements (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) (Water, Fire, Wood, Metal, and Earth).

It is associated with the Earth element in the central position, which the farmer needs to know the direction of the cardinal points. This thus returns to man the center in managing things, species, and the four cardinal points. For this reason, in feudal society, this place was reserved for the king because he was the one who governed the people. Consequently, the number 5 belonged to him, as did the color yellow symbolizing the Earth. This explains the color chosen by Vietnamese and Chinese emperors for their garments.

Besides the center occupied by man, a symbolic animal is associated with each of the four cardinal points: the North by the turtle, the South by the phoenix, the East by the tiger, and the West by the dragon. It is not surprising to find at least in this attribution the three animals living in a region where agricultural life plays a significant role and water is vital.

Ho Tou Lo Chou

(Hà Đồ Lạc Thư)

 This is the territory of the Bai Yue. Even a dragon, so fierce in other cultures, becomes a gentle and noble animal imagined by the peaceful peoples of the Bai Yue. The number 5 is also known as « Tham Thiên Lưỡng Đia » (or ba Trời hai Ðất or 3 Yang 2 Yin) in the theory of Yin and Yang because obtaining the number 5 from the combination of the numbers 3 and 2 corresponds better to the reasonable percentage of Yin and Yang than that resulting from the combination of the numbers 4 and 1.

In the latter, one notices that the Yang number 1 is greatly dominated by the Yin number 4. This is not the case with the combination of numbers 3 and 2, where the Yang number 3 slightly dominates the (Yin) number 2. This favors the development of the universe in an almost perfect harmony. In the past, the fifth day, the fourteenth day (1+4=5), and the twenty-third day (2+3=5) of the month were reserved for the king’s outings. It was forbidden for subjects to conduct business during his travels and to disturb his walk. This may be the reason why many Vietnamese today, influenced by this ancestral tradition, continue to avoid choosing these days for building houses, traveling, and making important purchases. It is customary to say in Vietnamese:

Chớ đi ngày bảy chớ về ngày ba
Mồng năm, mười bốn hai ba
Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn
Mồng năm mười bốn hai ba
Trồng cây cây đỗ, làm nhà nhà xiêu

Do not go on the seventh day, do not return on the third day
The fifth, fourteenth, twenty-third
Going out is also a loss, let alone trading
The fifth, fourteenth, twenty-third
Planting trees, the trees fail; building houses, the houses collapse.

You should avoid leaving on the 7th day and returning on the 3rd day of the month. On the 5th, 14th, and 23rd days of the month, you would be at a loss if you go out or do business. Similarly, you would see the fall of a tree or the tilting of your house if you plant it or build it on those days.

The number 5 is frequently mentioned in Vietnamese culinary art. The most typical sauce of the Vietnamese remains fish sauce. In the preparation of this national sauce, there are 5 flavors classified according to the 5 elements of Yin and Yang: salty (mặn) with fish juice (nước mắm), bitter (đắng) with lemon zest (vỏ chanh), sour (chua) with lemon juice (or vinegar), spicy (cay) with crushed or powdered chili peppers, and sweet (ngọt) with powdered sugar. These five flavors (mặn, đắng, chua, cay, ngọt) combined and found in the Vietnamese national sauce correspond respectively to the 5 elements defined in the Yin and Yang theory (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) (Water, Fire, Wood, Metal, and Earth).

Similarly, these 5 flavors are found in the sweet and sour soup (canh chua) prepared with fish: sour with tamarind seeds or vinegar, sweet with pineapple slices, spicy with sliced chili peppers, salty with fish sauce, and bitter with some okra (đậu bắp) or with the flowers of the fayotier (bông so đũa). When this soup is served, a few fragrant herbs are added, such as panicaut (ngò gai), rau om (an herb with a flavor close to coriander but with an additional lemony note). This is a characteristic feature of the sweet and sour soup of Southern Vietnam and different from those found in other regions of Vietnam.

We cannot forget to mention the glutinous rice cake that the Proto-Vietnamese succeeded in passing down to their descendants over the millennia of their civilization. This cake is tangible proof of the belonging of the Yin and Yang theory and its five elements to the Hundred Yue, of which the Proto-Vietnamese were a part, because in the making of this cake, the generative cycle of these 5 elements (Ngũ hành tương sinh)  found.

(Fire->Earth->Metal->Water->Wood)

Inside the cake, one finds a piece of porkmeat in red color ( Fire ) around which there is  a kind of paste made with broad beans in yellow color ( Earth ). The whole thing is wrapped by the sticky rice in white color ( Metal ) to be cooked with boiling water ( Water ) before having a green colouring on its surface thanks to the latanier leaves (Wood).

There is another cake that cannot be missing at weddings. It is the susê or phu-Thê cake (husband-wife), which has a round shape inside and is wrapped in banana leaves (green color) to give it the appearance of a cube tied with a red ribbon. The circle is thus placed inside the square (Yang within Yin). This cake is made of tapioca flour, scented with pandan, and sprinkled with black sesame seeds. At the heart of this cake is a paste made from steamed soybeans (yellow color), lotus seed jam, and grated coconut (white color). This paste closely resembles the frangipane found in king cakes. Its sticky texture recalls the strong bond that one wishes to represent in the union. This cake is the symbol of the perfection of marital love and loyalty in perfect harmony with Heaven and Earth and the five elements symbolized by the five colors (red, green, black, yellow, and white).

This cake is recounted by the following tale: once upon a time, there was a merchant indulging in debauchery and not thinking of returning to his family, although before his departure, his wife gave him the susê cake and promised to remain warm and sweet like the cake. That is why, upon learning this news, his wife sent him other phu thê cakes accompanied by the following two verses:

Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu

Since your departure, as many waves as were met by your boat, so many afflictions were known by the susê cake.

Lầu Ngũ Phụng

 

In architecture, the number 5 is not forgotten either. This is the case of the meridian gate of the Huế citadel, which is a powerful masonry mass pierced by five passages and topped with an elegant two-level wooden structure, the Belvedere of the Five Phoenixes (Lầu Ngũ Phụng).

Seen as a whole, it resembles a grouping of 5 phoenixes intimately perched with their wings spread. This belvedere has one hundred ironwood columns painted red, supporting its nine roofs. This number 100 has been carefully examined by Vietnamese specialists. For the renowned archaeologist Phan Thuận An, it corresponds exactly to the total number obtained by adding the two numbers found respectively in the River Map (Hà Ðồ) and the Luo River Script (Lạc thư cửu tinh đồ), symbolizing the perfect harmony of the union of Yin and Yang. This is not the opinion of another specialist, Liễu Thượng Văn. According to him, it represents the strength of 100 families or the people (bách tính) and reflects well the notion dân vi bản (taking the people as the foundation) in the governance of the Nguyễn dynasty.

The roof of the central pavilion is covered with yellow « lưu ly » tiles, the others with blue « lưu ly » tiles. The main gate, right in the middle, is the meridian gate (Ngọ Môn) paved with « Thanh » stones dyed yellow, dedicated to the passage of the king. On both sides, there are the Left Gate and the Right Gate (Tả, Hữu, Giáp Môn) reserved for civil and military mandarins. Then the two other side gates Tả Dịch Môn and Hữu Dịch Môn are intended for soldiers and horses. That is why it is customary to say in Vietnamese: 

Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh »

The Meridian Gate has 5 passages and nine roofs, one of which is varnished in yellow and the other eight in green. There are three main doors and two side doors.
To the east and west of the citadel, there are the Gate of Humanity and the Gate of Virtue, which are reserved respectively for men and women.

The number 9 is a Yang number (or odd). It represents the power of yang at its maximum and is difficult to reach. That is why in the past the emperor often used it to show his power and supremacy. He climbed the nine steps symbolizing the ascent of the sacred mountain where his throne was located. According to legend, the Forbidden City of Huế, like that of Beijing, had 9,999 rooms. It is worth recalling that the Forbidden City of Beijing was supervised by a Vietnamese named Nguyễn An, who was exiled at a very young age during the Ming dynasty. The emperor, like each of his palaces, faces south, towards the Yang energy, so that the emperor receives the vital breath of the sun because he is the Son of Heaven. In Vietnam, there are the nine dynastic urns of the citadel of Huế, the nine branches of the Mekong River, the nine roofs of the Five Phoenixes pavilion, etc. In the tale titled « The Mountain Spirit and the River Spirit (Sơn Tinh Thủy Tinh), » the eighteenth (2×9) Hùng Vương king proposed as a dowry for his daughter Mị Nương’s marriage: an elephant with 9 tusks, a rooster with 9 spurs, and a horse with 9 red manes. The number 9 symbolizes the Sky, whose birth date is the ninth day of the month of February.

Less important than the numbers 5 and 9, the number 3 (or Ba or Tam in Vietnamese) is closely linked to the daily life of the Vietnamese. They do not hesitate to mention it in a great number of popular expressions. To signify a certain limit, a certain degree, they habitually say:

Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
No one can claim to be wealthy for three generations just as no one is unfortunate for three successive lives.

It often happens to the Vietnamese that they do not complete a certain task in one go, which forces them to perform the operation up to three times. This is the expression they frequently use: Nhất quá Tam. It is the number three, a limit they do not wish to exceed in accomplishing this task.

To say that someone is irresponsible, they refer to them as « Ba trợn. » One who is opportunistic is called Ba phải. The expression « Ba đá » is reserved for vulgar people, while those who keep getting entangled in small matters or endless troubles receive the title « Ba lăng nhăng. » To weigh their words, the Vietnamese need to fold the three thumbs of their tongue. (Uốn Ba tấc lưỡi).

The number 3 also is synonymous with insignificant and unimportant something.It is what one finds in following popular expressions: 

Ăn sơ sài ba hột: To eat a little bit.
Ăn ba miếng: idem
Sách ba xu: book without values. (the book costs only three  pennies).
Ba món ăn chơi: Some  dishes  for tasting. 

Analogous to number 3, the number 7 is often mentioned in Vietnamese literature. One cannot ignore either the expression Bảy nỗi ba chìm với nước non  (I  float 7 times  and I descend thee times if this  expression is translated in verbatim) that Hồ Xuân Hương poetess  has used and immortalized in her poem intituled « Bánh trôi nước” :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bây nỗi ba chìm với nước non
………. 

for describing difficulties encountered by the Vietnamese woman in a feudal and Confucian society. This one did not spare either those having an independent mind, freedom and justice.   It is the case of  Cao Bá Quát , an active scholar who was degusted from the scholastica of his time and dreamed of replacing the Nguyễn authoritarian monarchy by an enlightened monarchy. Accused of being the actor of the grasshoppers insurrection  (Giặc Châu Chấu) in 1854, he was condemned to death and he did no hesitate his reflection on the fate reserved to those who dared to criticize  the despotism and feudal society in his poem before his death: 

Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời. 

Three gongs are reserved to the miserable fate
A sabre slice finishes this dog’s life. 

If the Yin and Yang theory continues to haunt their mind for its mystical and impenetrable character, it remains however a way of thinking and living to which a good number  of the Vietnamese continue to refer daily for common practices and respect of ancestral traditions.


Bibliography

Xu Zhao Long : Chôkô bunmei no hakken, Chûgoku kodai no nazo in semaru (Découverte de la civilisation du Yanzi. A la recherche des mystères de l’antiquité chinoise, Tokyo, Kadokawa-shoten 1998).
-Yasuda Yoshinori : Taiga bunmei no tanjô, Chôkô bunmei no tankyû (Naissance des civilisations des grands fleuves. Recherche sur la civilisation du Yanzi), Tôkyô, Kadokawa-shoten, 2000).
-Richard Wilhelm : Histoire de la civilisation chinoise 1931
-Nguyên Nguyên: Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
– Léonard Rousseau: La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). BEFO, année 1923, Vol 23, no 1
-Paul Pozner : Le problème des chroniques vietnamiennes., origines et influences étrangères. BEFO, année 1980, vol 67, no 67, p 275-302
-Dich Quốc Tã : Văn Học sữ Trung Quốc, traduit en vietnamien par Hoàng Minh Ðức 1975.
-Norman Jerry- Mei tsulin (1976) : The Austro asiatic in south China : some lexical evidence, Monumenta Serica 32 :274-301
-Henri Maspero : Chine Antique : 1927.
-Jacques Lemoine : Mythes d’origine, mythes d’identification. L’homme 101, paris, 1987 XXVII pp 58-85
-Fung Yu Lan: A History of Chinese Philosophy ( traduction vietnamienne Đại cương triết học sử Trung Quốc” (SG, 1968).68, tr. 140-151)).
-Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
-Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống
đồng giữa h ọc giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18.
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net)
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001.
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36.
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556)
-Ballinger S.W. & all: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration, Genetics 1992 vol 130 p.139-152….

Yin and Yang theory: (Âm Dương Phần 2)


French version

Vietnamese version

When speaking of the symbolic couple circle/square, one wants to evoke perfection and happy union. Starting from a square with 4 sides, one can have an octagon by doubling the number of sides. Then by continuously doubling the number of these sides, one finally obtains a circle with no sides. It is the perfect form (perfectissima forma) testifying to absolute perfection. That is why it is customary to say in Vietnamese « Mẹ tròn, con vuông » to wish the mother and her child good health at the time of birth. This expression was handed down by our ancestors to draw our attention to the creative nature of the universe. Roundness and square are the two shapes taken not only by glutinous rice cakes (Bánh Chưng, Bánh Tết) or wedding cakes (Bánh Su Sê or Phu Thê) but also by ancient Vietnamese coins (or sapèques).

The shape of these sapèques is linked to traditional Vietnamese cosmology: the roundness of these coins evokes that of the sky, and the central hole is square like the earth.

Old coin

For the surface area of these sapèques, there is always a percentage to respect: 70% for the round part and 30% for the square part. These two shapes are also found in the bamboo cane held by the eldest son walking behind the coffin during his father’s funeral procession. When the deceased person is his mother, he is obliged to walk backward while looking straight ahead at the coffin. This is the « Cha đưa mẹ đón » (Accompany the father, receive the mother) protocol to be respected in Vietnamese funeral rites. The bamboo of the cane represents the father’s uprightness and endurance.

It is replaced by another plant known as « cây vong, » symbolizing simplicity, gentleness, and flexibility when the deceased person is the mother. The cane must have a round head and a square base to symbolize Heaven and Earth, while the middle part of the stem is reserved for the children and descendants. This means that everyone needs the protection of Heaven and Earth, the education of parents, and mutual assistance among siblings in society. To show respect, the number of times the guest is required to bow in front of the coffin must be a Yin number, i.e., an even number (i.e., 2 or 4), because the deceased person will join the world of darkness with a Yin character (Âm phủ in Vietnamese). According to Vietnamese researcher Trần Ngọc Thêm, everything closely or remotely related to death must use even numbers
(Yin = peace = death)

In the past, it was customary to place a piece of pure gold (Yang) in the mouth of the deceased to infuse the mana contained in the precious metal. Gold, representing the Yang principle, is capable of preserving the body and preventing decay.

At the moment of the deceased person’s agony, their relatives must give them a nickname (or in Vietnamese tên thụy) that only they and their close ones know, with the agreement of the household spirit, because on the anniversary of their death, this nickname will be mentioned to invite them to participate in the offerings and to avoid awakening other wandering souls. That is why it is customary to say in Vietnamese tên cúng cơm to remind that everyone has a nickname. Similarly, a bouquet of flowers offered at funerals must consist of an even number (or yin) of flowers.

Ancestral altar

There is an exception to this rule when it comes to Buddha or deceased parents. In front of their altar, it is customary to place 3 incense sticks in the vase or to prostrate completely on the knees, with the head touching the ground, an odd number (Yang) (con số dương, số lẻ) of times because they are still considered living beings. Likewise, to show respect towards living elderly people, one only performs one or three prostrations. However, in wedding rites, the bride must prostrate before her parents to thank them for her birth and education before joining her husband’s family.

It is the even number (or Yin số chẵn) of times she must perform (i.e., 2 or 4) because she is considered « dead » as she no longer belongs to her original family. There is a custom for the ceremony on the first wedding night. An older woman, who has many children and is considered good and honest, is asked to take charge of spreading and overlapping a pair of braids on the bridal bed: one open and the other placed upside down, symbolizing the union of Yin and Yang.
 

Mẹ tròn, con vuông

In the past, young couples used to exchange a pinch of soil for a pinch of salt. They wanted to honor and perpetuate their union and fidelity by taking Heaven and Earth as witnesses of their commitment. The same meaning is also found in the following expression: Gừng cay muối mặn, reminding newlyweds never to part because life is bitter and deep with ups and downs, just like the pungent ginger and salt that retain their flavor over the years.

For speaking of virtue, one is accustomed to say in Vietnamese: 

Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiễn đời con sang giàu

As three squares can be in comparison seven circles, virtuous parents will have rich children.

By speaking of these three squares, one needs to reminder the square form of rice cake proposed during the new year. This cake constituted by straight lines  symbolizes loyalty and righteousness in the relationship of three submissions « Tam Tòng »: Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tữ tòng tữ (submission to the father before her marriage,submission to the husband during her marriage, submission to the elder son when widowed).

About 7 circles, one must think of the roundness of « bánh giầy ».  This one  is constituted by a sequence of dots equidistant from the center where there is the heart. This cake is the symbol of  a well-balancel soul that any passion does not bewinder. One finds in this heart the perfection of seven human sentiments: (Thất tình : hỹ, nộ, ái, lạc, sĩ, ố, dục )( Joy, anger, sadness, cheerfullness, love, hatred, desire). Does someone  realize a  ideal moral life if under any circumstances, he succeeds to maintain the loyalty and  righteousness with others and always keeps his equidistant gap in the manifestation of his feelings?

The expression  vuông tròn has  frequently been  employed in a great number of Vietnamese popular sayings:

Lạy trời cho đặng vuông tròn 
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!

I pray to God that  everything should go well and I should  eternally keep  my faithful  hearth  with you.

or 

Đấy mà xử ngãi (nghĩa) vuông tròn
Ngàn năm ly biệt vẫn còn đợi trông

Here is the signification of conjugal love
Despite the eternal separation, one continues to wait  for the  return with patience

or in the following verses 411-412 and  1331-1332 of Kim Vân Kiều‘s best-seller

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn 
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ

My fate is fragile like the dragonfly’s wing
Does the Heaven  knows that this union is durable or not?

or

Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

During your life (one hundred years), when you are concerned about your marriage, you must go upstream to the source. (One must inquire about the bride’s family down to the smallest detail.)

This Yin and Yang bipolarity is expressed in various forms in Vietnam. In China, if there is a single marriage genius, in Vietnam there is a couple of male and female geniuses (Ông Tơ Bà Nguyệt). Likewise, in Vietnamese pagodas, there is a couple of male and female Buddhas (Phật ông Phật bà) on the altar instead of a single Buddha. Vietnamese people firmly believe that each of them is associated with a certain number of digits. Before birth, the embryo needs to wait 9 months and 10 days. To say that someone has a happy fate, it is said that they have a « happy destiny » (số đỏ). Conversely, the « unfortunate destiny » (số đen) is reserved for people with a bad fate.

 

NEXT (Yin and Yang numbers)

 

 

Yin and Yang theory (Âm Dương : Phần 1)

yinyangviet

French version 

Vietnamese version

The theory of Yin and Yang continues to be closely linked to the daily life of the Vietnamese and finds its application in all fields. Everything that is fluid, cold, humid, passive, dark, internal, immobile, of feminine essence such as the sky, the moon, the night, water, winter, is of Yin nature. Everything that is solid, warm, bright, active, external, mobile, of masculine essence such as the earth, the sun, fire, summer, is of Yang nature.

This Yin and Yang characteristic is even found in Vietnamese grammar through the use of the words « con » and « cái« . Analogous to the definite articles « le » and « la » in French, these are used to indicate gender in certain restricted cases, but one can also base their use on the « mobile » or « immobile » nature of the object they accompany to indicate its belonging to the corresponding semantic class. The word « cái » is used when the object has the « immobile » character (tĩnh vật): cái nhà (house), cái hang (cave), cái nồi (pot), etc. On the other hand, when the « mobile » state (động vật) is part of the nature of the object, the word « con » is used to precede it. This is the case for the following words: con mắt (eye), con tim (heart), con trăng (snake), con ngươi (pupil), con dao (knife), etc.

The eye moves constantly just as the heart beats. Likewise, the snake moves just like the pupil. The knife is considered by the Vietnamese as a sacred animal. It is nourished with blood, wine, and rice. The same name given to an object can lead to two different interpretations depending on the use of the word « cái » or « con. » The following example translates the mobile (con) or immobile (cái) nature of the object thuyền (or boat in French) used: Con thuyền trôi theo dòng nước (The boat moves along the water). This means that someone is making the boat move with the oar or with the engine. On the other hand, when one says « cái thuyền trôi theo dòng nước » (The boat moves along the water), the emphasis is on the fact that there is no one maneuvering the boat. It is the flow of the water that makes the boat move by itself. This notes the immobile nature of the boat. The influence of Yin and Yang is not unrelated to the way the gender is sometimes attributed to common objects. This is the case with the knife (dao): dao cái (large knife), dao đực or dao rựa (or machete). This observation was noted by Alain Thote, the French archaeologist and sinologist, in his article entitled « Origin and Early Developments of the Sword in China« : The swords of Yue enjoyed great fame in antiquity.

This is the case of the fish entrails sword that the butcher named Zhuan Zhu (Chuyên Chư) used to assassinate the Liao sovereign (Ngô Vương Liêu) of the state of Wu (nước Ngô) during the Spring and Autumn period (Xuân Thu), etc. Some swords bore a name and could be masculine or feminine. The expression « đực rựa, » often heard in conversations to refer to men, comes from the old Vietnamese custom of carrying machetes when going out.

The association of sexes has also been visible for a long time in Vietnam in rice cultivation: the man plows and the woman transplants. The plowshare that pierces the earth (âm) (Yin) symbolizes the male sex (Yang) (dương), while through transplanting, the woman transmits her fertilizing power (âm) (Yin) to the rice plants (dương) (Yang). To denote the perfect harmony in the union of Yin and Yang, it is customary to say in Vietnamese: United, husband and wife can scoop all the water from the Eastern Sea. (thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn).

Being rice farmers, the Proto-Vietnamese were attached not only to the land but also to the environment because, thanks to natural phenomena (rain, sun, wind, clouds, etc.), they could have good harvests or not. Extensive rice cultivation by slash-and-burn or in naturally flooded fields depended on climate uncertainties. That is why they needed to live in harmony with nature.

They considered themselves the link between Heaven and Earth (Thiên-Nhân-Địa). Based on this notion, it is common to say in Vietnamese: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa (being aware of weather conditions, knowing the terrain well, and having popular support or national harmony). These are the three key factors of victory often referenced by Vietnamese strategists (Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung) in their struggle against foreign invaders. The Vietnamese take this triad (Tam Tài) into account in their way of thinking and daily life.

For them, there is no doubt that this notion has an undeniable influence on the person themselves: their destiny is dictated by the will of Heaven and depends on their birth date. With the external and internal environment of their dwelling, they can receive the harmful or beneficial breath (qi) generated by the earth. The art of harmonizing the environmental energy of one’s place of residence allows one to minimize troubles and promote well-being and health. A flat terrain without undulations or hills is lifeless and lacks qi breath (Khí). The Vietnamese call hills and mountains Dragons and Tigers. Buildings should have a green dragon to the west and a white tiger to the east. The benevolent Dragon must be more powerful than the Tiger (Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ) that is to say the Dragon mountain must be higher than the Tiger hill. The notion of harmony takes on its full meaning when a site backed by a mountain and surrounded on two sides by chains of hills that protect it from winds dispersing the Chi (or cosmic energy) gives access to a lake or a river where there is water and food essential for life and the accumulation of cosmic energies (Chi).

This model can be found in the case of the historic city or citadel of Huế (Kinh thành Huế). It is oriented towards the south because in the Yi King it is written: the one who governs the country must look towards the south « Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ thí » (the king turns his face to the south to rule the world). The enclosure of this citadel is a defensive construction with a military character based on the fortress technique of the famous engineer Vauban and encompassing near its southern front the imperial city bounded by a second rectangular enclosure measuring 622×606 meters. Inside this is the purple forbidden city forming the symbolic heart of the empire within a third and last almost square enclosure of 330×324 meters. The interlocking of these three enclosures refers to the Triad (Heaven, Man, Earth).

The southern front of the citadel, where the Meridian Gate is located, follows a convex path along the Perfume River. Resembling a dragon lying in the West, it undulates and rises towards the North, weaving through small hills and making a 90° bend to the East. It first reaches the protective islands of Dã Viên and Cồn Hến before joining the sea. This creates an ideal position (Chi Huyền Thủy) in accordance with the scheme described above, with a green dragon to the East and a white tiger to the West represented respectively by the shell islands (Cồn Hến) and Dã Viên, facing a natural screen symbolized by the Royal Screen Mountain (Núi Ngự Bình).

 

Man can act and influence his own life. By performing benevolent acts towards others, he can find happiness and improve his karma. In the past, there was a Nam Giao or Tế Giao ceremony in Vietnam, organized every year by the court of Hué in honor of Heaven and Earth. It is the emperor’s privilege to annually associate his deified ancestors with the homage paid to Heaven and Earth on a monumental esplanade built in 1806 in the southern suburbs of Huế because he is the son of Heaven. There are three levels corresponding to the triad: Heaven, Representative (emperor), Earth (Thiên, Nhân, Địa).

Each level has its own shape and a different color: the sky is spherical and the earth square (trời tròn đất vuông), thiên thanh địa hoàng (the sky is light blue and the earth yellow). Previously subjected to isolation and fasting, the emperor ascended the esplanade of sacrifices and acted on behalf of his people to ask the natural forces of the universe to improve the environment on earth. The emperor is the only figure qualified to be the intermediary between Heaven and Earth. This triad (Thiên, Nhân, Địa) has often been mentioned in Vietnamese legends.

In the legend of the « The God of Mountains and the God of Rivers (Sơn Tinh Thủy Tinh) » there is a girl named Mi Nương who is sought in marriage by these two spirits, or in the legend of the Kitchen genius myth  (Chuyện Táo quân), the woman is torn between the love of her former husband and that of the new one. In the legend of the « Betel Quid, » the triad (wife, husband, younger brother) is represented by the woman, her husband, and her twin brother who, once deceased, respectively become the betel leaf, the areca nut, and the lime stone. The betel quid well reflects the notion of balance and harmony found in the theory of Yin and Yang. To prepare the betel quid, a little slaked lime is spread on a betel leaf.

Then, orange-yellow colored root bark of Artocarpus tonkinese is added, and finally a betel nut finely sliced is incorporated. The whole mixture is placed in the mouth and slowly chewed. After about twenty minutes of chewing, the remaining quid is spit out. The five tastes can be found in the betel quid: sweet from the betel nut, spicy from the betel leaf, bitter from the root, salty from the lime, and sour from the saliva. Through the image of the fresh betel vine emerging from the earth symbolized by the lime stone and entwining the slender areca palm trunk in this legend, one wants to note the character of the perfect balance between Yin (Earth) and Yang (Heaven) in perfect harmony. The betel quid is the prelude to every conversation (Miếng trầu là đầu câu chuyện), as often said in an old Vietnamese proverb. Acceptance carries deep meaning and amounts to a firm commitment, a given word that no one would think to take back. If the exchange occurs between a girl and a boy, it is equivalent to a proposal of marriage or union. In Vietnamese tradition, the betel quid is a symbol of conjugal happiness. It cannot be missing from marriage rites.

In the civilization of wet rice cultivation, there are other trinities as important as the triad (Heaven, Man, Earth). This is the case with the triad (Thủy, Hỏa, Thổ) (or (in French Water-Fire-Earth)) or the triad (Mộc, Kim, Thổ) (or Wood, Metal, Earth). We need the earth for rice cultivation, water, and fertilizers derived from ashes caused by fire to fertilize the soil. Similarly, plants are used for food and metals to make appropriate tools for agriculture. We notice that these triads have a common element, which is earth. That is why it occupies a central place in the management of the four cardinal points. It is the pivot around which the other four elements revolve. In agricultural life, the most important element after earth is water. It is the phrase: Nhất nước nhì phân (First water, second fertilizer) often heard from a Vietnamese farmer. Since water has a Yin nature, it is attributed to the North direction because it is compatible with cold (winter). On the other hand, being Yang in nature, the fire element of the triad (Thủy, Hỏa, Thổ) is better associated with the South direction with heat and radiation (summer). The wood element clearly recalls plants whose birth often takes place in spring. It is associated with occupying the west direction with the growth of Yang. As for the metal element, which is malleable and can take different forms, it is associated with the east direction, which is linked to autumn.

The Vietnamese find in the theory of Yin and Yang an idea of alternation rather than opposition. Yin and its complementary element Yang form an entity that allows for the establishment of a good balance and harmony. For them, the world represents a totality of cyclic orders constituted by the combination of two alternating and complementary manifestations. It is known that in an opposing relationship, both Yin and Yang each carry the seed of the other within themselves. (Nothing is completely Yin or completely Yang; within Yin there is Yang and within Yang there is Yin). Yin and Yang are considered as the wheel of a chariot. Having reached their end, they begin again. Once their limit is reached, they return again.

A set of popular sayings reflecting the law of causality concretely testify to the mutation of Yin and Yang. That is why it is customary to say in Vietnamese « Trong rũi có may » (In misfortune, there will be luck), « Trong dỡ có hay » (In what seems bad, there is also something good), « Trong họa có phúc » (In misfortune, there will always be happiness). « Sướng lắm khổ nhiều » (The more satisfied the desire, the more one will suffer), « Trèo cao ngã đau » (The higher you climb, the more painful the fall). « Yêu nhau nhiều cắn nhau đau » (The more we love each other, the more we hurt each other). Lost possessions are therefore sometimes the ransom of a human life. This is clearly expressed by the Vietnamese proverb: Của đi thay người (possessions go away instead of people). The factors Phúc (happiness) and Họa (misfortune) must vary inversely to each other.

It is thanks to this Yin and Yang bipolarity that the Vietnamese are accustomed to seeking a good balance in daily life. They try to find perfect harmony with everyone and with nature even beyond their death. This was discovered in the Lạch Trương necropolis (Thanh Hóa), dating back to 3 centuries before Christ, with wooden burial objects (Yang) placed in the North (Yin) and those made of terracotta (Yin) in the South (Yang).

This notion of balance can even be found in the pagoda with the spirits of good and evil (Ông Thiện Ông Ác). It is thanks to this philosophy of balance that the Vietnamese have the ability to adapt to all situations, even in extreme cases. It is also this principle of balance that Vietnamese leaders have continued to uphold in the past during confrontations with foreign countries. To avoid the humiliation of the Mongols, who were defeated twice in Vietnam, General Trần Hưng Ðạo proposed paying tribute to Kubilai Khan in exchange for lasting peace. After defeating the Ming Chinese, Nguyễn Trãi, the strategic advisor to King Lê Lợi, did not hesitate to allow Wang Tong (Vương Thông) to return to China with 13,000 captured soldiers and proposed a vassalage pact with a triennial tribute of two medium-sized statues made of fine metal as compensation for two generals who died in battle, Liou Cheng (Liễu Thăng) and Leang Minh (Lương Minh). Similarly, King Quang Trung showed humility and agreed to send an envoy to Emperor Qianlong to seek peace after crushing the Qing army at Hanoi in 1788 within a very short time (6 days).

We must not forget either the conduct and flexibility demonstrated by the communist leaders in diplomacy during the confrontation with the French and the Americans. The Geneva (1954) and Paris (1972) agreements once again testify to the search for balance or the middle way ingeniously found by the Vietnamese in the theory of Yin and Yang.
In Vietnam, spherical objects (tròn) are integrated into Yang, and square-shaped ones (vuông) into Yin. This tendency dates back to a time when it was believed that the sky was spherical and the earth was square because the ancient Vietnamese had to square the land before they could use it for plowing and building houses. It was in this mindset that the Bai Yue (of which the Proto-Vietnamese were a part) used to divide a portion of land into nine lots based on the character tĩnh (giếng nước, meaning water well). The central lot was designated for building a water well, and the remaining eight lots were intended for constructing houses, thus forming the first housing unit in agricultural society.

The following Vietnamese popular saying: trời xanh như tán lọng tròn; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông (The blue sky is like a round parasol; the earth is firm like a square chessboard) reflects this belief well.The Proto-Vietnamese knew that the sky was round and the earth was square to distinguish between the round aspect of the sky at the moment of its existence (thể) and the square aspect of the earth at the moment of its use (dụng).

 NEXT (More reading Part 2)


Bibilography

–Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
–Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống đồng giữa học giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18. 
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net) 
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001. 
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36. 
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556) …..

 

 

 

Sacrifice (English version)

sacrifice_1f
Version Française
Version vietnamienne

Life is a game of chance. The chance is against us. It’s worth dying now for the country and set an example of sacrifice

Nguyễn Thái Học

Vietnam is not only a land of legends and learned men but also a land that men have acquired acre by acre in a crual mother nature for more than four thousand years. The cradle of the Vietnamese nation, the delta of Tonkin bordered by mild hills of the Hundred Thousands Mounts of China and squeezed in the South by a quasi impenetrable range, the Annamitic Cordillera, reduced to 15,000 km2 but rich of all the mud pulled out by the Red river, continues to be threathened by the latter with the discharge of 500m3 at low tide up to 3500m3 during the highest crests.

To master the blows of sword of the Red River, the Vietnamese people resort to a method of building dikes, which requires not only an increased watch of dikes but also a perpetual struggle. Facing the never-ending change of nature, the caprice of the Red river and the territorial ambitions of China, the Vietnamese people owe their safety at the cost not only of their labor and courage but also of their sacrifice in the long march filled of pitfalls towards the South.

This sacrifice is not foreign to the majority of Vietnamese in particular the men and women of character. It also becomes a cult that one likes to maintain and ceaselessly praise for Vietnam to excite the whole people before the threat of foreigners.

The sacrifice is the surest way to maintain the perfection of the homeland but it is also the synonym of loyalty and dignity. A great person is the one who dares take the responsibilities in moments of difficulty in his or her life but it is also the one who knows how to sacrifice himself or herself for a good cause, in particular for his or her country. The sacrifice is indispensable to the word « honor » in Vietnam.

Because of this moral dignity, many military people prefered suicide to surrender (Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Bình Trọng, Võ Tánh etc..). That is why it is the habit to say:

Hùm chết để da, người chết để tiếng.
A dead tiger leaves its hide, a deceased person his reputation. 

The history of Vietnam is also that of sacrifices. The duty of a Vietnamese is to serve his or her country with all his heart. The greater the danger, the better his or her loyalty seems to be.

 

 

Heroes sacrifice for their fatherland. No matter what happens, his honor is never tainted. It is the case of the scholar Phan Thanh Giản, signatory of the Franco-Vietnamese treaty of 1868. After having failed to put up with the French in the defense of the three western provinces of the Mekong delta (Vĩnh Long, An Giang and Hà Tiên) he chose to surrender and decided to poison himself in 1967 because he thought it was the only way to save the people and to show his fidelity to emperor Tự Ðức. The same, Nguyễn Tri Phương (1873), adversary of Francis Garnier and Hoàng Diệu (1882), adversary of Henri Rivière preferred suicide after having failed to defend Hànội city.

During the French occupation, sacrifice became the flame of hope lit by unknown people such as Nguyễn Trung Trực, Phạm Hồng Thái. The former accepted to die in the stead of his mother captured after having succeeded in blowing up the French « Espérance » on its passage on the « Nhựt Tảo » river in Long An while the latter, chased by the Chinese police in his escape, preferred to throw himself in the river after having failed to assassinate the French governor Merlin during his passage by Canton in 1924. Admiror of his courage and sacrifice for his fatherland, the governor of Canton later buried his remains in a cemetery solely reserved for the 72 Chinese heroes and known as « Hoàng Hoa Cương » in Vietnamese. 

If this sacrifice is not a vain word for men, it carries a particular meaning for the Vietnamese women. Princess Huyền Trân of the Trần dynasty was proposed to become in 1306 the wife of king Chế Mẫn (Jaya Simhavarman)  in exchange of the two territories of Champa Chau Ô and Châu Rí. She had to sacrifice her life, her love for reason of State.

The same, three centuries later, a princess of the Nguyễn dynasty, of the name Ngọc Vạn to whom the word « Cochinchina » or (Cô chín xin) was attributed, was not late in following Huyen Tran’s footsteps in becoming the concubine of Cambodian king Prea Chey Chetta II in 1618 in exchange of the facilities granted to Vietnamese in their settlement in the region Ðồng Nai Mô Xoài which is no other than the Saigon-Cholon region today.

Her presence on the Cham soil served as a pretext for lord Nguyễn Phúc Tần to launch an expedition and annex the last territory of Champa in 1651. One cannot blame the Cham for hating princess Ngoc Khoa at that time because of her, they have lost their homeland. But Ngọc Khoa illustrates for us, the Vietnamese the sublime sacrifice she consented for her country and her people.

 

 

 

Po Klong Garai (PhanThiết)