Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ)
Le marché flottant Cái Răng (Cần Thơ)
Traditions vietnamiennes ou mondiales.
Complexe paysager de Tràng An
English version
Version vietnamienne
Pagode Bái Đính
Étant située sur la chaîne de montagnes karstiques Tràng An de Ninh Bình, la pagode Bái Đinh a connu une longue existence datant de plusieurs siècles. Sa renommée est attestée depuis longtemps sous les dynasties successives: Đinh, Lê antérieur et Lý. Aujourd’hui, elle devient un complexe religieux où on trouve non seulement le temple ancien mais aussi de nouveaux temples en cours de construction depuis 2003. La pagode Bái Đính est considérée en Asie du Sud Est comme la pagode possédant la statue gigantesque Bouddha coulée en bronze et importée de la Russie. Celle-ci a une hauteur de 16 mètres et un poids de 100 tonnes. Les 500 arhats en marbre blanche de la pagode sont répartis à peu près sur 2 kilomètres tout le long d’un couloir. Ce complexe a une superficie totale de 539 ha dont on attribue 27 ha pour l’ancienne pagode, 80 ha pour les nouveaux temples, un centre d’études bouddhiques, des espaces d’accueil et des parkings ainsi qu’un système de lacs.
Patrimoine culturel mondial du Vietnam
nằm trên sườn núi đá Tràng An của Ninh Bình là một chùa đã có lâu đời. Chùa được nổi tiếng dưới ba triều đại: Đinh, Tiền Lê và Lý. Ngày nay, chùa Bái là một quần thể tôn giáo gồm có không những ngôi đền cổ mà còn có thêm các ngôi đền khác được xây dựng từ 2003. Chùa Bái Đính được xem ở Đông Nam Á là chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất nhập từ Nga Sô. Tượng nầy có bề cao là 16 thước và nặng 100 tấn. 500 La Hán bằng cẩm thạch trắng được phân phối dộc theo hành lang dài gần 2 cây số. Quân thể nầy có một diện tích tổng cộng là 539 ha mà trong đó 27 ha dành cho chùa cổ, 80 ha cho các đền mới xây cất, một khu học viện Phật giáo, một khu đón tiếp du khách và các bãi đậu xe chưa kể đến các hồ nước.
Ninh Bình (Hạ Long cạn)
Une autre caractéristique importante de la maison traditionnelle de Hội An est la présence d’une paire des « yeux du dragon » en bois accrochés souvent au-dessus de sa porte d’entrée. Parfois on les retrouve à l’intérieur de la maison. On recense au moins une douzaine de modèles ayant chacun une forme différente: un rond, un octogone etc… mais le modèle le plus commun trouvé reste le chrysanthème à huit pétales correspondant aux 8 caractères trouvés dans le Yi King (Kinh Dịch) et ayant à son centre le symbole du Yin et du Yang (Âm Dương). Ces yeux du dragon sont aussi un détail important que l’architecte polonais Kazimierz Kwiatkowsky (Kazik) ne laissa pas s’échapper au moment où il avait eu l’occasion d’examiner l’architecture de Hội An, en particulier celle de ses maisons traditionnelles. Certains spécialistes trouvent dans ces yeux l’incarnation de l’âme de la ville Hội An tandis que d’autres attribuent à cette paire l’allégorie de la culture et de la tradition orientale. Selon l’écrivain Hữu Ngọc, les chercheurs ont trouvé leur origine à partir des clous en bois dont on est habitué à voir la fixation dans les linteaux des portes d’accès aux temples bouddhistes dans le Sud de la Chine.
Personne ne conteste cette explication relative à leur origine mais on est amené à penser que cette paire d’yeux revêt plutôt une signification très spéciale, un caractère spirituel ou religieux que le propriétaire de la maison aimerait lier à son destin lors de son installation. Pour ce dernier, ces yeux ont la faculté d’entendre les réflexions de chaque membre au sein de la famille et de capter aussi tout ce qui s’est passé autour de la maison et au cœur même de sa propre vie. Il faut se rappeler qu’avant d’être sinisés, les gens de la région du Sud de la Chine faisaient partie du groupe Bai Yue (Cent Yue). Analogues aux Vietnamiens, ils étaient animistes car ils croyaient qu’il existait une force vitale, une âme animant tous les êtres naturels ou non (y compris les objets). (Vạn vật hữu linh). Ce culte perdurait depuis la nuit des temps. Ces yeux du dragon sont en quelque sorte ceux du génie protecteur de la maison.
On retrouve le même culte chez d’autres peuples: dvàrapàla (gardien de la porte) (Hộ pháp) chez les Cham. Les Vietnamiens n’échappent pas non plus à ce culte ainsi que les Thaïlandais et les Cambodgiens. C’est le cas des génies du bien et du mal qu’on trouve souvent à l’entrée de la pagode. On est habitué à voir aussi sur la proue des barques vietnamiennes ces deux yeux censés de se prémunir contre les esprits malfaisants lors de la navigation maritime. Etant utilisée pour protéger les gens contre la pluie et la chaleur, la maison traditionnelle semble être toujours un objet inanimé. Pourtant, en lui offrant ces deux yeux du dragon, le propriétaire réussit à la rendre vivante et à lui donner une âme. Les Vietnamiens ont l’habitude de dire « Đội mắt là cửa sổ của tâm hồn (Les yeux sont la fenêtre de l’âme) ». Puisque elle a une âme, elle ne montre plus son indifférence mais elle devient ainsi plus affective si bien que le visiteur ne peut pas rester insensible à l’atmosphère chaleureuse et à l’hospitalité que le propriétaire aimerait lui réserver lors de sa visite. C’est à travers ces yeux du dragon qu’on découvre le talent inouï de celui qui a pris l’initiative de les créer. Cela permet aux maisons traditionnelles de Hội An d’être imprégnées désormais d’un charme architectural indémodable qu’on ne trouve pas dans le Sud de la Chine ni ailleurs.
Một đặc điểm quan trọng khác của ngôi nhà truyền thống ở Hội An là sự hiện diện của một đôi “mắt rồng” bằng gỗ thường được treo phía trên trước cửa nhà. Đôi khi chúng ta tìm thấy chúng ở trong nhà. Có ít nhất một chục mô hình, mỗi mô hình có hình dạng khác nhau: hình tròn, hình bát giác vân vân…. Nhưng mô hình được phổ biến nhất tìm thấy vẫn là hoa cúc với tám cánh hoa tương ứng với 8 chữ được tìm thấy trong Kinh Dịch và ở trung tâm của nó là biểu tượng của Âm Dương. Đôi mắt rồng này cũng là một chi tiết quan trọng mà kiến trúc sư người Ba Lan Kazimierz Kwiatkowsky (hay Kazik) đã không để bỏ sót khi ông có dịp khảo sát đến kiến trúc của Hội An, đặc biệt là những ngôi nhà truyền thống ở đây. Một số chuyên gia cho rằng đôi mắt này là hiện thân linh hồn của thành phố Hội An trong khi những người khác lại cho rằng cặp mắt này là ngụ ngôn về văn hóa và truyền thống phương Đông. Theo nhà văn Hữu Ngọc, các nhà nghiên cứu đã tìm ra được nguồn gốc của chúng từ những chiếc đinh bằng gỗ được thấy đóng vào các lanh tô các cửa ra vào của các ngôi chùa Phật giáo ở miền nam Trung Quốc.
Không ai chối cãi sự giải thích này có liên quan đến nguồn gốc của chúng nhưng chúng ta nghĩ rằng đôi mắt này có một ý nghĩa đặc biệt, mang một tính chất tâm linh hoặc tôn giáo mà người chủ nhân ngôi nhà muốn liên kết chúng với số phận của họ khi lúc mới vào ở ngôi nhà. Đối với chủ nhân, đôi mắt này có khả năng nghe thấu những suy tưởng của mỗi thành viên ở trong gia đình và cũng có thể nắm thông hiểu mọi việc đã xảy ra ở xung quanh ngôi nhà và luôn cả trong cuộc sống của họ. Cần nên nhớ lại trước khi bị Hán hóa, người dân ở khu vực phía nam Trung Quốc thuộc về nhóm Bách Việt. Tương tự như người dân Việt, họ là những người theo thuyết vật linh vì họ tin rằng có một sinh lực quan trọng, một linh hồn làm sinh động mọi sinh vật, tự nhiên hay không (kể cả vật thể). (Vạn vật hữu linh). Sự tôn thờ này đã kéo dài từ buổi ban sơ. Đôi mắt rồng nầy nó là phần nào đôi mắt của thần bảo vệ ngôi nhà.
Chúng ta nhận thấy có sự sùng bái tương tự ở các dân tộc khác: dvàrapàla (người gác cổng) (Hộ pháp) của người Chàm. Người Việt Nam tựa như người Thái và người Cao Miên không tránh khỏi việc sùng bái nầy. Đây là trường hợp của những vị thần thiện và ác thường được thấy ở lối vào của chùa. Chúng ta cũng thường nhìn thấy hai con mắt này trên những mũi tàu hay thuyền của người dân Việt dùng để chống lại tà ma trong việc hàng hải.
Được sử dụng để che mưa chống nắng, ngôi nhà truyền thống dường xem như là một vật vô tri vô giác. Tuy nhiên, bằng cách cung cấp cho ngôi nhà đôi mắt rồng này, chủ nhân đã làm cho ngôi nhà nầy sống lại và cho nó có được một linh hồn. Người Việt Nam thường nói « Đội mắt là cửa sổ của tâm hồn« . Từ khi có linh hồn, ngôi nhà không còn tỏ ra hờ hững mà trở nên dễ xúc động hơn khiến du khách không thể vô cảm trước bầu không khí ấm áp và lòng hiếu khách mà chủ nhân dành cho người khách trong chuyến viếng thăm của họ. Chính qua đôi mắt rồng nầy, chúng ta mới phát hiện được tài năng đáng kinh ngạc của người đã có óc sáng kiến tạo ra chúng. Điều này cho phép các ngôi nhà truyền thống của Hội An có được một nét duyên dáng kiến trúc vượt thời gian mà không thể tìm thấy ở miền nam Trung Quốc hay ở các nơi khác.
Another important feature of the traditional Hội An house is the presence of a pair of wooden « dragon eyes » often hung above its entrance door. Sometimes they are found inside the house. At least twenty models have been recorded, each with a different shape: a circle, an octagon, etc., but the most common one found remains the chrysanthemum with eight petals corresponding to the 8 characters found in the Yi King (Kinh Dịch) and having at its center the symbol of Yin and Yang (Âm Dương). These dragon eyes are also an important detail that the Polish architect Kazimierz Kwiatkowsky (Kazik) did not overlook when he had the opportunity to examine the architecture of Hội An, particularly that of its traditional houses. Some specialists see in these eyes the embodiment of the soul of the city of Hội An, while others attribute to this pair the allegory of Eastern culture and tradition. According to the writer Hữu Ngọc, researchers have traced their origin to wooden nails commonly seen fixing the lintels of entrance doors to Buddhist temples in southern China. No one disputes this explanation regarding their origin, but one is led to think that this pair of eyes rather carries a very special meaning, a spiritual or religious character that the owner would like to link to their destiny upon settling in.
For the latter, these eyes have the ability to hear the thoughts of each family member and also to capture everything that has happened around the house and at the very heart of their own life. It should be remembered that before being sinicized, the people of the southern region of China were part of the Bai Yue group (Hundred Yue). Similar to the Vietnamese, they were animists because they believed in a vital force, a soul animating all natural or non-natural beings (including objects). (Vạn vật hữu linh). This cult has lasted since time immemorial. These dragon eyes are in a way those of the protective spirit of the house.
The same cult is found among other peoples: dvàrapàla (guardian of the gate) (Hộ pháp) among the Cham. The Vietnamese are no exception to this cult, as well as the Thais and the Cambodians. This is the case with the spirits of good and evil often found at the entrance of the pagoda. It is also common to see on the prow of Vietnamese boats these two eyes meant to protect against evil spirits during maritime navigation. Being used to protect people from rain and heat, the traditional house seems always to be an inanimate object. Yet, by giving it these two dragon eyes, the owner succeeds in bringing it to life and giving it a soul. The Vietnamese have the habit of saying « Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn (The eyes are the window of the soul). » Since it has a soul, it no longer shows indifference but becomes more affectionate so that the visitor cannot remain indifferent to the warm atmosphere and hospitality that the owner would like to offer during the visit. It is through these dragon eyes that one discovers the extraordinary talent of the one who took the initiative to create them. This allows the traditional houses of Hội An to be imbued with an timeless architectural charm that is not found in southern China or elsewhere.
Située à 30 kilomètres de Ðà Nẳng, Hội An est un joyau d’architecture. Hội An fut à l’origine une foire internationale fréquentée par les marchands japonais, chinois et indiens aussi bien que ceux venant de l’Ouest. L’UNESCO a recensé plus de 844 sites d’intérêt historique (ponts, pagodes, maisons particulières etc…).
Étant de passage trois fois déjà à Hội An, j’aimerai y retourner un jour si j’ai une bonne occasion dans les années à venir. Outre les maisons historiques, les musées, les spécialités locales délicieuses comme Cao Lầu, Won-ton, gâteaux farcis aux crevettes en hachis, Hội An continue à garder le charme d’antan. Il est impossible de prévoir son avenir car à cause de l’augmentation du nombre de touristes étrangers en particulier chinois comme à Nha Trang, Dalat, le joyau de l’architecture de Hội An n’est plus la destination idéale s’il n’y a pas une politique d’encadrement sévère et sérieuse. Chaque saison apporte au touriste une expérience différente en particulier à ceux qui aiment la photographie comme moi.
En été, à Hội An, il fait tellement chaud en particulier à 13 heures. C’est à cette heure que les gens cherchent l’endroit pour se détendre, prendre le déjeuner dans les restaurants, aller à la plage ou visiter l’île Poulo Cham. C’est une occasion idéale pour moi de faire la photographie car les rues sont presque désertes, le ciel est d’un bleu d’azur, les touristes ne sont pas nombreux dans les rues et dans les maisons historiques. Lorsqu’il pleut, c’est un peu pénible car il faut passer des heures dans les cafés ou dans les sites historiques où les gens n’ont aucune pudeur de parler fort et de ne pas savoir respecter la tranquillité comme dans les musées parisiens. Hôi An ne connait que deux saisons distinctes. Quelle que soit la saison, Hội An commence à s’animer vers 7 heures du soir car à ce moment le temps devient clément. Le touriste commence à découvrir son attrait et son charme au fil de la nuit.
Outre les spectacles d’animation populaires, il y a le marché de nuit, les restaurants illuminés avec leurs lampions. Vers la fin du mois de juillet, se déroule tous les ans la fête des lumignons ayant lieu sur le fleuve Hoài. Ces petites bougies scintillantes flottent comme de petites étoiles brillantes dans le ciel. C’est une suggestion venant de l’idée originale de l’architecte polonais Kasimierz Kwakowski, l’un des chercheurs ayant apporté beaucoup d’efforts dans la préservation des patrimoines mondiaux du Vietnam, Mỹ Sơn et Hội An. Cela apporte néanmoins un grand plaisir pour la plupart des touristes. Etant de passage à Hôi An, le touriste est habitué à connaître seulement son vieux quartier Minh An. C’est ici qu’on trouve un grand nombre de maisons historiques et de musées. Ce quartier Minh An ressemble à une table de jeux d’échecs avec ses rues verticales Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ, Trần Qúi Cáp và Hai Bà Trưng et ses rues longitudinales Trần Phú, Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng.
Un poète anonyme ou un touriste n’hésite pas à laisser les deux vers imprégnés de romantisme et de nostalgie:
Les rues en largeur ressemblent à des travées
Les rues en longueur à de longs moments d’attente.
Tuy đến Hội An đã có ba lần rồi nhưng nếu có cơ hội, tôi sẻ trở lại với thành phố nầy vì ngoài các nhà cổ kính, các viện bảo tàng, các thức ăn ngon miệng như cao lầu, hoàn thánh, bánh bao, bánh vạc , bánh đậu xanh vân vân … Hội An vẫn còn giữ được nét đẹp duyên dáng của một thời. Nhưng khó mà dự đoán được trong tương lai vì với số lượng du khách càng ngày càng đông như ở Nha Trang, Đà Lạt thì Hội An sẻ không còn là một điểm tham quan lý tưởng dù biết rằng đây là một kỳ công kiến trúc của phương Đông cổ xưa nếu không có giải pháp nào nghiêm túc. Hội An mỗi mùa đem lại cho người du khách một trải nghiệm khác nhau nhất là những người thích chụp hình như tôi.
Ở Hội An mùa hè thời tiết rất nóng nực nhất là giờ trưa (13 giờ) khiến mọi người ẩn náu, tìm nơi nghỉ ngơi, ăn uống ở các quán, ra biển tấm hay tham quan Cù Lao Chàm thì đây là cũng là cơ hội tốt thích hợp nhất để chụp hình. Đường xá vắng vẻ, trời thường xanh biếc nếu không mưa, du khách lại thưa thớt ở trên đường phố và ở các điểm tham quan. Còn gặp mùa mưa thì phải chật vật, phải buồn một tí, chỉ còn biết la cà ở các quán cà phê hay trong các nhà cổ kính thôi nhưng phải chịu sức ép của số người du khách ở các nơi nầy nhất là các du khách người Á không biết tôn trọng sự yên tịnh như ở các viện bão tàng Paris. Ở Hội An hai mùa rất rõ rệt. Dù mùa nào đi nửa thì về đêm, Hội An rất sống động vào khoảng 7 giờ chiều vì lúc đó trời bớt nóng nực, Hôi An lên đèn. Lúc đó du khách sẻ nhận thấy Hội An rất quyến rũ và xinh đẹp về đêm.
Ngoài các trò hát dân gian còn có chợ đêm, các nhà hàng lung linh với các đèn lồng. Vào các đêm rầm (tháng 8), có lễ hội thả đèn hoa đăng trên sông Hoài hiền hoà. Các ngọn đèn hoa đăng lấp lánh trôi trên sông tựa như một bầu trời đầy sao. Đây là một ý tưởng độc đáo, một gợi ý của một người bỏ nhiều công sức để bảo tồn di sản Hội An và Mỹ Sơn của Việt Nam, cố kiến trúc sư Ba Lan Kasimierz Kwakowski, mà nay nó trở thành niềm vui không ít cho du khách. Đến Hôi An, du khách thông thường chỉ biết đến khu phố cổ Minh An. Nơi nầy qui tu tất cả các điểm quan trọng ở Hội An. Nó tựa như một bàn cờ với những phố ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ, Trần Qúi Cáp và Hai Bà Trưng và những phố dài Trần Phú, Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng. Một nhà thơ khuyết danh hay là một du khách để lại hai câu thơ quá lãng mạn và mơ mộng trong niềm thương nhớ Hội An:
Phố ngang như những nhịp cầu
Phố dọc như những dài lâu đợi
Version vietnamienne
Version anglaise
Hoành Thánh (Won-ton)
En mangeant ce won-ton frit, on découvre un goût exquis car il y a dans ce plat un mélange subtil et judicieux de saveurs (sucrée venant de la chair de crevette, acidulée de la tomate, âcre et brûlante des oignons et grasse de la friture de la pâte). Ce won-ton est préparé à partir des pochettes de pâte de blé farcies aux crevettes en hachis. Mais il faut avoir les meilleures crevettes fraîches pour vous laisser un appétit insatiable.
Bánh Bao- Bánh Vạc
C’est une sorte de gâteau farci aux crevettes en hachis ayant pour l’enveloppe une pâte de riz très fine et toute blanche. On continue à le nommer « Bông hồng trắng (ou la rose blanche) ». C’est le nom donné par les Français à l’époque coloniale. Aujourd’hui, il n’y a qu’un seul établissement qui fournit ce gâteau aux autres restaurants de Hội An. On le mange en le trempant dans du jus de poisson dilué (nước mắm). On peut le goûter sur place dans ce restaurant fournisseur se trouvant à l’adresse suivante: 533 Hai Bà Trưng. Hội An.
Bánh đậu xanh
Ce gâteau d’haricots mous a une longue histoire. Depuis le XVIIIème siècle, il fut le cadeau de grande valeur offert aux mandarins locaux par les paysans pauvres. Il faisait partie aussi de la liste des présents offerts à l’empereur Minh Mạng lors de ses tournées d’inspection à Quảng Nam. Sa renommée semble entièrement justifiée car malgré la même constitution d’haricots, du sucre et du riz gluant, elle a non seulement un goût exquis mais aussi une présentation particulière qu’on ne trouve pas ailleurs. Etant de forme « carrée » ou « ronde », il peut être mou et sucré ou dur, salé et farci à la viande de porc. C’est un gâteau qu’on ne peut pas manquer lorsqu’on a l’occasion de visiter Hội An. Mais c’est aussi un cadeau original qu’on peut offrir à ses proches lors de son retour de voyage.
Hoành Thánh (Won-ton)
Khi ăn món hoành thánh chiên này, chúng ta khám phá ra một mùi vị cao nhã bởi vì trong món ăn này có sự hỗn hợp hương vị tinh tế và khéo léo (ngọt từ thịt tôm, thơm từ cà chua, chát và nóng từ hành tây và béo từ chiên bột). Hoành th ánh này được làm từ các túi bột mì nhồi tôm bằm. Nhưng phải có được những con tôm tươi ngon nhất để khiến bạn còn thèm ăn vô độ.
Bánh Bao- Bánh Vạc
Đây là một loại bánh nhồi nhân tôm bằm, được gói trong một lớp bột gạo trắng và rất mỏng. Chúng ta tiếp tục gọi nó là « Bông hồng trắng« . Đây là tên do người Pháp đặt trong thời thuộc địa. Ngày nay, chỉ có một cơ sở cung cấp món bánh này cho các nhà hàng khác ở Hội An là bánh được ăn bằng cách ngâm trong nước mắm pha loãng. Bạn có thể thưởng thức món này ngay tại nhà hàng của cơ sở cung cấp ở địa chỉ: 533 Hai Bà Trưng. Hội An.
Bánh đậu xanh
Bánh đậu mềm này có một lịch sử lâu đời. Kể từ thế kỷ 18, nó đã là một món quà quý giá mà được những người nông dân nghèo thường đem tặng cho các quan lại địa phương. Nó cũng nằm trong danh sách những lễ vật dâng lên cho vua Minh Mạng trong chuyến đi thanh tra ở Quảng Nam. Sự nổi tiếng của bánh đậu xanh dường như hoàn toàn chính đáng bởi vì ngoài thành phần đậu, đường và gạo nếp, nó không chỉ có hương vị tinh tế mà còn có cách trình bày đặc biệt không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Có hình dạng « vuông » hoặc « tròn », có thể mềm hoặc cứng và ngọt hay mặn và được nhồi với thịt lợn. Đây là món bánh bạn không thể bỏ qua khi đến Hội An, nhưng cũng là món quà thuần túy mà bạn có thể biếu tặng cho những người thân yêu trong chuyến du lịch.
Hoành Thánh (Won-ton)
Eating this fried won-ton reveals an exquisite taste because this dish contains a subtle and skillful blend of flavors (sweetness from the shrimp meat, tanginess from the tomato, pungency and heat from the onions, and richness from the fried dough). This won-ton is made from wheat dough pockets stuffed with minced shrimp. But you must have the best fresh shrimp to leave you with an insatiable appetite.
Bánh Bao- Bánh Vạc
This is a type of cake stuffed with minced shrimp, wrapped in a very thin and pure white rice dough. It is also called « Bông hồng trắng (or the white rose). » This is the name given by the French during the colonial period. Today, there is only one establishment that supplies this cake to other restaurants in Hội An. It is eaten by dipping it in diluted fish sauce (nước mắm). You can taste it on-site at this supplier restaurant located at: 533 Hai Bà Trưng, Hội An.
Green bean cake
This soft bean cake has a long history. Since the 18th century, it was a valuable gift given to local mandarins by poor peasants. It was also part of the list of presents offered to Emperor Minh Mạng during his inspection tours in Quảng Nam. Its reputation seems entirely justified because despite having the same ingredients of beans, sugar, and glutinous rice, it not only has an exquisite taste but also a unique presentation that cannot be found elsewhere. Being either « square » or « round » in shape, it can be soft and sweet or hard, salty, and stuffed with pork. It is a cake that one must not miss when visiting Hội An. But it is also an original gift that one can offer to loved ones upon returning from a trip.
Version vietnamienne
Version anglaise
Galerie des photos
Outre son charme architectural, Hội An s’est fait remarquer au fil de son histoire par les spécialités gastronomiques locales qui ne laissent personne indifférent, en particulier les plus fins gourmets vietnamiens et étrangers.
Selon un vieil adage hoianais, on a l’habitude de dire:
Hội An trăm vật , trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để chồng con hắn nhờ.
Tous les mets sont succulents à Hội An.
Votre mari et vos enfants risquent de perdre leur part si vous continuez à rester insatiable.
Parmi ces spécialités gastronomiques, il faut citer d’abord:
Cao Lầu
C’est une marque d’identité gastronomique de Hội An. Contrairement aux autres spaghetti, ce Cao Lầu est préparé à partir de la pâte de riz étalée en couche mince macérée dans l’eau de cendre (nước tro) du bois des arbres de l’îlot Poulo-Cham (Cù lao Chàm) et ayant passé trois feux avant, ce qui lui donne l’apparence de couleur jaune clair naturel. Selon l’écrivain Hữu Ngọc, si le plat Cao Lẩu ne réussit pas à vous faire une bonne impression, son histoire le fera à sa place car il fut venu à Hội An en même temps que les marchands japonais à la fin du XVIème siècle. Certains d’eux appréciaient la cuisine vietnamienne car ils avaient pour épouses des femmes vietnamiennes. D’autres préféraient garder leurs habitudes et importer la nourriture de leur pays, en particulier le plat de nouilles de riz semblable à celui de Cao Lầu d’aujourd’hui. Mais le spaghetti de Cao Lẩu de Hội An exige une préparation minutieuse et artisanale. Ce n’est plus le cas du Cao Lẩu japonais d’aujourd’hui avec sa pâte produite de façon industrielle. Outre le pont-pagode, l’influence de la contribution japonaise ne décline pas au fil des ans à travers ce plat incontournable.
La préparation du spaghetti de Cao Lầu requiert d’abord le rinçage du riz avec de l’eau douce d’un puits suivi ensuite par la pression du riz pour se débarrasser de l’eau de rinçage. Puis on pétrit le riz jusqu’à l’obtention d’une pâte à laquelle est ajoutée un peu d’eau de cendre pour lui donner la couleur jaune clair. La pâte est placée ensuite dans un récipient destiné au bain-marie (cái xửng) et ayant à son fond les feuilles de bananier. L’eau bouillie en ébullition dans la partie inférieure crée de la vapeur remontant ainsi dans la partie supérieure à travers les trous. La pâte cuite peut être enroulée et découpée en nouilles avec un couteau. Ces nouilles doivent être cuites à la vapeur avant d’être servies.
De petites escalopes de xá xíu (viande de porc marinée et frite) sont étalées sur ces nouilles et mélangées avec des fritons croustillants. Puis on les mange avec des germes d’haricots de soja et de la salade sans oublier d’ajouter un peu de vinaigre et de la sauce soja. Certains gens n’hésitent pas à les accompagner avec une galette de riz non salée qu’on a l’habitude d’appeler « bánh đa ». On peut trouver ce plat partout à Hội An. Chaque restaurant a sa propre façon de cuisiner ce plat mais pour le gourmet, il faut consacrer un peu de temps pour la marche (10 minutes) car la gargote qui réussit à garder encore la saveur de cette spécialité n’est pas située dans l’ancien quartier Minh An à Hội An mais elle se trouve à l’adresse suivante: 26 Rue Thái Phiên. [Lire la suite]
Ngoài nét duyên dáng kiến trúc, trong suốt chiều dài lịch sử, Hội An còn nổi bật với những đặc sản ẩm thực địa phương khiến không ai có thể hờ hững được, nhất là những kẻ sành ăn người Việt Nam và ở nước ngoài.
Theo một câu ngạn ngữ cổ của người Hội An, chúng ta thường nói:
Hội An trăm vật, trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để chồng con hắn nhờ
Tất cả các món ăn đều ngon ở Hội An.
Chồng và con của bạn có thể mất phần nếu bạn tiếp tục thèm ăn.
Trong số những đặc sản ẩm thực này, phải kể đến đầu tiên:
Cao Lầu
Đây là một dấu ấn bản sắc ẩm thực của Hội An.
Không giống như những món mì Ý khác, món cao lầu này được chế biến từ bột gạo trải ra thành lớp mỏng ngâm trong nước tro từ các củi gỗ Cù lao Chàm và qua ba lần lửa, khiến nó có một màu vàng nhạt tự nhiên. Theo nhà văn Hữu Ngọc, nếu món Cao Lẩu không gây ra được một ấn tượng tốt với bạn thì lịch sử sẽ làm điều đó vì nó đến Hội An cùng lúc với các thương nhân Nhật Bản vào cuối thế kỷ 16. Có một số người trong những người nầy rất thích ẩm thực Việt Nam vì vợ của họ là các phụ nữ Việt Nam. Những người khác lại thích giữ tập tục của họ nên nhập khẩu các thực phẩm từ đất nước của họ, đặc biệt là món mì sợ tương tự như món Cao Lầu ngày nay. Nhưng món mì Cao Lẩu của Hội An đòi hỏi sự chuẩn bị tỉ mỉ và tự chế. Điều này không còn thấy với Cao Lẩu Nhật Bản ngày nay vì bột nhào được sản xuất ngành công nghiệp. Ngoài chùa cầu ra, ảnh hưởng của sự đóng góp người Nhật không hề suy giảm trong những năm qua nhờ có món ăn thiết yếu này.
Để biến chế món mì của Cao Lầu, trước tiên cần phải vo gạo bằng nước tinh khiết từ giếng, sau đó vắt gạo để loại bỏ nước vo gạo. Sau đó, gạo được nhào cho đến khi thu có được bột nhão, thêm một ít nước tro để nó có màu vàng nhạt. Sau đó, bột được đặt ở phần trên của một cái xửng với các lá chuối ở phần dưới cùng của nó. Nước sôi ở phần dưới tạo ra hơi nước bốc lên ở phần trên qua các lỗ. Bột chín có thể cuộn lại và dùng dao cắt bột thành ra sợi mì. Những sợi mì này nên được hấp trước khi ăn.
Những lát thịt lợn tẩm ướp và rán(hay xá xíu) được trải lên những sợi mì này và trộn với khoai tây chiên giòn. Sau đó, chúng ta ăn với giá đỗ và x à lách và không quên thêm một chút giấm và nước tương. Một số người không ngần ngại ăn kèm với một chiếc bánh gạo không mặn thường được gọi là « bánh đa ». Bạn có thể tìm thấy món ăn này ở khắp mọi nơi của thành phố Hội An.
Mỗi quán có cách chế biến món này một cách riêng biệt nhưng đối với người sành ăn thì cũng nên dành một chút thời gian đi bộ (10 phút) vì quán nầy còn giữ được hương vị đặc sản này nhưng nó không nằm ở khu phố Minh An xưa mà nó nằm ở địa chỉ sau đây: 26 Đường Thái Phiên.
Besides its architectural charm, Hội An has made a name for itself throughout its history with local culinary specialties that leave no one indifferent, especially the finest Vietnamese and foreign gourmets.
According to an old Hội An saying, it is customary to say:
Hội An trăm vật, trăm ngon
Từ từ lỗ miệng, để chồng con hắn nhờ.
Tất cả các món ăn đều ngon ở Hội An.
Chồng và con của bạn có thể mất phần nếu bạn tiếp tục thèm ăn.
Hội An hundred things, hundred delicacies
Slowly savor them, so your husband and children can have some.
All dishes are delicious in Hội An.
Your husband and children might lose their share if you continue to remain insatiable.
Among these culinary specialties, the first to mention are:
It is a gastronomic identity mark of Hội An. Unlike other spaghetti, this Cao Lầu is made from rice dough rolled out into a thin layer and soaked in ash water (nước tro) from the wood of the trees on Poulo-Cham islet (Cù lao Chàm) and has been fired three times beforehand, which gives it a naturally light yellow color. According to the writer Hữu Ngọc, if the Cao Lầu dish does not manage to make a good impression on you, its history will do so instead because it came to Hội An at the same time as Japanese merchants at the end of the 16th century. Some of them appreciated Vietnamese cuisine because they had Vietnamese wives. Others preferred to keep their habits and imported food from their country, particularly the rice noodle dish similar to today’s Cao Lầu. But Hội An’s Cao Lầu spaghetti requires meticulous and artisanal preparation. This is no longer the case with today’s Japanese Cao Lầu, whose dough is produced industrially. Beyond the covered bridge, the influence of Japanese contribution has not diminished over the years through this essential dish.
The preparation of Cao Lầu spaghetti first requires rinsing the rice with fresh well water, followed by pressing the rice to get rid of the rinsing water. Then the rice is kneaded until a dough is obtained, to which a little ash water is added to give it a light yellow color. The dough is then placed in a container intended for a bain-marie (cái xửng) with banana leaves at the bottom. Boiling water in the lower part creates steam that rises to the upper part through the holes. The cooked dough can be rolled and cut into noodles with a knife. These noodles must be steamed before being served.
Small slices of xá xíu (marinated and fried pork) are spread over these noodles and mixed with crispy pork cracklings. Then they are eaten with soybean sprouts and salad, not forgetting to add a bit of vinegar and soy sauce. Some people do not hesitate to accompany them with an unsalted rice cake commonly called « bánh đa. » This dish can be found everywhere in Hội An. Each restaurant has its own way of preparing this dish, but for the gourmet, it is worth spending a little time walking (10 minutes) because the eatery that still manages to preserve the flavor of this specialty is not located in the old Minh An quarter in Hội An but can be found at the following address: 26 Thái Phiên Street.
English version
Vietnamese version
Comme le Vietnam est un pays d’eau, il n’est pas étonnant d’y voir la prolifération et la grande variété d’embarcations employées par les Vietnamiens dans leur transport par eau: de la plus légère et la plus petite jusqu’à la plus grande trouvée jusque-là seulement dans les pays avoisinants comme la Chine ou l’Indonésie. On trouve dans la construction de ces embarcations vietnamiennes une influence étrangère notable, chinoise dans le Nord et indonésienne ou indienne voire occidentale dans le Sud du Vietnam. Cette influence est plus perceptible dans le Centre du Vietnam ayant été occupé jusqu’au XIIIème siècle par les Vikings de l’Asie, les Chams dont la civilisation a été disparue dans les tourbillons de l’histoire par la marche séculaire des Vietnamiens vers le Sud. Malgré cela, les Vietnamiens faisant preuve d’un sens aigu de l’observation et d’une expérience vécue à cause du va-et-vient incessant des typhons sur la côte vietnamienne, savent combiner harmonieusement les données de ces différentes techniques étrangères pour réaliser des embarcations souvent plus maniables que les modèles chinois, malais ou indiens, ce qu’a remarqué P. Paris dans son ouvrage intitulé Recherche de parenté à quatre embarcations d’Indochine, BIIEH, 1946.
À cause de la dureté de la nature et de la lutte quasi permanente contre leurs voisins chinois, les Vietnamiens ont axé leurs efforts dans la conquête des plaines à riz. Enfermés dans l’isolationnisme adopté par l’Extrême-Orient et confortés par la présence quasi permanente des bateaux étrangers dans leurs ports (Faifo, Tourane, Saigon etc.), les Vietnamiens ne voient aucun intérêt de privilégier le transport maritime bien qu’ils soient considérés comme les plus habiles marins de l’Extrême-Orient. Les Chinois ont reconnu leur supériorité sur l’eau. Un haut mandarin chinois, Bao Chi, l’a notifiée dans son rapport confidentiel soumis à l’empereur des Song. La plupart des victoires des Vietnamiens contre les voisins chinois ont eu lieu sur les eaux.
Les Vietnamiens ont l’habitude de se servir des embarcations comme un moyen de transport des vivres ou des troupes, ce qu’a révélé l’abbé Prévost dans son » Histoire des Voyages » de 1751 en s’appuyant sur la description de Samuel Baron publiée en 1732. La marine vietnamienne connut seulement son apogée à la première moitié du XIXème siècle. C’était la période où l’empereur Gia Long secondé par ses lieutenants français Jean-Baptiste Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng), Philippe Vannier ( Nguyễn Văn Chấn ) etc. réussît à défaire l’armée de Tây Sơn à Qui Nhơn par sa marine royale constituée d’une centaine de grandes galères de 50 à 70 rames avec canons et pierriers et de trois vaisseaux à l’européenne ( le Phénix ( tàu Phụng ), l’Aigle et le Dragon-Volant ( tàu Long) ). Ces derniers étaient construits avec tant d’adresse et ne restaient pas plus de trois mois sur le chantier, ce que nota le père Lelabousse dans son rapport daté à Nha Trang, le 24 Avril 1800.
Pour demander son investiture auprès de l’empereur chinois, Gia Long envoya en 1802 le grand poète Trịnh Hoài Ðứ’c (1), le premier délégué vietnamien à prendre la mer pour se rendre à Pékin. Malheureusement, cette apogée ne fut que de courte durée car ses successeurs, entourés par des mandarins confucianistes et empêtrés dans l’obscurantisme, continuaient à adopter une politique d’isolationnisme exacerbé en dépit du mémorandum du lettré moderniste Nguyễn Trường Tộ, ce qui permit à la marine française de réussir à jeter l’ancre quelques décennies plus tard dans les eaux vietnamiennes après avoir coulé dans le port de Tourane (Ðà Nẵng) les cinq premières jonques blindées de la flotte vietnamienne le 15 Avril 1847.
Bien que les Vietnamiens négligent le transport maritime, paradoxalement ils ne lésinent pas les moyens de fabriquer une grande variété d’embarcations pour faciliter leur déplacement quotidien car le Viêt-Nam possède, outre la deuxième mangrove du monde (la forêt U-Minh 1000 km2) après celle du Brésil dans la péninsule de Cà Mau, des milliers de petits cours d’eau, affluents et défluents, des arroyos et des fleuves (Fleuve Rouge, Fleuve du Mékong ).
De plus, le réseau routier vietnamien est quasi inexistant. Les embarcations vietnamiennes sont divisées en deux catégories: celles fabriquées avec des lamelles en bambou enduites de laque (thuyền nan) et celles taillées avec des troncs d’arbres ou faites avec des plaques en bois ( thuyền gỗ ). En ce qui concerne la première catégorie, si l’embarcation est de petite taille, on la désigne souvent en vietnamien (thuyền câu). C’est une petite barque où une seule personne peut être logée. Si l’embarcation légère est de taille ronde, elle est appelée « thuyền thúng » et utilisée fréquemment par les pêcheurs du Centre du Vietnam.

Ce panier rond étanche exista au Xème siècle. Dương Vân Nga, une fille de Hoa Lư, fut connue à cette époque pour exceller dans l’art de ramer avec ce panier flottant. Mais le jour de compétition, Ðinh Bộ Lĩnh, le leader d’une bande rivale de garçons, réussit à immobiliser son panier flottant en le perforant au moyen d’une perche.
Cette victoire lui permit de conquérir non seulement l’admiration mais aussi l’amour de Dương Vân Nga. Ce panier flottant permit le transport rapide des troupes à travers les marécages et les cours d’eau et assura au couple Dương Vân Nga et Ðinh Bộ Lĩnh la victoire sur les Chinois quelques années plus tard. Quant à la deuxième catégorie, la constitution de base est faite avec du bois. Il y a une multitude d’embarcations différentes mais la plus connue et la plus utilisée par les Vietnamiens est le sampan ou le bateau à trois planches (Thuyền tam bản). C’est celle qui est employée pour traverser les cours d’eau ou les rivières. La plupart des gens qui font avancer les sampans sont des jeunes filles. C’est pourquoi il y a maintes histoires d’amour nées de ces embarcations.
On continue à les raconter, en particulier l’histoire de l’empereur Thành Thái avec la rameuse. Si le Vietnamien avait l’habitude de prendre la traversée d’un cours d’eau dans sa jeunesse, cela pourrait lui provoquer probablement des regrets, des souvenirs et des émotions intenses lorsqu’il avait l’occasion de revenir sur le bord du fleuve pour prendre le bac. Il se sent plus ou moins désemparé lorsqu’il apprend que la rameuse, la jeune fille dont il continue à s’attendrir sur le sort et dont il n’est pas loin de tomber amoureux n’est plus là. Probablement, elle devient maintenant la mère d’une famille ou elle a rejoint un autre monde mais elle n’est plus là pour l’accueillir avec son sourire charmant et ingénu. Il ne tarde pas à rappeler qu’il n’a plus l’occasion d’entendre son refrain, de voir les pans de sa tunique élimée que le vent du fleuve fait voler durant la traversée. C’est dans ce contexte inhabituel qu’il ressent une affliction indescriptible. Il regrette de manquer tant d’occasions de retrouver son débarcadère, son fleuve, sa terre natale et de laisser trop longtemps dans l’oubli le charme éternel du sampan, celui du Vietnam d’autrefois.
La fille du fleuve (1987) ( Cô gái trên sông ).
Le réalisateur Ðặng Nhật Minh, le plus connu actuellement au Vietnam, n’hésite pas à montrer le cas inverse, l’amour discret de la jeune batelière vivant sur la Rivière des Parfums, au public étranger et vietnamien à travers son film. C’est l’histoire de son héroïne Nguyệt qui, au péril de sa vie, n’hésite pas à sauver un jeune homme blessé et connu pour ses activités subversives par la police sud-vietnamienne durant la guerre. Elle essaie de le cacher dans son sampan. Une fois la paix revenue, ce jeune homme devient un cadre communiste important. La jeune fille tente de le retrouver car elle continue à garder en elle des sentiments profonds pour cet homme. Malheureusement, elle se sent affligée et trahie car cet homme feint de l’ignorer et n’aime pas à remémorer les périodes troublantes de sa vie … Elle essaie de refaire sa vie avec son ancien amant Sơn qu’elle a rejeté quelques années auparavant et qui a eu l’occasion de passer quelques années au camp de rééducation pour avoir le tort d’être enrôlé dans l’armée sud-vietnamienne.
Malgré le peu de choses dans leur constitution, les embarcations, en particulier, les sampans (đò ngang) continuent à envoûter les Vietnamiens. Ceux-ci n’hésitent à les intégrer non seulement dans leur vie quotidienne mais aussi dans les chansons et les poèmes. Les chansons « Con Thuyền Không Bến » Le sampan sans débarcadère) du compositeur Ðặng Thế Phong et Ðò Chiều (Le sampan du Soir) de Trúc Phương datant de plusieurs décennies et de plusieurs générations continuent à être appréciées et montrent à tel point l’attachement profond de tous les Vietnamiens à leurs embarcations rudimentaires.
Quant aux poèmes les décrivant, il n’y a que le Vietnamien ayant l’occasion de prendre le bac qui arrive à apprécier la finesse et la beauté trouvées dans les vers car il redécouvre peut-être à travers ces poèmes un tronçon de sa vie si mouvementé et si enfoui intimement dans sa mémoire avec plus d’émotions et de tristesse que de joie et de bonheur. En lisant les vers suivants,
Trăm năm đã lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Notre rendez-vous n’a pas eu lieu depuis longtemps
Le banian et le débarcadère sont toujours les mêmes excepté le sampan qui change de propriétaire.
le lecteur pourrait se rendre compte qu’il est rattrapé aussi comme tant d’autres Vietnamiens par des souvenirs qu’il pense à gommer au fil des années dans sa mémoire. Il ne peut pas continuer à s’attrister comme cela pourrait se faire quand on était jeune et amoureux à travers les deux vers suivants:
Tương tư thuyền nhớ’ sông dài
Tương tư là có hai người nhớ’ nhau
Languir d’amour c’est se souvenir du sampan et de l’immensité du fleuve
Languir d’amour c’est continuer à se rappeler pour toujours.
Mais il devrait avoir le courage de l’oublier quand le sampan n’est plus là comme cela a été dit dans les quatre vers suivants:
Vô duyên đã lỗi hẹn hò
Mong làm chi nữa con đò sang sông
Thôi đành chẳng gặp là xong
Nhớ thương bền chặt bền lòng ra đi
On n’a pas la chance d’être au rendez-vous
On n’espère plus lorsque le sampan est déjà parti
Cela ne mérite plus la peine de se revoir
Mais il vaut mieux décider de partir définitivement lorsqu’on s’aime intensément
Que devient-elle en ce moment? Est-elle morte ou heureuse? Mérite-elle la vie qu’elle mène? Est-elle comme la jeune passeuse, sœur Thắm qui a sauvé maintes personnes de la noyade et qui a péri de noyade sans que personne ne la secourre dans le récit « Chảy đi sông ơi (Coule, ma rivière, 1988) » de l’écrivain talentueux Nguyễn Huy Thiệp? Est-elle comme la jeune batelière Duyên continuant à fredonner pour son enfant une berceuse:
Nước chảy đôi giòng …
…Con sông Thương …nước chảy đôi giòng …
On peut remonter ou descendre le courant …
du fleuve Amour ..on peut remonter ou descendre le courant ..
et ne se posant jamais des questions sur la vie qu’on lui a tracée tout comme le fleuve qui suit son cour à la mer dans la nouvelle « Nước chảy đôi giòng ( À contre-courant, 1932 ) de Nhất Linh?. Ce sont les questions que le lecteur accablé par les souvenirs continue à se poser intimement. C’est aussi la profonde tristesse, la douleur poignante de celui qui n’a plus l’occasion de retrouver la fraîcheur de sa jeunesse à travers le sampan et son débarcadère qu’il était habitué à prendre à une époque lointaine. Il avait pensé qu’avec le temps cela pourrait effacer tous les souvenirs comme l’eau de la rivière évoquée dans la chanson d’une étrange tristesse que la sœur Thắm a l’habitude de chanter sur la rive dans le récit « Chảy đi sông ơi (Coule, ma rivière, 1988) » de Nguyễn Huy Thiệp:
Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì ?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi ? …
Coule ma rivière
Pourquoi se tourmenter?
L’eau efface tout
Jusqu’au souvenir des héros.
Chuyện Tình Buồn ( L’histoire d’un triste amour ) de Phạm Duy avec le chanteur Sĩ Phú
(1) Auteur de deux ouvrages Bắc sứ Thi Tập ( Recueil de poèmes écrits au cours d’une mission d’ambassade en Chine ) et Cấn Trai Thi Tập ( Recueil de poèmes de Cấn Trai ).
Gia Long
English version
Version vietnamienne
Galerie des photos
Gia Long est le titre impérial que prit en 1802 le prince Nguyễn Phúc Ánh pour son règne lors de l’unification de l’empire du Vietnam qui s’étendait de la frontière de Lạng Sơn jusqu’à la pointe de Cà Mau sur le golfe de Siam. Gia Long résulte de la combinaison de deux mots suivants: Gia et Long (Gia étant un mot extrait du nom Gia Định, l’ancienne ville Saïgòn et Long celui du nom Thăng Long, l’ancienne capitale Hanoï). Durant les 25 années de combats contre les Tây Sơn, il parcourut toute la Cochinchine. Il connut parfaitement tous les recoins du delta du Mékong. Le prince Nguyễn Ánh était tellement attaché à des gens du Sud et en particulier à la ville Saïgon qu’il fut connu à l’époque sous le nom « Général Gia Định ».
Avant l’unification du Vietnam (1801), le dernier survivant des Nguyễn fut traqué à maintes reprises par les Tây Sơn (ou les Paysans de l’Ouest) de Nguyễn Huệ. Il dût la vie sauve à un missionnaire français Pierre Joseph Pigneaux de Béhaine qui partagea avec lui sa nourriture apportée par son homme de confiance, P. Paul Nghi et qui n’hésita à organiser sa fuite dans la principauté de Mang Khảm de Mạc Thiên Tứ, le fils de son allié Mạc Cửu (région Hà Tiên) après que le seigneur Nguyễn Huệ Vương fut assassiné par les Tây Sơn, ce qu’a raconté l’anglais John Barrow dans son livre « Voyage à la Cochinchine » en 1793.
Pierre Joseph Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc)
La vie de galère qu’il connut durant les années de vicissitudes donnait l’occasion à ses partisans d’interpréter plus tard ses exploits et ses périls qu’il réussît à surmonter comme des signes de volonté du Ciel de vouloir l’aider à reconquérir le trône. La grotte des pièces de monnaie (Hang Tiên) dans la région Hà Tiên, accessible aujourd’hui par le bateau, évoque le souvenir du jeune prince Nguyễn Ánh se réfugiant avec ses troupes dans l’attente des renforts français. On y découvre des pièces de monnaie laissées par les corsaires. Des dictons vietnamiens sont nés avec ses exploits. On a l’habitude de dire en vietnamien :
Kỳ đà cản mũi
Le varan est devant la proue du bateau.
pour signifier qu’on est empêché d’agir ou d’accomplir une tâche à cause de l’obstruction de quelqu’un. Grâce à la présence d’un varan empêchant l’accès à la mer de sa jonque, cela lui permet d’être sauvé de justesse car ses ennemis l’y attendent avec impatience. Une autre fois dans la région de Hà Tiên, sa jonque fut gênée par la présence des serpents. Il fut obligé de donner l’ordre à ses subordonnés de ramer plus vite pour ne pas être poursuivi par ces serpents. Cela lui permet d’atteindre l’île de Phú Quốc plus tôt et d’éviter le piège tendu par ses adversaires. C’est pourquoi on aime à dire en vietnamien:
« Gặp rắn thì đi, gặp qui thì về«
pour dire qu’il est possible de partir lorsqu’on rencontre les serpents et qu’il vaut mieux rentrer lorsqu’on rencontre les tortues.
À travers ces récits historiques, on constate que Nguyễn Ánh est chanceux durant ses années de combats contre les Tây Sơn. Une fois, il fut poursuivi par ses ennemis. Il fut obligé de traverser le fleuve à la nage. Il se rendit compte que le fleuve était infesté de crocodiles. Il dut recourir au buffle qui pataugeait au bord du fleuve pour entreprendre la traversée. Même le sauvetage périlleux de sa jonque engloutie par les vagues, par le jeune intrépide Lê Văn Duyệt (15 ans ) devenu plus tard son général talentueux, dans une nuit orageuse était l’objet d’une prophétie entretenue depuis tant d’années par les gens du village Long Hưng Tây avant que l’événement eût lieu.
En dépit de ces faits ayant trait à légitimer par la protection divine, la lutte menée par Nguyễn Ánh, il n’est pas juste d’ignorer les qualités en ce personnage hors du commun. Il n’avait pas le génie de stratégie de son adversaire, le général Nguyễn Huệ mais il avait une patience incommensurable qu’on ne pouvait comparer qu’à celle du prince des Yue du Nord Gou Jian (ou Cẩu Tiễn en vietnamien) à la période des Printemps et des Automnes (476 avant J.C.) (thời Xuân Thu). Ce dernier n’hésita pas à attendre de longues années pour se préparer à la revanche contre le souverain Fu Chai (Phù Sai ) de l’état Wu (Nước Ngô của Ngủ Tử Tư ). Il avait le don de recruter comme subordonnés des gens valeureux (Võ Tánh, Lê Văn Duyệt , Nguyễn văn Thành etc.) et accordait à l’amitié une signification particulière durant son règne, ce qu’on a constaté envers le missionnaire français Pigneaux de Béhaine ou envers ses lieutenants français Jean-Baptiste Chaigneau ( Nguyẽn Văn Thắng), Philippe Vannier, Olivier Puymanel ou envers le souverain siamois Rama I (ou Chakkri).
En reconnaissance de la dette que Nguyễn Ánh a laissée à ce dernier de repartir sain et sauf avec son armée pour sauver sa famille emprisonnée, Chakkri n’hésita pas à offrir de l’hospitalité de longues années au prince Nguyễn Ánh et à sa suite lorsqu’il fut obligé de se réfugier à Bangkok après ses défaites cinglantes contre les Tây Sơn à Mỹ Tho en 1785. Ce pacte d’amitié était né lors d’un affrontement militaire sur la terre cambodgienne entre son lieutenant Nguyễn Hữu Thùy et Chakkri qui fut encore à cette époque un général envoyé par le souverain siamois Taksim (Trịnh Quốc Anh).
Devant le volte-face de ce dernier d’emprisonner sa famille, Chakkri fut obligé de se pactiser avec Nguyễn Ánh et retourner à Bangkok pour renverser Taksim. C’est aussi pour cette dette et pour seconder Nguyễn Ánh de recouvrer le trône que Chakkri envoya une armée de 50.000 hommes qui fut décimée complètement en 1785 par le roi stratège Nguyễn Huệ et sa troupe dans l’Ouest du Mékong (Mỹ Tho).
Nguyễn Ánh était un homme courageux et téméraire. Avec lui, on avait l’impression qu’aucune personne du Sud n’osait s’opposer à lui. Pour acquitter sa dette à l’égard de sa famille assassinée par les Tây Sơn, il restait imperturbable devant les supplices réservées à ses adversaires. Les ennemis vaincus furent mis à mort par des tortures épouvantables. Les hommes furent écartelés par des éléphants et les femmes et les enfants furent piétinés par des éléphants. Leurs corps furent jetés en pâture aux corbeaux. C’est le sort réservé à la femme général Bùi Thị Xuân, au fils de l’empereur Nguyễn Huệ, le roi Nguyễn Quang Toản etc…
Pour des raisons politiques, il n’hésita pas tuer les gens l’ayant servi avec dévouement lorsqu’il était encore un jeune prince traqué par les Tây Sơn. C’est le cas de Nguyễn Văn Thành, Ðặng Trần Thường. C’est pour cette raison qu’on le compare souvent à Liu Bang (Lưu Bang), l’empereur fondateur des Han ayant réservé le même traitement à l’égard de ses anciens compagnons de route. Malgré cela, on s’aperçoit qu’il était aussi un homme de cœur. Il ne tarda pas à rendre un grand hommage à son compagnon de route Nguyễn Văn Thành qu’il a obligé de se suicider pour une insinuation calomnieuse et à larmoyer devant l’autel érigé en l’honneur de ce dernier. Il donna l’ordre de libérer sa famille et restitua à celle-ci tous les biens et les titres confisqués. On trouve aussi son attachement profond à la vie de ses subordonnés à travers le message qu’il avait adressé à son beau-frère, le général Võ Tánh chargé de défendre Qui Nhơn ou à Pigneaux de Béhaine, son père spirituel et son conseiller militaire à travers la cérémonie organisée à la mort de ce dernier, ce que rapporta le père Lelabrousse aux Missions Étrangères, le 24 Avril 1800.
Il était aussi un guerrier séducteur. Son égard envers la reine Ngọc Bích, la jeune femme de son adversaire, le jeune roi Canh Thình (fils du roi Quang Trung) fut exemplaire. Celle-ci s’écria lorsqu’elle aperçut un homme fort majestueux se tenant debout devant elle:
-Général Gia Ðịnh, que voulez-vous de moi?
Celui-ci sourit et lui répondit avec gentillesse:
-N’ayez pas peur et ne pleurez plus, s’il vous plaît. Le général Gia Ðịnh sera plus doux que celui des Tây Sơn. Cette résidence restera la même pour vous en dépit du changement du propriétaire.
Comme sa gentillesse était si grande et sa volonté de conquérir le cœur de la reine était si forte que celle-ci ne pouvait pas résister longtemps. Elle devenait ainsi sa concubine du premier rang et avait avec lui deux garçons. Elle s’était mariée en deux fois avec deux rois (Canh Thình et Gia Long) et était la dernière fille du roi des Lê. C’est pour cela deux adversaires irréductibles Nguyễn Huệ et Gia Long devinrent ainsi des « beaux – frères » car Nguyễn Huệ était l’époux de la princesse poète Ngọc Hân et Gia Long, celui de la princesse Ngọc Bích. C’est aussi pour cette dernière que est né ce dicton vietnamien:
Số đâu mà số lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua
Le sort est tellement bizarre
La fille du roi est mariée en deux fois avec deux rois.
En dépit de sa réputation d’être un guerrier endurci par les années de guerre et de vicissitudes, il était aussi vulnérable comme un homme ordinaire. Il lui arrivait un grand nombre de soucis qu’il ne cachait pas à révéler à son confident, le Français Jean-Baptiste Chaigneau:
Gouverner le pays est plus facile que diriger le harem.
C’est ce que révélait Michel, le fils de J. B. Chaigneau dans le journal « Le moniteur de la Flotte » en 1858.
Malgré le traité paraphé à Versailles en 1787 par les Comtes De Vergennes et De Montmorin pour le roi Louis XVI et par son fils Nguyễn Phúc Cảnh assisté de l’évêque d’Adran, Pigneaux de Béhaine, la collaboration d’un grand nombre des subordonnés français dans ses rangs et son intérêt porté pour les sciences et les techniques de l’Occident, il continuait à adopter une politique très ambiguë envers les Européens, en particulier envers les missionnaires. Cette attitude bienveillante était-elle due à l’amitié qu’il tentait d’honorer envers son ami Pigneaux de Béhaine ou à son esprit d’ouverture comme Kang Xi en Chine dans le but de mieux utiliser les compétences des missionnaires catholiques?
On continue à se poser des questions jusqu’à nos jours. Pourtant on sait qu’à travers la construction de la Cité pourpre, le maintien du système des mandarins, la réforme du code des Lê basé essentiellement sur celui des Qing en Chine, il apparut plus que jamais comme un admirateur de la dynastie des Ming et des Qing, un confucianiste convaincu et un empereur plus rétrograde. Il entama au cours de ses dernières années une politique de repli en choisissant comme successeur, le prince Nguyễn Phúc Ðảm soutenu par la plupart des mandarins confucianistes à la place des enfants du prince Cảnh décédé à cause d’une maladie. Ce prince connu sous le nom de règne Minh Mạng n’hésita pas à faire mourir les enfants et la femme du prince Cảnh (Mỹ Ðường) et laissa une opportunité aux Européens, en particulier au gouvernement français d’intervenir militairement en menant une politique délibérément anti-occidentale et anti-catholique et renoua ainsi une politique d’alignement sur les lignes directrices de la politique chinoise. Nguyễn Ánh pourrait devenir un grand empereur à l’image d’un « Meiji » japonais lorsqu’il avait l’avantage d’être entouré par un grand nombre de français y compris son médecin particulier (un certain Despiaux) et il avait un esprit très ouvert aux techniques et aux sciences de l’Occident.
C’est un grand dommage pour le Vietnam de perdre une occasion d’entrer dans l’ère de modernisation. C’est aussi un malheur pour le peuple vietnamien d’écrire plus tard son histoire avec du sang et des larmes. Il ne mérite pas d’être oublié dans notre histoire car il réussît à agrandir notre territoire et à unifier le pays sous sa bannière. Mais il n’est pas non plus un grand empereur du Vietnam car la grandeur ne se mesure pas non seulement par l’agrandissement du Vietnam mais aussi par les bienfaits qu’il apporte au peuple vietnamien et par la magnanimité envers ses adversaires.
C’est navrant de le dire ainsi car Nguyễn Ánh avec les qualités qu’il nous a montrées durant ses 25 années de vicissitudes pourrait faire encore mieux pour son pays et pour son peuple plus que tout autre roi du Vietnam (y compris le roi Quang Trung).
Art de décoration dans les Ðình
Version vietnamienne
Version anglaise
Grâce à la maison communale (đình), on découvre que la vie villageoise s’introduit intimement dans l’art de décoration. Celui-ci tente de se libérer non seulement des modèles conventionnels classiques rencontrés jusqu’alors mais aussi du carcan confucianiste qu’a connu le Vietnam dans le système féodal. C’est ce qu’on voit dans les sculptures sur bois qui occupent tous les espaces libres rencontrés à l’intérieur du đình, de la charpente de la toiture jusqu’aux colonnes.
Tous les défauts de la construction sont cachés avec adresse grâce à cette technique d’embellissement. Dans chaque pièce sculptée, le motif que ce soit un animal, un personnage, une fleur etc. est unique et ne se retrouve nulle part même s’il s’agit du même thème. Par contre, on découvre dans ces sculptures la coexistence à travers des siècles de deux cultures, l’une nationale et savante et l’autre populaire. On trouve non seulement dans la première tous les motifs relatifs aux quatre animaux hiératiques (Rồng, Lân, ,Rùa, Phượng) ( Dragon, Licorne, Tortue, Phénix) aux plantes nobles, aux fées, aux animaux (tigres, éléphants etc.) mais aussi la fantaisie, l’imagination, l’innovation de la part du paysan-sculpteur malgré son obéissance stricte aux normes fixées.
Dans les sculptures populaires, le maître artisan qui est avant tout un paysan, tente de « se libérer lui-même » et se laisse guider par ses inspirations personnelles, ses émotions sincères, ses frustrations, sa spontanéité et ses sentiments dans la réalisation de son oeuvre avec réalisme et humour. Il réussit à échapper à la censure des mœurs par une habilité peu commune en procédant à la description des scènes grivoises dans son oeuvre: une jeune fille se baignant nue dans la mare aux lotus ou assise d’une manière indiscrète sur une tête de dragon (đình Phụ Lão, Bắc Giang) , un jeune homme pelotant le corps d’une femme sous le regard complice d’un compère (đình Hưng Lộc), un mandarin dérangeant un fille au moment de la baignade et profitant de mettre la main sous sa camisole (đình Ðệ Tam Ðông, Nam Ðịnh) etc.
Le dragon aux aspects multiples dans les đình
Il ose dénoncer les malversations des mandarins corrompus. C’est ce qu’on voit dans la pièce sculptée du đình Liên Hiệp. Ce sont les interdits et les tracasseries rencontrés tous les jours dans la société confucéenne vietnamienne. Tout ce qui est trouvé dans cette sculpture populaire reflète en grande partie la liberté d’expression de l’artiste ainsi que les aspirations communes du village. Le paradoxe est visible car le đình est à la fois le gardien de l’ordre confucéen qui s’est solidement implanté au fil des siècles dans l’infrastructure familiale et sociale vietnamienne et le lieu où le paysan peut retrouver sa liberté d’expression et dénoncer le carcan confucéen. Avec ses sculptures et son architecture, le đình constitue un trésor inestimable pour le peuple vietnamien.
On a l’habitude de dire en vietnamien: làng nước ( Village Nation ) car la nation vietnamienne s’est formée au fil des siècles par l’essaimage des villages dont le đình est à la fois le centre spirituel et administratif, social et culturel. Dès lors, le đình est non seulement l’âme du village mais aussi celle de la nation vietnamienne.
Bibliographie:
Trịnh Cao Tường: Kiến trúc đình làng. Khảo cổ học, 2/1981, trang 56-64.
A la découverte de la culture vietnamienne. Hữu Ngọc. Editions Thế Giới. Hànôi 2011
Le Ðình, maison communale du Viêt Nam. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Editions Thế Giới, 2001
Troisème partie
Outre les cérémonies fixées dans l’année en l’honneur du génie tutélaire, les villageois accordent une grande importance aux anniversaires de sa naissance et de sa mort. Mais il y a aussi d’autres sacrifices occasionnels provoqués souvent par un mariage, une nomination, une promotion ou une noce d’or ou d’argent (khao lão). Cela permet de donner lieu à des ripailles dans le village et permet de fêter en grande pompe le culte du génie tutélaire. Celui-ci peut-être un homme ou une femme. Il est facile de l’identifier au moment de la procession. Pour le génie-homme, il y a toujours la présence d’un cheval en bois laqué rouge (ngựa sơn mài màu đỏ) ou blanc ( trắng). Celui-ci est de grandeur naturelle et monté sur une plaque rectangulaire en bois munie de roulettes. Il est richement caparaçonné et il est censé de porter l’âme du génie. Au cas où le génie est une femme, ce cheval est remplacé par la palanquin de chanvre rouge (võng đào) suspendu à une palanche aux bouts sculptés en tête de dragon.
Pendant la durée de la fête, on honore le génie tutélaire avec solennité en promenant son char ( kiệu) accompagné par un grand nombre d’objets de culte, d’armes de parade, de dais (tán) et d’oriflammes (cờ) , du đình au nghè (son lieu de résidence) (1) ou d’un village à un autre village allié au cas où ceux-ci sont unis par le culte du même génie et en organisant des divertissements multiples: combats de coqs, de buffles et d’oiseaux, jeux d’échecs aux pions humains etc…
Il y a aussi un rite important qui rappelle les traits saillants de la vie du génie. Connu sous le nom hèm en vietnamien et tenu secret, il est toujours célébré la nuit pour les génies n’ayant pas accompli un acte honorable (génie voleur, génie aux coups de poing, génie ramasseur des fumiers etc. ) Par contre, il est célébré au grand jour pour les génies ayant une qualité ou un acte de bravoure. On évite de prononcer aussi le nom du génie durant le rite en modifiant la prononciation ou en le remplaçant par un synonyme. C’est le cas du génie Linh Lang par exemple. On est obligé de dire « khoai dây » à la place de « khoai lang » (patates), « thầy lương » pour « thầy lang » (médécin) etc… Ce rite singulier est l’un des traits essentiels des cultes communaux. La négligence de ce rite pourrait mettre en péril la prospérité du village.
Đình Mị Nương ( Citadelle du coquillage)
La construction des đình s’opère toujours selon une disposition bien définie et reconnaissable grâce à certains caractères chinois Nhất, Nhị, Tam, Ðinh, Công, Vương etc.. Un đình qui se tient tout seul avec un bâtiment principal rectangulaire ( đại đình ) évoque le caractère Nhất. C’est le cas du đình Tây Ðằng. Par contre, on est amené à reconnaître le caractère Nhị en ajoutant à la construction principale un deuxième bâtiment (tiền tế) (ou bâtiment antérieur pour les sacrifices ) parallèle à la première construction et la précédant dans la nouvelle disposition. C’est le cas du đình Liên Hiệp. Il est rare de retrouver les caractères Tam et Đinh dans la construction du « đình ». D’une manière générale, le đình est rencontré fréquemment dans la forme du caractère Công. Le bâtiment postérieur Hậu Cung y est relié à la construction principale par un petit corridor ou une petite cour (Ống muống) . C’est le cas des maisons communales Đình Bảng, Mộng Phụ. Pour le caractère Vương, il suffit de relier les trois bâtiments Hậu Cung, Đại Đình, Tiền Tế) avec deux corridors (Ống muống). C’est dans ce dernier bâtiment Tiền Tế que les notables au costume bleu font la cérémonie officielle pour le génie tutélaire pendant les jours de fête.( Lire la suite: art de décoration des maisons communales)
(1) ghè: lieu de résidence du génie situé souvent à l’entrée du village. Au moment de la fête, on invite le génie à rejoindre le « đình ». Il est ramené à son « ghè » une fois la fête terminée.
Bibliographie:
Le Ðình, maison communale du Viêt Nam.
Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự,
Editions Thế Giới, 2001
Đình Làng miền Bắc
The village Dinh in northern Vietnam
Le Thanh Đức. Editeur Mỹ Thuật