Cung tần mỹ nữ nhà Nguyễn

Version française
Version anglaise

Trong cunq quế âm thầm chiếc bóng
Ðêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bầy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi.

Ôn Như Hầu

Ngoài vua Gia Long, người sáng lập triều Nguyễn và Bảo Ðại, vị hoàng đế cuối cùng, không có vua nào của triều đại nầy phong cho người vợ chính của mình danh hiệu hoàng hậu suốt thời kỳ ngự trị. Không có tài liệu lịch sử nào được tìm thấy cho đến ngày nay cho phép chúng ta biết lý do về việc từ chối  này kể từ khi  sắc lệnh của Hoàng đế Minh Mạng được thi hành. Mặt khác, người vợ chỉ nhận được danh hiệu này sau khi qua đời. Mặc dù vậy,  người vợ nầy vẫn được xem coi là đệ nhất phu nhân (Hoàng Qúi Phi) ở khuê phòng nơi mà có sự sắp xếp, phân cấp rất mạnh mẽ, trong đó có  đến chín cấp bậc từ triều đại của vua Minh Mạng: bậc nhất được gọi là Nhất giai phi, bậc nhì là Nhị giai phi, còn bậc ba và tư là Tam giai tần  và Tứ giai tần, từ bậc năm đến bậc chín là Ngũ Giai Tiếp Dư , Lục Giai Tiếp Dư, Thất Giai Quí Nhân, Bát Giai Mỹ Nhân, Cữu Giai Tài Nhân.

Dưới tài nhân thì đến các quý bà ở nội cung, những người tiếp theo sau cùng  là cung nga, thế nữ. Những người phụ nữ này với các hoạn quan, các bà hoàng thái hậu và hoàng đế tạo thành một xã hội nhỏ ở Tử cấm thành. Cương vị của các người phụ nữ này (thậm chí là  những người hầu hạ), bất kể họ thuộc thành phần nào, được thay đổi nhanh chóng khi họ sinh ra được một  đứa con trai với vua.Nhắc đến các phi tần này, không thể không nhắc đến chuyện tình của Nguyên Phi, hoàng hậu tương lai được gọi về sau là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu với hoàng tử Nguyễn Ánh, vua Gia Long. Bị đánh bại bởi nhà Tây Sơn vào mùa thu năm 1783, Nguyễn Ánh buộc lòng phải lánh nạn ở đảo Phú Quốc. Ông phải gửi con trai Nguyễn Phúc Cảnh, 4 tuổi đi cùng với Đức Tổng Giám mục Pigneau de Béhaine tới Pháp để tìm viện trợ quân sự từ vua Louis XVI (Hiệp ước Versailles 1787) và lánh nạn tạm thời  ở Vọng Các (Thái Lan) chờ quân tiếp viện của  nước Pháp. Trước giờ chia tay, Nguyễn Ánh vội vã cắt một thỏi vàng miếng làm đôi và đưa cho Nguyên Phi, một nửa, mà nói:Con trai của chúng ta đã đi rồi.Trẩm  cũng sắp rời xa thiếp để định cư tại Thái Lan. Thiếp ở lại đây chăm sóc mẹ của trẩm. Trẩm không biết ngày trở về hoặc nơi đoàn tụ của chúng ta. Trẩm để lại cho thiếp một nửa thỏi vàng miếng này như là một dấu hiệu tình yêu của chúng ta. Chúng ta sẽ có cơ hội gặp lại sau nầy nếu Trời cho phép trẩm đánh bại được quân Tây Sơn.

cung_tan

Tử Cấm Thành 

Trong những năm lưu đày của Nguyễn Ánh và bao lần thất bại trong việc giành lại quyền lực, Nguyên Phi  vẫn tiếp tục phục vụ và nuôi dưỡng mẹ chồng  của bà, hoàng hậu Hiếu Khương (vợ của Nguyễn Phúc Luân) một cách chu đáo và may đồng phục cho các tân binh. Bà xoay sở để vượt qua những khó khăn dành cho gia đình và thể hiện lòng can đảm và dũng cảm của mình để thoát khỏi những cạm bẫy do kẻ thù đặt ra. Nhờ sự kiên trì và sự bướng bỉnh mà Nguyễn Ánh đã thành công đánh bại quân Tây Sơn vào năm 1802 và trở thành hoàng đế Gia Long của chúng ta. Một ngày sau cuộc hội ngộ cảm động, ông hỏi vợ Nguyên Phi về  nửa thỏi vàng miếng mà ông đã trao cho bà vào thời điểm chia tay. Bà đi lấy lại và trao lại cho ông nửa thỏi vàng. Nhìn thấy một nửa thỏi năm xưa trong trạng thái sáng bóng, vua Gia Long  rất xúc động và nói với vợ Nguyên Phi: Vàng này mà nàng giữ được nó lộng lẫy như vầy trong những năm khó khăn và đầy biến cố của chúng ta  cho thấy rằng chúng ta đã được phước bởi ân sủng của Trời Đất để có thể ở gần bên nhau ngày hôm nay. Chúng ta không được quên điều đó và chúng ta cần phải nhắc nhở với con cháu của chúng ta về chuyện nầy. Sau đó, ông ta ráp lại hai nửa thỏi vàng và đưa toàn bộ thỏi vàng cho Nguyên Phi. Thỏi vàng này sau đó trở thành, dưới triều đại Minh Mạng, không chỉ là biểu tượng tình yêu vĩnh cửu của Hoàng tử Nguyễn Ánh với vợ Nguyên Phi mà còn là một vật tôn kính được tìm thấy trên bàn thờ của Hoàng đế Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu trong đền thờ Điện Phụng Tiên của Tử cấm thành Huế.

Không ai ngạc nhiên rằng, nhờ có cô con gái Ngô Thị Chánh, danh tướng của nhà Tây Sơn, Ngô Vân Sở, đã không bị hoàng đế Gia Long xử tử cuối cùng trong  cuộc chiến thắng nhà Tây Sơn vì con gái của ông là người vợ thứ yêu thích của hoàng tử Nguyễn Phúc Đàm, hoàng đế tương lai Minh Mạng của chúng ta. Khi sau này lên nắm quyền, ông không ngần ngại trao cho người vợ thứ này tất cả  những ân huệ  mà thông thường  chỉ dành riêng cho người vợ chính của mình. Sau này, trong suốt cuộc đời, bà  nầy thường có cơ hội nói với hoàng đế như sau:Ngay cả khi bệ hạ còn yêu thiếp nhiều đi nữa, ngày thiếp chết, thiếp  vẫn  thấy cô đơn trong mộ với hai bàn tay trắng. Đây là lý do tại sao, khi bà hiền phi này mất, hoàng đế đích thân  đến nơi chôn cất bà mang theo hai nén vàng. Sau đó, vua truyền  thái giám mở cả hai bàn tay của bà ra, nơi bà nằm an táng. Hoàng đế tự đặt vào mỗi lòng bàn tay một nén vàng và siết chặt hai bàn tay lại mà  nói với cảm xúc: Trẩm  cung cấp cho thiếp hai nén vàng rồi đó  để  giờ đây thiếp ra đi không bao giờ  với tay không cả.

Tình yêu này đã được tìm thấy lại khoảng năm mươi năm sau với vua thi sĩ Tự Đức. Bài này được vua sáng tác, vào thời điểm tang lễ của người cung phi yêu thích của ông. Đây là một bài thơ có tựa đề « Khóc Bằng Phi » mà  hai câu thơ sau đây đã bất tử hóa tình yêu và tình cảm sâu đậm mà vua Tự Đức  dành cho bà cung phi của ông:

Ðập cổ kính ra, tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi

Dưới triều đại nhà Nguyễn, khuê phòng đã chiếm một tầm quan trọng. Để củng cố quyền lực và giữ chân thuộc hạ thân tính của mình, hoàng đế Gia Long đã không ngần ngại thiết lập chính sách liên minh bằng cách lấy các cô gái  của thuộc hạ mình làm cung phi, đó là lời tiết lộ bởi người bạn tâm tình của vua, một quan lại người Pháp JB Chaigneau trong cuốn tựa đề « Những kỷ niệm ở Huê 1864« . Nhưng đôi khi phi tần của vua cũng có thể đến từ một tầng lớp xã hội khác nhau. Đây là trường hợp của một phi tần của vua Thành Thái, cha của vua Duy Tân. Phi tần nầy là một cô lái đò ở Kim Long, một vùng được nổi tiếng có các cô cư dân con gái duyên dáng và quyến rũ. Đây là lý do tại sao dân gian  thường nhắc đến câu ca sau đây để nói lên tình yêu bình dị mà vua Thành Thái dành cho cô lái đò và sự táo bạo của một vị vua trong việc ngụy trang thành một du khách bình thường đến thăm Kim Long:

Kim Long có gái mỹ miều
Trẩm yêu trẩm nhớ trẩm liều trẩm đi

Một buổi sáng đẹp trời trong năm mới,Thành Thái, bị lôi cuốn bởi sự quyến rũ của vùng Kim Long, quyết định đi một mình, ngụy trang thành một du khách trẻ và đến thăm vùng đất nổi tiếng này. Trên đường về, vua phải dùng đò  mà cô lái đò là  một cô gái trẻ rất duyên dáng. Thấy cô ấy rụt rè với đôi má ửng hồng vua bắt đầu xao xuyến trong lòng và có ý định trêu chọc cô bằng cách hỏi đột ngột cô như sau :Thưa cô, cô có muốn cưới hoàng đế không? Cô sững sờ trước câu nói nguy hiểm này, nhìn chăm chú  vua và trả lời với sự chân thành: Đừng nói chuyện  đùa như vậy. Chúng ta sẽ bị chặt đầu cả đấy. Nhìn thấy cô ở trong trạng thái sợ hãi, vua quyết định quấy rầy cô thêm nữa: Đó là sự thật, những gì tôi đề xuất với cô. Nếu cô đồng ý, tôi sẽ là người mai mối cho việc này! Quá thẹn thuồng, cô ấy che giấu khuôn mặt với cánh tay của mình. Trên đò, trong số những người cùng đi, cũng có một người già ăn mặc rất bảnh bao. Đã lắng nghe cuộc trò chuyện của họ, người nầy không ngần ngại nài nỉ cô lái đò bằng cách  nói với cô : Thưa cô, cô chỉ cần nói « ưng » đi. Chúng ta sẽ xem ra sao. Được khích lệ bởi lời khuyên liều lĩnh này, cô lái đò nhanh chóng trả lời: Ưng đấy. Rất vui khi biết sự đồng ý của cô lái đò, Thành Thái đi về phía cô lái đò và nói một cách dịu dàng: Qúi phi của trẫm có thể nghỉ ngơi đi để trẫm chèo  tiếp cho. Mọi người đều ngạc nhiên trước những lời nói này và cuối cùng biết rằng đang đối mặt với vị hoàng đế trẻ tuổi Thành Thái. Ông được biết đến với các hoạt động chống Pháp, bị chính quyền Pháp truất  phế và lưu đày  sau đó đến đảo La Réunion dựa trên sự phóng đãng và « sự điên rồ » của vua . Khi đò cập bến Nghìn Lương, Thành Thái yêu cầu du khách trả tiền vé và dẫn cô lái đò về cung.

Nói chung, các cung tần thường sống  quanh quẩn với các cung nga thế nữ, hoạn quan và dành thời gian  trong việc thêu dệt. Một số người qua đời mà không bao giờ nhận được sự ưu ái của hoàng đế  mà  cũng không bao giờ  được rời khỏi cung điện. Còn số cung tần được chọn vào nội cung cũng tùy ý của vua. Chỉ có vua Minh Mạng có nhiều cung tần và con nhất. Khi được tuyển vào nội cung, các cung phi phải học thuộc lòng những điều cấm kỵ để tránh tai hoạ và phải luyện tập giọng nói nhẹ nhàng.  Phải kiêng kỵ một số chữ huý nếu không sẽ bị mắc tội. Chẳng hạn vua đau ốm thì gọi là « se », « siết » hay « vi dạng », còn ngủ thì nói là « ngự ngơi », còn thức dậy thì gọi là « tánh », còn đi chơi gọi là « ngự dạo » vân vân …Ở nội cung, áo quần thì phải dùng màu đỏ và màu lục. Còn màu vàng dành cho vua còn màu cấm kỵ là màu đen. Còn màu trắng chỉ được dùng làm áo lót.  

Một nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 Nguyễn Gia Thiều thường được biết đến với cái tên Ôn Như Hầu (tước vị của ông), đã tố cáo sự bất công dành cho những người phụ nữ này, nỗi buồn và sự cô lập của họ trong tác phẩm « Cung Oán Ngâm Khúc » (hoặc nỗi buồn ở cung điện). Có những phụ nữ khác cũng  ở  được cương vị sũng ái nhưng không ai có thể sánh được với Ỷ Lan, phu nhân của vua Lý Thánh Tôn của triều đại Lý, người  phụ nữ đã được đảm nhận vương quyền thời đó  cùng vua trong chiến dịch chống lại vương quốc Champa. 

[Return Hue]

Thách thức (Le défi)


Version anglaise

Version française

Thách thức

Từ nầy không xa lạ đối với người dân Việt. Mặt khác, nó còn đồng nghĩa với sự kiên trì, kháng cự, khéo léo và đối đầu dành cho những người mảnh khảnh nầy mà chân lúc nào cũng chôn vùi dưới bùn ở các ruộng lúa kể từ buổi ban sơ. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ đã không ngừng chấp nhận mọi thách thức áp đặt bởi một thời tiết khắc nghiệt của một môi trường sống không bao giờ thuận lợi và một nước Trung Hoa mà họ vừa xem như là một người anh cả láng giềng mà cũng là kẻ thù truyền kiếp của họ. Đối với đế chế Trung Hoa nầy, họ lúc nào cũng có sự ngưỡng mộ đáng kinh ngạc nhưng đồng thời họ thể hiện sự kháng cự không thể tưởng tượng được vì lúc nào ở nơi họ cũng có sự quyết tâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc và những đặc thù văn hóa mà họ đã có từ 4 nghìn năm. Đế chế Trung Hoa đã cố gắng hán hóa bao lần Việt Nam suốt thời kỳ Bắc thuộc có đến nghìn năm nhưng chỉ thành công làm mờ nhạt đi một phần nào các đặc điểm của họ mà thôi và nhận thấy mỗi lần có cơ hội thuận lợi, họ không ngớt bày tỏ sự kháng cự và sự khác biệt hoàn toàn. Họ còn tìm cách đương đầu với người Trung Hoa trên lãnh vực văn hóa mà được nhắc lại qua những câu chuyện còn được kể lại cho đến ngày nay trong lịch sử văn học Việt Nam. Theo dao ngôn được truyền tụng trong dân gian, sau khi thành công chế ngự được cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng (Trưng Trắc Trưng Nhị) và chinh phục xứ Giao Chỉ (quê hương của người dân Việt), Phục Ba tướng quân Mã Viện của nhà Đông Hán truyền lệnh dựng cột đồng cao nhiều thước ở biên thùy Trung-Việt vào năm 43 và có được ghi chép trên cái bảng treo như sau:

Ðồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt
Ðồng trụ ngã, Giao Chỉ bị diệt.

Để tránh sư sụp đổ của đồng trụ, người dân Việt cùng nhau vun đấp bằng cách mỗi lần đi ngang qua mỗi người vứt bỏ đi một cục đất nho nhỏ khiến đồng trụ huyền thoại nầy biến mất dần dần theo ngày tháng để trở thành một gò đất. Cố tình trêu nghẹo và mĩa mai trên sự sợ hải và nổi kinh hoàng mất nước của người dân Việt, vua nhà Minh Sùng Trinh ngạo mạng đến nỗi không ngần ngại cho cận thần ra câu đối như sau với sứ thần Việt Nam Giang Văn Minh (1582-1639) trong buổi tiếp tân:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Cột đồng đến giờ đã xanh vì rêu.

để nhắc nhở lại sự nổi dậy của hai bà Trưng bị quân Tàu tiêu diệt.
Không lay chuyển trước thái độ lố bịch nầy, sứ thần Giang Văn Minh trả lời một cách thông suốt lạ thường nhất là với lòng quyết tâm cứng cỏi:

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Sông Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu

để nhắc nhở lại với vua nhà Minh những chiến công hiển hách của người dân Việt trên sông Bạch Đằng.
Không phải lần đầu có cuộc thi văn học giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ở thời đại của vua Lê Đại Hành (nhà Tiền Lê), nhà sư Lạc Thuận có cơ hội làm cho sứ giã nhà Tống Lý Gi ác tr ầm trồ ngư ỡng mộ bằng cách giã dạng làm người lái đò tiển đưa Lý Giác sang sông. Khi Lý Giác khám phá ra được hai con ngỗng đang đùa cợt trên đỉnh sóng và ngâm hai câu thơ đầu của bài tứ tuyệt như sau:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngữa mặt nhìn trời xanh

thì Lạc Thuận không ngần ngại đối lại qua hai câu thơ cuối như sau:

Nước biếc phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh khua

Trong bốn câu thơ nầy, người ta nhận thấy không những có sự ứng khẩu nhanh chóng của sư Lạc Thuận mà còn có cả sự tài tình của ông trong việc dàn dựng song song những thuật ngữ và ý kiến tương đồng trong bài tứ tuyệt nầy.

Hình ảnh nhà thờ Giang Văn Minh và văn miếu

defi

Nhưng nói công lao trong việc đối đầu thì phải dành dĩ nhiên cho học giả Mạc Đĩnh Chi vì ông nầy trong thời gian ở Trung Quốc, đã thể thể hiện được khả năng chống cự mà còn có tài năng vô song để biết đối đáp lại một cách khéo léo tất cả mọi câu hỏi và tránh được mọi cạm bẫy. Ông được gửi đi sang Tàu vào năm 1314 bởi vua Trần Anh Tôn sau khi vua đánh bại quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt với tướng Trần Hưng Đạo. Do sự chậm trể vô tình, ông không có đến trình diện đúng giờ trước cổng thành ở biên giới Trung-Việt. Ông quan giữ cỗng thành chịu mở cửa nếu ông trả lời được một cách thích hợp câu hỏi mà người quan nầy đưa ra mà trong câu hỏi đó gồm có bốn chữ “quan”:

Quá quan trì, quan quan bế,
nguyện quá khách quá quan
Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng,
mời khách qua đường qua cửa quan.

Không có chút nào nao núng cả trước sự thách thức văn học, ông trả lời ngay cho quan cổng với sự tự nhiên đáng kinh ngạc:
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

Ra câu đối dễ, đối câu đối khó
xin tiên sinh đối trước.

Trong lời đối đáp nầy, ông dùng chữ “đối” cũng 4 lần như chữ “quan” và nó được dựng lên ở vị trí của chữ “quan”. Mạc Đỉnh Chi còn điêu luyện biết giữ vần và những luật lệ âm điệu trong thơ để cho quan cổng biết là ông ở trong hoàn cảnh khó xữ với đoàn tùy tùng. Quan cổng rất hài lòng vô cùng. Ông nầy không ngần ngại mở cổng và đón tiếp Mạc Đỉnh Chi một cách linh đình. Chuyện nầy được báo cáo lên triều đình Bắc Kinh và làm nô nức biết bao nhiêu quan lại văn học Trung Hoa muốn đo tài cao thấp với ông trong lĩnh vực văn chương. Một ngày nọ, tại thủ đô Bắc Kinh, ông đang đi dạo với con lừa. Con nầy đi không đủ nhanh khiến làm một người Trung Hoa khó chịu đang theo sát ông trên đường. Quá cáu bởi sự chậm chạp này, quan lại nầy quay đầu nói lại với ông ta với một giọng kiêu ngạo và khinh bỉ:

Xúc ngã ky mã, đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?
Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Ðông hay là người rợ phương Tây?

Ông quan lại lấy cảm hứng từ những gì ông đã học được trong cuốn sách Mạnh Tử để mô tả người những người man rợ không có cùng văn hóa với đế chế Trung Hoa bằng cách sử dụng hai từ  » đông di « . Ngạc nhiên trước lời nhận xét tổn thương này khi ông biết rằng Trung Hoa bị cai trị vào thời điểm đó bởi các bộ lạc du mục (người Mông Cổ), Mạc Đỉnh Chi mới trả lời lại với sự hóm hỉnh đen tối của mình:

Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư
Ngăn lừa ta cưởi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương Bắc mạnh?

Một hôm, hoàng đế nhà Nguyên đã không ngần ngại ca ngợi sức mạnh của mình ví nó với mặt trời và làm cho Mạc Đỉnh Chi biết rằng Việt Nam chỉ được so sánh với mặt trăng, sẽ bị hủy diệt và thống trị sớm bởi người Mông Cổ. Điềm nhiên, Mạc Đỉnh Chi trả lời một cách kiên quyết và can đảm:

Nguyệt cung, kim đạn, hoàng hôn xa lạc kim
Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.

Hoàng đế Kubilai Khan (Nguyễn Thê ‘Tổ) phải công nhận tài năng của ông và trao cho ông danh hiệu « Trạng Nguyên đầu tiên » (Lưỡng Quốc Trạng Nguyên) ở cả Trung Hoa và Việt Nam, khiến một số quan lại ganh tị. Một trong số người nầy cố tình làm bẽ mặt ông ta vào một buổi sáng đẹp trời bằng cách ví ông ta như một con chim bởi vì âm điệu đơn âm của ngôn ngữ, người dân Việt khi họ nói cho cảm giác người nghe như họ luôn luôn hót líu lo:

Quích tập chi đầu đàm Lỗ luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri
Chim đậu cành đọc sách Lỗ luận: biết thì báo là biết, chẳng biết thì báo chẳng biết, ấy là biết đó.

Đây là một cách để khuyên Mạc Ðỉnh Chi nên khiêm tốn hơn và cư xử như một người đàn ông có phẩm chất Nho giáo (Junzi). Mạc Đỉnh Chi trả lời bằng cách ví anh nầy như một con ếch. Người Trung Hoa thường có thói nói to  và tóp tép lưỡi  qua tư cách họ uống rượu.

Oa minh trì thượng đọc Châu Thư: lạc dữ đọc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc.
Châu chuộc trên ao đọc sách Châu Thu: cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn.

Đó là một cách để nói lại với người quan lại nầy nên có một tâm trí lành mạnh để hành xử một cách công bằng và phân biệt nghiêm chỉnh.
Tuy rằng có sự đối đầu trong văn học, Mạc Đỉnh Chi rất nổi tiếng ở Trung Quốc. Ông được Hoàng đế của nhà Nguyên ủy nhiệm việc sáng tác bài văn tế để vinh danh sự qua đời của một công chúa Mông Cổ. Nhờ sự tôn trọng truyền thống của Trung Hoa dành cho những người tài năng Việt Nam, đặc biệt là các học giả có tài trí thông minh nhanh chóng và học hỏi mau lẹ mà Nguyễn Trãi đã được cứu bởi đại quản gia Hoàng Phúc. Trong tầm mắt của tướng Tàu Trương Phụ, Nguyễn Trãi là người phải giết, một người rất nguy hiễm cho chính sách bành trướng của Trung Hoa ở Việt Nam. Ông bị giam giữ bởi Trương Phụ trong thời gian ở Ðồng Quang (tên xưa của Hànội) trước khi ông theo Lê Lợi về sau ở Lam Sơn. Không có cử chỉ hào hiệp và bảo vệ của hoạn quan Hoàng Phúc, Lê Lợi không thể trục khỏi quân nhà Minh ra khỏi Việt Nam vì Nguyễn Trãi là cố vấn quan trọng và chiến lược gia nổi tiếng mà Lê Lợi cần dựa vào để lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích trong thời gian mười năm đấu tranh chống lại Trung Quốc.

Cuộc đối đầu văn học này phai nhạt dần dần với sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam và chấm dứt vĩnh viễn khi vua Khải Định quyết định chấm dứt hệ thống cuộc thi quan lại ở Việt Nam theo mô hình của người Trung Quốc dựa chủ yếu vào tứ thư Ngũ Kinh của Đức Khổng Tử.

Cuộc thi quan lại cuối cùng được tổ chức tại Huế vào năm 1918. Một hệ thống tuyển dụng kiểu Pháp khác đã được đề xuất trong thời kỳ thuộc địa. Do đó, Việt Nam không còn cơ hội để đối đầu văn học với Trung Quốc nửa và biểu hiện được sự khác biệt cũng như sự phản kháng trí tuệ và các đặc thù văn hóa.

Vietnam qua dòng lịch sử (Histoire du Vietnam)

Việt Nam qua dòng lịch sử

English version
French version

Vietnam được biết đến từ thế kỷ 19 khi vua Gia Long quyết định đổi tên nước Nam Việt. Marco Polo có nhắc đến xứ nầy trong cuộc hành trình của ông với quyển sách mang tựa đề là «Những kỳ quan của thế giới» dưới tên là Giao Chỉ. (Caucigui). Có thể tóm gọn lịch sử xứ nầy qua vài lời như sau: chiến đấu để dành độc lập, chinh phục những « vùng đất mới » và thống nhất đất nước. Người dân Việt được nhắc đến ở thời kỳ đồ đồng (Văn hóa Đồng sơn).

Ở niên kỷ thứ 10, ở đồng bằng sông Hồng thường được xem là cái nôi của dân tộc người Việt, họ mới được giải thoát được gông cùm của người Hán để gìành lại được độc lập và khởi đầu sau đó một cuộc Nam Tiến với Lê Hoàn. Quốc gia nầy không ngừng sinh sản các « tế bào mới » ở các vùng đất nào thuận lợi cho phương thức canh tác và còn dựa trên phương diện chính trị, vào các hộ dân nho nhỏ độc lập mà được những người lính nông dân tạo thành. Các hộ nầy đôi khi còn được củng cố bởi chính quyền trung ương rồi hành xử như một san hô kết xù  để hình thành dần dần một  đảo san hô to tác, rồi bao vây  và đồng hóa sau đó  các vùng đất mới đó khiến nhờ thế mà  bờ cỏi Vietnam mới được rộng lớn thêm. Đây là một lợi thế không thể phủ nhận được cho chính sách bành trướng nhưng phải cần có một chính quyền trung ương mạnh mẽ. Đức Không Tử thường nhắc đến các người Việt trong Kinh Lễ. Nhờ có năng lực bám giữ ngón chân cái tách rời được các ngón chân khác nên họ vượt sông leo núi rất dễ dàng mà chẳng bao giờ biết mệt cả.

 Phong cảnh Việt Nam

Lịch sử Vietnam không phải là lịch sử của các triều đại vua chúa hay là những phong trào tư duy vĩ đại. Mà nó là lịch sử của những người nông dân bền bỉ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, làm việc vất vã ở ngoài ruộng đồng và thường hay áp đặt dấu ấn của họ trên quang cảnh. Chỉ cần sự nới giản ở chính quyền trung ương thì đất nước nầy dễ dàng bị phân chia. Bởi vậy đây là một trong những lý do chính giải thích nước Việt Nam thường có tình trạng bất ổn và chiến tranh triền miên. Vietnam có được lợi thế là nhờ có ba cấu trúc dân tộc thích hợp như sau: một bộ máy hành chánh dựa trên mô hình nho giáo dưới triều đại vua chúa (người có thiên mệnh), gia đình và làng mạc xem như đến từ một nền văn hóa nông dân mà mỗi người dân Việt lúc nào cũng cảm nhận có sự gắn bó mật thiết của họ với tổ tiên và đất nước. Nhờ chính sách ngặm nhấm của con tầm mà người dân Việt mới chiếm được những mảnh đất của người dân Cao Miên và Chàm. Những di tích của những người nầy ở miền trung hiện nay (Phan Thiết, Phan Rang, Đà Nẵng vân vân …) và đồng bằng sông Cửu Long chứng nhận sự chinh phục của người dân Việt. Họ đã bao lần chứng minh trong quá khứ và chiến tranh Vietnam sự gắn bó thâm sâu của họ với nền độc lập dân tộc. Họ phải chịu qua bao nhiêu thế kỷ chiến đấu, giặc dã và đau thương để Vietnam trở thành hiện nay môt con rồng con ở Á Châu.

Người ta tìm thấy trong lịch sử của người dân Việt có hai ngàn năm tranh đấu không ngừng với thiên nhiên và nước. Vì thế người nông dân Việt lúc nào cũng có gắng bó mật thiết với mảnh đất nầy mà còn có luôn sự thỏa thuận sâu sắc với thiên nhiên. Nhà học giã Pháp Paul Mus không ngần ngại nhấn mạnh sự kiện nầy trong quyển sách mang tựa đề là « Vietnam, xã hội học của một cuộc chiến tranh, Ba Lê, nhà xuất bản Le Seuil 1952« . Chính sự thỏa thuận mật thiết nầy khiến ở đâu đi nửa mà có cơ hội thuận tiện thì khó mà có ai có thể chống lại được sự bành trướng của họ mà luôn cả lực lượng ngoại bang cũng không thể thắng họ khi có đụng chạm với họ trên mảnh đất nầy. Bất chấp sự đô hộ bởi người Trung Hoa có một ngàn năm, người dân Việt, được thấm nhuần nền văn hóa của họ, đã giữ được ngôn ngữ dù biết rằng ngôn ngữ nầy bị phiên âm bằng tiếng Hán và bị La-Tinh hóa sau nầy khi thầy tu sỹ dòng tên là Alexandre de Rhodes đến Vietnam. Nếu người dân Việt không từ chối bất kỳ sự đóng góp nào từ nước ngoài là vì họ đã thành công việt nam hóa và giữ được tất cả những gì qúi giá mà mọi người ở trên thế giới đều có đó là các truyền thống dân tộc mà được truyền lại từ thế hệ nầy sang thế hệ sau và từ những người mảnh khảnh, chân vùi chôn trong bùn của các ruộng lúa. 

Làm thể nào để không gắn bó với Việt Nam, một đất nước mà sự hy sinh không phải là một từ rỗng. Sự hy sinh nầy đã bao lần tìm thấy trong các biên sử của Vietnam. Thà làm qủi nước nam chớ không thèm làm vương đất Bắc, đó là lời nói dũng khí của danh tướng Trần Bình Trọng trước khi ông bị giặc Nguyên giết chết vào năm 1257. Cuộc đời là một trò chơi may rủi. May mắn nó không đến với chúng ta. Bây giờ tốt hơn là chết cho đất nước và để lại một tấm gương hy sinh cao cả, đó là lời nói của nhà lãnh đạo Nguyễn Thái Học trước khi bị chém đầu vào ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái. Làm thế nào để xóa trong ký ức tập thể khuôn mặt ngây thơ của một hoàng đế trẻ bi gian cầm Hàm Nghi, bị lưu đày lúc 18 tuổi ở Algérie, nước mắt lưng tròng? Làm thế nào để quên đi cái chết bi thảm của một vị vua trẻ Duy Tân (một tai nạn máy bay tại OuBangui-Chari ở Châu Phi) mà sự trở về Vietnam của ông có lẽ thay đổi những sự kiện đáng tiếc của lịch sử Việt Nam trong những thập niên vừa qua vào năm 1945 ? Làm thế nào để không nuối tiếc Viêtnam quê hương tôi, một mảnh đất không bao giờ được bình yên ? Đó là là ấn tượng mà nhà văn Huỳnh Văn Nhường cảm nhận được qua cuốn sách nổi tiếng của ông tựa đề là: « The Land I lost » dành cho giới trẻ và được biên tập bởi nhà xuất bản Castor Poche Flammarion.


 

Một đất nước mà tôi yêu thương có bao giờ
còn tồn tại qua dòng lịch sử không?

 

                    –Citadelle en colimaçon et son mythe (Cổ Loa thành và huyền thoại)
                    –Arbalète magique (Huyền thoại Trọng Thủy et Mỵ Châu)

                      –Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

  • Dynastie des Hồ
  • Dynastie des Lê postérieurs              

                     –Nguyễn Trãi 

  •  Les Paysans de l’Ouest (Nhà Tây Sơn) 

                     –Nguyễn Huệ (vua Quang Trung)

                      –Nguyễn Ánh (Vua Gia Long)
                      –Nguyễn Phúc Hồng Nhậm  (Vua Tự Đức)
                      Nguyễn Phúc Bửu Lân (vua Thành Thái)
                       –Nguyễn Phúc Ưng Lịch (Vua Hàm Nghi)
                      Nguyễn Phúc Vĩnh San (Vua Duy Tân)

Dân tộc Hmong (Version vietnamienne)

Dân tộc Hmong

Version française
English version

Tại sao dân tộc Hmong không có quốc gia như người Việt? Tại sao họ sống nghèo nàn tạm bợ ở miền nam Trung Hoa hay ở bán đảo Đông Dương, trở thành một dân tộc thiểu số của Vietnam tuy rằng họ rất đông dân có ít nhất 20 triệu dân trên đia bàn họ cư ngụ.

Dân tộc Hmông được chia nhiều nhóm:Hmong xanh (hay Hmong Lênh), Hmong Hoa, Hmong Đen, Hmong Trắng và Na Miêu (Mèo Nước). Dân tộc Hmong (hay thường gọi là Miêu) sống cư ngụ hiện nay ở Vietnam là con cháu của dân di cư đến từ miền nam nước Trung Hoa. Giữa chừng cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, dân Hmông mới đến định cư ở bán đảo Đông Dương (Lào, Vietnam và Thái Lan). Họ thường ở những vùng miền núi của Việtnam từ 800 đến 1500 thước so với nước biển.(Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La vân vân…) và có liên hê mật thiết với các cư dân đồng tộc ở trong địa bàn khá rộng lớn dọc theo biên giới Việt Trung và Việt Lào. Lịch sữ của họ nhìn lại kỹ là một dân tộc không bao giờ chịu đầu phục dưới sự thống trị và chính sách đồng hóa của người phương bắc (Trung Hoa) cũng như dân tộc Vietnam.

Theo truyền thuyết được kể lại qua nhiều thế hệ, ông cha của họ sống ở vùng đầy tuyết và nước đá và ít có mặt trời trong vòng sáu tháng. Bởi vậy họ thường quen sống ở các vùng nhiệt đới và không có dịp thấy được tuyết nên thường dùng những danh từ như nước cứng và cát trắng mịnh để ám chỉ nước đá và tuyết. Theo các sữ gia, họ có nguồn gốc ở Tây Bá Lợi (Sibérie) và các vùng cao nguyên của Mông Cổ. Những nét da trắng của vùng Cáp Ca (Caucase) thường thể hiện ở những người Hmông ngày nay. Còn có nhiều người nghỉ rằng họ đến từ Tây Tạng vì họ có các nghi lễ shaman. Thường hay có sự phỏng đoán nhiều hơn sự xác thực về nguồn gốc người Hmong. Trong các văn bản của người Trung Hoa, người Hmong được gọi là người Miêu. Danh từ nầy dùng để ám chỉ tất cả những dân tộc không phải là người Hán sống ở các vùng tây nam của Trung Hoa. Ngày nay, danh từ nầy dùng để chỉ rõ các dân tộc Hmong ở vùng bán đảo Đông Dương và các dân tộc thiểu số Miêu ở Trung Hoa (Hmong, Hmou, Qoxiong và Hmau) cùng liên hệ mật thiết về ngôn ngữ và văn hóa.

Les Hmong

Một dân tộc luôn luôn đi tìm tự do

Nhìn lại danh từ Miao trong chữ Hán (苗)(hay Miêu) thì thấy nó đã có nguồn gốc với chữ Điền (田) (ruộng) trên đầu còn thêm tượng hình Thảo (cỏ)(艹) . Đây là cách ám chỉ của người Trung Hoa trong ngôn ngữ, để chỉ nguời Hmong thời đó. Họ là những người giỏi về làm ruộng ở đồng bằng. Cứ bị lấn áp mất ruộng đất bởi người Trung Hoa, họ buộc lòng trở thành những dân cư miền núi cho đến ngày nay. Họ đến cư ngụ những vùng núi có độ cao khắc nghiệt và khó mà tiếp cận. Họ buộc lòng hoà mình với thiên nhiên tìm ra một cách khéo léo cho mỗi môi trường một mô hình nông nghiệp để trồng lúa (các ruộng lúa bậc thang). Nguời Hoa vẫn khinh khi họ, xem họ như dân mọi rợ cho đến nổi trong văn bản của Hoa có sự phân biệt giữa người Hmong chín (shu Miao) và người Hmong sống (sheng Miao), có nghĩa là những Hmong chịu theo họ hay bị đồng hóa và những người Hmong sống bên lề của văn hoá Trung Hoa. Người Hoa có nhiệm vụ biến các người « Hmong sống » thành các người « Hmong chín ». Lịch sữ người Hmong rất phong phú qua các truyền thuyết và hiện thực. Nó cũng là con đường đầy rẫy chông gai, các cuộc xung đột không ngừng với người Hoa từ buổi ban sơ. Chính vì thế lịch sử của họ là lịch sử của một dân tộc chống lại sự áp bức khiến họ thường nổi tiếng là những kẻ hiếu chiến và khó mà đồng hóa. Ở thời kỳ tiền sử, dân tộc Hmong đã sống gần với bộ tộc Hsia (dưới đời nhà Hạ) ở lưu vực của sông Hoàng Hà ở vùng thượng Hà Nam. Cùng tù trưởng Suy Vưu (Chi You), họ đụng độ lần đầu với người Hoa và thua trận ở Trác Lộc với cái chết của Suy Vưu ở tỉnh Hồ Bắc (Hubei) (khoảng chừng 2690 trưc Công Nguyên). Sau đó họ bị đẩy lui đến đồng bằng sông Dương Tử trong địa bàn của dân Bách Việt bởi hoàng đế Hiên Viên và Đại Vũ của người Trung Hoa. Trong các văn bản của nhà Ân và nhà Châu, cũng có nhắc đến các cuộc xung đột với dân tộc Hmong (1121- 256 trước công nguyên). Ở vùng trung lưu của sông Dương Tử, họ giữ một vai trò quang trọng, một thế lực đáng kể trên phương diện chính trị và xã hội ở Sỡ Quốc, một trong ba nước mạnh nhất ở thời Chiến Quốc. Ngoài việc chiêu hồn, người Hmong cùng người nước Sỡ có sự liên hệ mật thiết trên phương diện ngôn ngữ, đời sống, phong tục vân vân …

 img_8504
Dạo đó, dân tộc Hmong cùng dân tộc Lạc Việt và dân Tây Âu (tổ tiên người Thái hiện nay) có một thế lực trọng đại trong dân cư của Sỡ Quốc khiến nước nầy trở thành một thành luỹ kiên cố của dân Bách Việt và dân tộc Hmong chống lại cuộc xâm lăng của người Hoa. Sau khi nước Sỡ bị chinh phục bởi nhà Tần (Tần Thủy Hoàng), người Hmong phải chạy trốn về các vùng núi ờ Qúi Châu, Tứ Xuyên và Vân Nam. Các cuộc xung đột vẫn tiếp diễn dưới triều đại nhà Hán (140- 87 trước công nguyên) và dưới thời Ngũ Đại (907-960 sau công nguyên). Tên Miêu tạm thời được quên đi dưới triều đai nhà Nguyên và sau đó được nhắc đến thường xuyên dưới triều đại nhà Minh. Vì sự gia tăng dân số, người Hoa tiếp tục chiếm đất của người Hmong khiến họ phải di cư và chống lại người Hoa một cách mãnh liệt để bảo vệ ruộng đất. Có nhóm thì dùng vũ khí còn có nhóm thì chạy trốn sang bán đảo Đông Dương nhất là họ sang với ba làn sóng người liên tìếp mà làn sóng quang trọng nhất là lúc có cuộc nổi dậy có liên hệ đến cuộc khởi nghĩa thần bí của nhóm Thái Bình thường được biết dưới cái tên là Thái Bình Thiên Quốc dưới triều đại nhà Thanh từ 1840 đến 1868. Dân tộc Hmong trở thành từ đó một dân tộc thiểu số của Vietnam từ ba thế kỷ.

Tự Đức (Empereur Tự Đức)


tuduc

Hồng Nhậm

(1847-1883)

Tôn kính một hoàng đế thi sĩ qua 4 câu thơ lục bát:

Ngậm ngùi thương xót phận mình
Làm vua chẳng có quang vinh chút gì
Thực dân chiếm đất ở lì
Trẩm đây buồn tủi, sử thì kết oan

Version française
Version anglaise

Là ông vua thứ tư  của triều Nguyễn, ông có tên là Hồng Nhậm khi ông còn là một hoàng tử. Ông là con thứ hai của vua Thiệu Trị và được vua Thiệu Trị đổi ý chọn làm người nối ngôi vua trong di chúc thay vì thái tử Hồng Bảo bị vua xem như người chỉ biết ham vui chơi bời. Hồng Bảo phẫn uất thổ huyết nằm giữa cung điện khi lúc làm lễ  đăng quang cho Hồng Nhậm (Tự Đức). Sau đó Hồng Bảo bị mang tội thông đồng với các cha cố đạo Tây Phương âm mưu đảo chánh Tự Đức và bị giết trong tù khiến vua Tự Đức cũng bị chỉ trích ít nhiều về sau qua các bài thơ của các quan triều đình. Vua thiếu lòng cao thượng mà Tào Phi con trưởng của Tào Tháo dành cho em Tào Thực, một nhà thi sĩ lỗi lạc ở thời Tam Quốc trong lúc tranh giành quyền lực. Đây là trường hợp của danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh. Một ngày, khi  lúc dùng cơm vua bi lưỡi cọ với  răng nên đau,  liền có ý tưởng chọn cho chủ đề thơ là «chấn thương bởi răng » và ra lệnh cho quân thần làm thơ với chủ đề tài nầy.   Lợi dụng thời cơ nầy, Nguyễn Hàm Ninh mới ngỏ lời cùng vua qua bốn câu thơ như sau:

Ta ra đời trước chú chưa sinh
Chú phận làm em, ta phận anh
Ngọt bùi sao chẳng cùng san sẽ
Mà nỡ đau thương cốt nhục tình?

Nguyễn Hàm Ninh  được vua khen thưởng nhờ có tài năng phi thường với một số lượng vàng không ít  nhưng đồng thời ông cũng nhận được cho mỗi câu thơ sáng tác của ông một roi vì mỗi câu đều có ý nghĩa và sâu sắc. Tự Đức là một đai thi sĩ của thời ông. Đó là lý do tại sao ông có một sỡ thích không thể chối cải được là ông rất trọng các nhà thơ vĩ đại trong thời đại của ông. Họ được đánh giá rất cao với giá trị thực sự của họ ngay cả quyền lực luôn cả lòng tự trọng của Tự Đức đôi khi có thể bị coi thường bởi những lời chỉ trích mạnh mẽ và gay gắt từ những người có tính cách độc lập như Cao Bá Quát. Ông nầy không ngừng chế nhạo vua  nhiều lần trước mặt bá quan nhưng vua không ngần ngại khen ngơi khi Cao Bá Quát đã thành công trong việc thể hiện lại được cách nói đối ngẫu của vua bằng cách dựa trên lời nói đưa ra của vua qua  một trò chơi chữ khéo léo. Lợi dụng sự hiện diện của Cao Bá Quát, vua Tự Đức mới ra câu đối như sau: 

Nhất bào song sinh, nan vi huynh, nan vi đệ
Một bọc sinh đôi, khó làm anh, khó làm em.

Vì vua muốn nhắc lại là Cao Bá Quát có một người anh sinh đôi là Cao Bá Đạt, hai anh em giống nhau, khó mà phân biệt được ai là anh ai là em. Cao Bá Quát trả lại ngay câu đối như sau:

Thiên tài thất ngộ, hữu thi quân, hữu thi thần
Nghìn năm gặp một, có vua ấy có tôi ấy

để nhắc lại với Tự Đức  có một vua đa tài thì cũng có một tôi tớ rất giỏi giang. Tự Đức không vui chi cho mấy vì ông biết Cao Bá Quát muốn trêu ông qua câu ca dao ‘Vỏ quýt dày, móng tay nhọn’ đấy. Một lần khi đi qua cửa của điện Cần Chánh, Cao Bá Quát không  hài lòng khi thấy treo hai câu đối ngẫu của vua Tự Đức:

Tử năng thừa phụ nghiệp
Thần khả báo quân ân.

Vua Tự Đức thấy vậy mới hỏi vì lý do gì mà Cao Bá Quát không vui. Chữ ‘Tử’ không thể đứng trước chữ ‘phụ’.  Luôn cả chữ ‘Thần’ không thể đứng trước được chữ ‘quân’ vì thể thức viết nó không phù hợp với tôn ti thứ tự. Tự Đức bảo Cao Bá Quát sửa lại sự sai lầm nầy. Cao Bá Quát mới đáp lại với hai câu đối như sau:

Quân Ân, thần khả báo
Phu nghiệp, tử năng thừa.

Dù có một tâm hồn lãng mạn và có khí chất ốm yếu, Tự Đức là một hoàng đế ít biết đến sự thư thản và bình tâm suốt thời kỳ ông ngự trị. Ông không những phải đối đầu với sự bành trướng của   chủ nghĩa tư bản của phương tây mà còn dẹp các cuộc biến loạn trong nước như việc loại trừ Hồng Bảo và vây cánh, giặc Châu Chấu do Cao Bá Quát cầm đầu vân vân….Chuyện mất 6 tỉnh ở Nam Bộ lúc nào cũng ám ảnh ông và làm ông buồn rầu triền miên vì ông là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại Nguyễn có phần trọng trách để mất đi một phần đất của Vietnam cho ngoại bang nhất là mãnh đất  của quê mẹ của ông. Chuyện ông không có con vì ông bị bệnh đầu mùa  từ thưở nhỏ và nhất là sự tự sát của sĩ phu Phan Thanh Giản, tổng trấn của các tỉnh miền tây Nam Bộ khiến làm ông lúc nào cũng có  tâm tư buồn bã và khiến ông thường tìm nơi ẩn dật qua các nhà thủy tạ màu đỏ Du Khiêm Xung Khiêm mà nay trở thành những nơi du khách ngoại quốc và Việtnam rất thích khi có dịp đến tham quan các lăng mộ ở Huế. Chính ở nơi nầy vua Tự Đức có làm ra rất nhiều bài thơ nhưng nổi tiếng vẫn là bài thơ “Khóc Bằng Phi” với hai câu thơ để đời khi nhắc đến:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi

Ông là một đứa con hiếu thảo thường có mẹ bao bọc đó là bà thái hậu Từ Dũ. Ông thường xem xét và chú ý đến những gì mẹ của ông đề nghị. Một hôm, qua vở kich Trung Hoa “Đường Chinh Tây”, bà Từ Dũ bị sốc khi thấy nữ anh hung Phàn Lê Huê giết cha. Để làm vui lòng mẹ, ông buộc lòng truyền lệnh cho quan trọng trách lo các trò giải trí sửa đổi trọn vẹn nội dung lại để tránh màn thảm kịch nầy đi ngược lại với tinh thần Khổng giáo. Chuyện khai phục chức Hàn Lâm Viện điển tịch cho sĩ phu Phạm Phú Thứ cũng có liên quan đến sự qưở trách mà Từ Đức nhận được từ bà thái hậu Từ Dũ. Chính Phạm Phú Thứ dân sớ lên cho Tự Đức chỉ trích và hặc cái tính lười biếng của vua Tự Đức  nhất là vua thường bãi bỏ các buổi thiết triều quan trọng và không  giải quyết các đơn thỉnh cầu từ khi ông lên làm vua. Mặc dầu bị mang tội phạm thượng khi quân, Phạm Phú Thứ không bị sa thải mà trở thành một đại thần nổi tiếng dưới thời Tự Đức. Vì bị ảnh hưởng quá lớn của  nhóm quan lại nho giáo, Tự Đức không thể cải cách kịp thời và bất chấp những lời cảnh báo và ghi nhớ thảm hại của học giả yêu nước Nguyễn Trường Tộ. Ông không tận dụng những cơ hội thuận lợi để đưa Viêtnam trên con đường hiện đại mà còn chìm lún sâu hơn một chút trong sự cô lập, buồn bã và cô đơn từ khi chính quyền thực dân Pháp thôn tính 6 tỉnh  Nam Bộ. Để giải khuây nổi buồn triền miên của Tự Đức, bà Từ Dũ hứa thưởng ai có công làm vua Tự Đức cười.  Ông thường có thói quen đi xem kịch.  Một hôm, lợi dụng sự hiện diện của Tự Đức, một kép hát tên Vung sấn đến trước mặt vua Tự Đức lúc ông đang hút thuốc lá và nói rằng:

Ông có thể cho tớ mồi một hơi không?

Cử chỉ của Vung làm kinh ngạc mọi người vì ai cũng biết đây là một việc phạm thượng nhưng lúc đó vua Tự Đức phì cười và nói rằng: Mi quá gan thế.  Nhờ thế Vung khỏi bị tội khi quân và được bà Từ Dũ trọng thưởng. Thật đáng   tiếc khi gán cho  vua Tự Đức  một ông vua chuyên chế có trách nhiệm để chính quyền thực dân cướp đất. Số phận của đất nước cũng như của dân tộc Vietnam đã  bị quyết định từ lâu từ khi ông nội của ông, hoàng đế Minh Mạng và cha ông hoàng đế Thiệu Trị đã chọn lựa chính sách đàn áp người công giáo và người truyền giáo nước ngoài. Nhờ vậy chính quyền Pháp mới biện minh được sự can thiệp và thôn tính của họ. Chính sách thực dân Pháp đã tiến hành từ lâu.

Qua những giai thoại nầy, chúng ta biết rằng Tự Đức là một hoàng đế khoan dung và hiếu nghĩa, một người có trái tim và một nhà thơ vĩ đại của thời ông. Số phận của đất nước buộc Tự Đức,  bất chấp chính mình, trở  thành một hoàng đế và giết chết anh trai của mình vì cộng tác với ngọai bang. Chúng ta có thể làm tốt hơn Tự Đức không? Đây là câu hỏi mà  chúng ta  tự nêu ra nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của vua Tự Đức.  Qua bao nhiêu năm chúng ta  cũng không tìm thấy được  câu trả lời nhưng chúng ta biết có một điều là vua Tự Đức không thể  thờ ơ với những biến cố đang ập lên một cách tàn nhẫn trên đầu ông và dân tộc của ông. Ông cũng không đứng dậy nổi được trước nỗi đau buồn thống khổ nầy  khi nhìn thấy  sự sụp đổ của đất nước mà ông  là người bị buộc tội vì có nhiều trọng trách trong lịch sử Vietnam.

Pictures gallery

 

[Return DYNASTIE]

 

Rừng tràm Trà Sư (Tịnh Biên, Châu Đốc)

 

Rừng tràm Trà Sư

Version française 
Version anglaise
Galerie des photos

Là một hệ sinh thái đầm lầy nước ngọt có rễ cây tràm trú ẩn các động vật có vỏ, cá và động vật giáp xác, rừng tràm Trà Sư  là khu rừng ngập nước ngọt  tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu và cũng là nơi sinh sống của 140 loài động vật (dơi ăn quả, dơi, diệc, cò, chim cốc vân vân) và  thực vật thuộc hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Nằm cách thành phố Châu Đốc khoảng 30 cây số về phía tây nam và thành phố Long Xuyên 64 cây số. Rừng tràm Trà Sư là nơi mà người du khách có cơ hội hoà mình vào thiên nhiên len lỏi theo xuồng ba lá hay  tắc ráng giữa mênh mông rừng tràm qua các con đường bèo quanh co, rất thú vị nhất là với mùa nước nổi từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm.

Étant un écosystème de marais d’eau douce  dont le cajeputier abrite dans ses racines échasses coquillages, poissons et crustacés, la mangrove Trà Sư est une forêt inondée typique du  delta du Mékong dans la région ouest du Bassac. C’est aussi ici la réserve forestière du Vietnam  où on trouve  140 animaux (roussettes, chauves-souris, hérons, aigrettes, cormorans etc.)  et plantes. Elle est située à 30 kilomètres au sud ouest  de  la ville de Châu Đốc  et distante de 64 km de la ville de Long Xuyên. La forêt inondée Trà Sư est le lieu où le touriste a l’occasion de de se jeter à corps perdus dans la nature et  pouvoir s’introduire    dans les  recoins de l’immense sylve remplis  de lentilles d’eau et  parsemés parfois par des fleurs de lotus   grâce à la barque avec pagaie ou équipée d’un petit moteur. C’est très agréable de passer une journée en période de hautes crues  de l’année (de septembre à novembre). 

Being a freshwater swamp ecosystem whose cajeput trees shelter shellfish, fish, and crustaceans in their stilt roots, the Trà Sư mangrove is a typical flooded forest of the Mekong Delta in the western Bassac region. It is also the forest reserve of Vietnam where 140 animals (flying foxes, bats, herons, egrets, cormorants, etc.) and plants can be found. It is located 30 kilometers southwest of the city of Châu Đốc and 64 km from the city of Long Xuyên. The flooded forest of Trà Sư is a place where tourists have the opportunity to immerse themselves completely in nature and explore the corners of the vast forest filled with duckweed and occasionally dotted with lotus flowers, thanks to a paddle boat or one equipped with a small motor. It is very pleasant to spend a day there during the high flood season of the year (from September to November).

La forêt des cajeputiers

Tra_su

Nhà Đông Hán (Dynastie des Han orientaux)

 

titre_dynhan_9Bảo tàng viện Guimet (Paris)

English version

French version

Nhà Đông Hán (Dynastie des Han orientaux)

Niên đại nhà Đông Hán

icon_daihan

 Đông Hán

25-57: Quang Vũ Đế

57-75: Minh Vũ Đế

75-88: Hán Chương Đế

88-106: Hán Hoà Đế

106: Hán Thương Đế

106-125: Hán An Đế

125:Hán Thiếu Đế

125-144: Hán Thuận Đế.

145-146: Hán Chất  Đế.

146-168: Hán Hoàn Đế.

168-189: Hán Linh Đế

184: Giặc Khăn Vàng 

189: Hán Thếu Đế 

189-220: Hán Hiến Đế

190: Cũng cố thế lực  Tào Tháo

220: Tào Tháo và  Hán Hiến Đế qua đời

Nhà Hán diệt vong

Thời kỳ bắc  thuộc lần thứ nhất

Ở các vùng lãnh thổ bị người Hán chinh phục, đặc biệt là ở miền nam Trung Quốc, việc Hán hóa tiếp tục một cách dữ dội bất chấp mọi  phản ứng. Vì thế các cuộc nội loạn tiếp nối diễn ra đầu tiên ở  Điền Quốc ( năm 86, 83 TCN, 14 sau CN, từ năm  42 à đến năm 45 ) nhưng bi trấn áp một cách nghiêm khắc.  Cũng phần đông từ các việc hà hiếp của các quan chức nhà Hán và thái độ ngang tàng cướp đất của các cư dân tàu và  tiếp tục đẩy lùi các dân bản xứ đến các vùng heo hút. Hơn nửa họ phải học tiếng tàu, theo phọng tục và tín ngưỡng của người tàu. Sau đó năm 40, xãy ra một cuộc nổi dậy  ở Giao Châu gồm có ở thời kỳ đó một phần lãnh thổ của Quảng Tây và Quảng Đông.   Cuộc khởi nghĩa do hai người con gái  của  lạc tướng ở Mê Linh tên là Trưng Trắc (Zheng Cè) và Trưng Nhị (Zheng Er). Để làm gương cho các  quân phiến lọan, thái thú Tô Định (Su Ding) không ngần ngại giết  chồng của bà Trưng Trắc tên là Thi Sách (Shi Suo) vì ông nầy phản đối chính sách đồng hóa  gắt gao. Việc hành hình nầy khiến làm phẫn nộ hai bà và khơi mào đến cuộc vùng dậy ở toàn lãnh thổ của người Bách Việt nhất là vùng của người Việt. 

icon_tigre

Dụng cụ dùng  để giữ  các vành của chiếc chiếu 

Poids de natte

 

 

Hai bà Trưng được sự hưởng úng của các tộc trưởng khác  Man Di ở quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố  nên hai bà ta đã đoạt được 65 thành trì  trong thời gian rất ngắn, trở thành Nữ vương và đóng dô tại Mê Linh (Meiling).  Năm 41, hai bà bị khắc phục bỡi Mâ Viện Phục Ba tướng quân (Ma Yuan) và gieo mình tự sát ở Hát Giang thay vì đầu hàng.  Hai bà trở thành  một biểu tương về ý chí quật cường của dân tộc Việtnam. Hai bà vẫn được sùng bái không những ở Vietnam mà ở ngay trên các lãnh thổ của dân Bách Việt mà ngày nay thuộc về Trung Quốc (Quảng Tây và Quảng Đông). 

Mã Viện bất đầu thi hành chinh sách khủng bố và hán hoá bằng cách đặt người tín nhiệm tàu  ở các then chốt của nguồn máy hành chánh và áp đặt tiếng tàu là ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ của người dân Việt.  Đây là thời kỳ bắc thuộc lần đầu và được kéo dài gần một ngàn năm trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc với  Ngô Quyền. Giữa lúc đó, Hán Quan Vũ Đế (Guangwudi) đã thành công đem lại sự thịnh vượng và ổn định  trong nước bằng cách giảm thuế về lợi nhuận. Cũng như Hán Vũ Đế, sau khi Quan Vũ Đế mất, con ông Hán Minh Đế (Mingdi) đeo đuổi chính sách bành trướng đất đai với  các cuộc tấn công chống lại quân Hung Nô nhầm tranh giành ảnh hưởng ở các nước Trung Á và đem lại sự an toàn cho con đường tơ lụa (Route de la soie). Tướng Ban Siêu (Ban Chao), anh của sử gia nổi tiếng Ban Cố (Ban Gu)  (hay Mạnh Kiên)(*) ở thời đó, được trọng trách  trong cuộc viễn chinh nầy. Ông đã thành công đến tận hồ Caspienne (hay Caspi) và chinh phục được dân tộc Nhục Chi nhờ có sự giúp đỡ của dân tộc Kusana.  


(*) Tác giã của  Hán Sử (Annales des Han)

Galerie des photos

guimet_han

 

Âm Dương trong đời sống của người dân Việt (Yin et Yang dans la vie des Vietnamiens): Phần 1

 

yinyangviet

Version française

Version anglaise

 Triết lý  Âm Dương nó được gắn bó mật thiết hằng ngày với đời sống của người dân Việt và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Thuộc về Âm tất cả những gì có tính chất lỏng, ẩm, lạnh, tĩnh, tối, nội hay có cốt yếu nữ tính như  mặt trời, mặt trăng, đêm, nước hay mùa đông. Còn ngược lại thuộc về dương tất cả gì hiện ra tính chất cứng, khô,  nóng, cử động, sáng, ngoại hay có cốt yếu nam tính như  đất, thái dương, lửa, mùa hè vân vân…. Tính âm dương nầy được nhận ra trong  việt ngữ  qua hai phụ từ « con » và « cái ». Tựa như các mạo từ  xác định « le » và « la » trong Pháp ngữ, các  phụ từ « con » và « cái » được dùng để chỉ định trong vài trường hợp nào đó tính  đực và  cái. Nhưng dưa trên các từ chỉ đồ vật có hàm nghĩa tĩnh (không cử động) hay động (cử động) thì  các phụ từ « cái » và « con » nầy dùng theo, được  thuộc về loại ngữ nghĩa tương ứng tức là có dạng tĩnh hay động như các đồ vật. Phụ từ « cái » dùng khi đồ vật mang  tính cách  không cử động (tĩnh) ví dụ như  cái nhà, cái hang, cái nồi vân vân etc… Ngược lại khi đồ vật có tính cách cử động hay liên hệ đến cử động thì phải dùng  phụ từ « con » như  con mắt, con tim, con trăng, con ngươi, con dao, con đường, con hẻm vân vân  … Con mắt nhúc nhích  không ngừng cũng như con tim  đập rộn ràng. Cũng như con trăng hay con ngư cử động. Người Việt cổ thường xem  dao như con vật thiêng.  Nó được nuôi dưỡng với máu, rượu và gạo. Dù đồ vật được gọi cùng một danh từ nhưng có thể có ý nghĩa khác tùy theo  sử dụng  từ phụ « con » hay « cái » . Ví dụ sau đây thể hiện tĩnh hay động của chiếc thuyền  tùy theo sử  dụng tự phụ « cái » hay « con ». Con thuyền trôi theo dòng nước. Có nghĩa là có dùng mô tơ hay có ai chèo nên con thuyền được tiến lên. Ngược lại khi nói cái thuyền trôi theo dòng nước thì không có ai vận hành chiếc thuyền chi cả. Đây là làn sóng nước nó làm thuyền di chuyển một mình. Câu nầy muốn ghi nhận cái trạng thái  tĩnh của chiếc thuyền. Thuyền đậu thì gọi là « cái thuyền » còn thuyền chuyển động trên sông thì thường gọi là « con thuyền ». Lưỡng tính âm dương còn thể hiện rõ  ràng  qua các dụng cụ thông dùng chẳng hạn như  dao: dao cái (dao to) hay dao đực (dao rựa). 

Sự nhận xét nầy được nhà nghiên cứu và hán học  Pháp Alain Thote ghi nhận trong bài có tựa đề là « Origine et premiers développements de l’épée en Chine » (Nguồn gốc và phát triển đầu tiên của các thanh kiếm  ở Trung Hoa). Các gươm của người Việt cổ rất được nổi tiếng như  dao trủy thủ Ngư Trường  (Yuchang)(ou l’épée des entrailles de poisson)  mà Chuyên Chư  (Zhuan Zhu)  dùng để giết Ngô Vương Liêu,  vào thời Xuân Thu vân vân… Qua các thanh kiếm, có thể biết giống đực hay cái. Từ ngữ  « đực rựa » thường được nghe trong các cuộc đàm thoại để ám chỉ các người đàn ông vì họ thường mang mạ tấu hay dao rựa khi ra khỏi nhà  từ sự nhận xét của các người dân Việt. Lưỡng tính âm dương thường được thấy từ lâu ở Việtnam trong nghề trồng lúa: chồng cuốc vợ cấy. Tượng trưng giống đực (Dương),  lưỡi cày xuyên qua đất (Âm)  còn khi  lúc cấy, vợ  (Âm) truyền lại khả năng sinh sản cho các cây lúa (Dương). Để nói lên sự hoàn hảo gắn bó vợ chồng (Âm Dương), người ta thường nói: thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

Người Việt cổ rất gắn bó không những với đất mà luôn cả môi trường nơi họ sinh sống vì nhờ các hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, mây vân vân…) họ  có được có mùa mang tốt đẹp hay không.   Việc trồng lúa trên nương rẫy còn tùy thuộc sự may rủi với thời tiết. Bởi vậy người Việt cổ họ cần sống hài hoà với thiên nhiên.  Họ thường xem họ là nối gạch giữa Trời và Đất.  Từ khái niệm nầy ta thường hay nói: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Chính ba hệ số nầy dành chiến thắng cho dân tộc Việt với các nhà chiến lựơc  Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay  Quang Trung trong công cuốc chống ngọai xâm.  Người dân Việt xem trọng các hệ số nầy trong cách suy nghĩ và cuộc sống hằng ngày.  Đối với họ, cái khái niệm nầy  nó có một ảnh hưởng không chối cãi được trên con người: định mệnh thường được áp đặt theo ý trời và còn phụ thuộc theo ngày sinh tháng đẻ.   Con người  có thể hấp thụ được  linh khí tốt hay xấu (qi) mà trời đất tạo ra với môi trường trong và ngoài nơi mà con người ở. Nghệ thuật làm điều hòa linh khí môi trường sẻ làm giảm đi sự buồn phiền và mang lại sự thoả mái và sức khoẻ cho con người.   Một mãnh  đất bằng phẳng không có nhấp nhô và không có đồi  là một mãnh đất thiếu linh khí và không có sự sống.   Người Việt ám chỉ núi đồi  với  Rồng và Hổ.  Các nhà thường có Rồng xanh ở phiá tây  và hổ trắng ở  phiá đông. Con Rồng thông thường hùng tráng hơn con Hổ (Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ)  có nghĩa là núi (Rồng) phải cao hơn đồi (Hổ). Sự hài hoà được hoàn mỹ nếu điạ điểm nào được  dựa vào núi và hai bên có các dãy đồi che đở chống gió không làm phân tán đi các chi mà còn dẫn đến một cái hồ hay con sông, nơi có nước và thức ăn cho sự sống  và cũng là nơi  tụ các chi.

Cái mô hình nầy có thể thấy được qua kinh thành (hay phương thành)  Huế. Kinh thành quay mặt về phiá nam vì Kinh dịch đã viết: « Thánh nhân nam  diện nhi thính thiên hạ thí (vua quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ) ».  Với   tính cách quân sự phòng vệ, vòng thành của kinh thành nầy   được dựng  lên dựa theo kiểu thành lũy của  Vauban  và  bao gồm  một hoàng thành (hay Đại Nội) ở mặt phiá nam.  Đại Nội  nầy   cũng bị hạn chế bởi một vòng đai thứ nhì  hình chữ nhật  622×606 thước mà trong đó  lại có cung thành hay là  Tử Cấm Thành,  nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia với một vòng đai cuối cùng cũng gần như vuông (330×324  thước).  Sự chồng chéo ba vòng đai nầy  thể hiện  khái niệm Tam Tài (Thiên-Nhân-Địa).    Phía nam của kinh thành nơi có Ngọ Môn, cổng chính của hoàng thành, được dọc theo khúc cong của sông Hương. Cũng như rồng ngoạ về phiá tây, sông nầy  bò  từ nam lên Bắc  len lỏi giữa những gò đồi  rồi quay một cách đột ngột 90 độ về phiá đông. Sông Hương  gặp  hai  cù lao Dã Viên và Cổn Hến trước khi đổ ra biển, tạo ra cái « Chi Huyền Thủy »  rất phù hợp với  sơ đồ được  nói ở trên trong thế  Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ  mà được  Dã Viên và Cồn Hến tượng trưng, ngang mặt với núi Ngự Bình  cao 150 thước làm một bức bình phong thiên nhiên theo lý thuyết phong thủy.

Con người có thể tác động và thay đổi cuộc sống của mình.  Với những hành động nhân từ đối với kẻ khác, con người có thể tìm thấy được  hạnh phúc và  cải thiện được phần nào  cái nghiệp của mình. Ngày xưa ở Việtnam có một lễ quan trọng mà do triều đình nhà Nguyễn  tổ chức hàng năm. Đó là lễ tế Nam Giao.   Chính vua có quyền cúng tế Trời Đất và cha mẹ mình ở đàn Nam Giao vì vua là con của Trời. Đàn nầy  được xây dựng vào năm 1806 cách kinh thành Huế về phía nam. Đàn Nam Giao có ba tầng, tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Đia, Nhân. Mỗi tầng mang một hình dạng và màu sắc riêng tư.  Được chay tịnh lòng mình trước đó, vua lên đàn tế và cầu khẩn cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất.  Vua là  người  trung gian duy nhất giữa Trời và Đất.  Quan niệm Tam Tài cũng thưòng được nhắc đến trong các truyện cổ tích Việt Nam.  

Trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Nương được cầu hôn bởi hai vị thần hay là trong truyện Táo Quân, người phụ nữ bị phân vân giữa mối tình xưa và hiện tại.  Trong truyện trầu cau, quan niệm  tam tài dựa trên   vợ, chồng và em.  Một khi qua đời họ  trở thành dây  trầu, cây cau và đá vôi thì bộ ba nầy biểu thị  cho tiết hạnh, ngay thẳng và trong trắng.  Truyện trầu cau  phản ảnh  khái niệm cân đối hài hoà  mà được thấy trong lý thuyết Âm Dương.   Để làm miếng trầu, người ta thường phết vôi trên lá trầu. Rồi thêm vào đó vỏ của  cây chay  Artocarpus tonkinese màu vàng cam cùng vài  lát cau thái mỏng. Rồi bỏ vào miệng và nhai chậm rãi đến khi chỉ còn bã trầu mới nhổ ra sau đó.  Có đến 5 vị  trong miếng trầu:   ngọt với cau, cay với lá trầu, đắng với rễ vỏ của cây chay,  mặn với vôi và chua với nước bọt.  Hình ảnh  dây leo của cây trầu nhô ra từ đất mà được tiêu biểu  qua  đá vôi  và quấn chặt thân cây cau dong dỏng cao thẳng   nầy khiến ta nhận thấy được tính chất trung dung  giữa Âm và Dương  trong sự  hài hoà hoàn hảo.  Miếng trầu là đầu câu chuyện thuờng được nghe nói trong ngạn  ngữ của người Việt.  Sự chấp nhận ăn miếng trầu  mang nhiều ý nghĩa thường dẫn đến một lời cam kết mà không ai có thể nghĩ khước từ về sau.  Nếu đây là sự trao đổi giữa trai và gái thì nó còn  có nghĩa là một đề nghị thành hôn. Trong truyền thống của người Việt, miếng trầu là biểu tượng cho hạnh phúc vợ chồng. Vì vậy nó không thể thiếu trong lễ cưới.

Trong nền văn hóa trồng lúa nước, còn có nhiều bộ ba cũng quan trọng như Thiên Địa Nhân. Đây là trường hợp của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Con người cần có đất để trồng lúa, nước và phân bón  để làm cho đất có  màu mỡ. Cũng như con người cũng cần có cây cỏ để sinh sống và kim loại để làm dụng cụ  canh tác.  Nhưng trong trường hợp nào đi nửa, con người cũng cần có đất vì đất là yếu tố chung của Thủy, Hỏa, Thổ hay là Mộc, Kim, Thổ.  Chính vì vậy đất (hay Thổ) chiếm môt vị trí trung ương và then chốt  trong việc quản lý bốn phương.  Trong đời sống nông nghiệp, yếu tố quan trọng sau đất là nước. Bởi vậy người nông dân  thường  nói:  Nhất nước nhì phân. Như nước thuộc  về « Âm », người ta gán cho phương Bắc vì phương nầy tương thích với trời  lạnh (mùa đông). Ngược lại trong bộ ba  (Thủy, Hỏa, Thổ), yếu tố lửa đựợc  nối kết với phương nam vì nơi nầy trời nóng và nhiều ánh sáng. Còn yếu tố Mộc thường liên quan đến cây cối mà thường được nẩy nở ở mùa xuân. Bởi vậy Mộc được  chiếm ở phương tây với sư tăng trưởng của Duơng. Còn lại là yếu tố Kim với tinh chất dễ uốn nắn và đa dạng nên nó  được ở phương đông mà thường được liên nối với mùa thu. 

Người Việt thường nhận thấy ở lý thuyết Âm Dương một khái niệm luân phiên hơn là một khái niệm đối nghịch.  Hai thành tố Âm và Dương tạo thành một thực thể dẩn đến việc thiết lập một cân bằng thích hợp và hài hoà.  Đối với họ, thế giới  biểu thị  qua tất cả những qui luật tuần hoàn hơp thành bởi sự liên hợp của hai thể hiện luân phiên và bổ sung. Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âmHai thanh tố Âm và Dương được xem như là bánh xe lăn.  Vận động đến chốn, các thanh tố bắt đầu làm lại. Một khi giới hạn được đạt thì các thành tố nầy trở lại một lần nửa.

Có một lô châm ngôn dân gian có quan hệ nhân quả  biểu lộ cụ thể sự chuyển hóa của Âm Dương.  Bởi vậy thường nghe nói:  Trong rũi có may, Trong họa có phúc,   Sướng lắm khổ nhiềuTrèo cao ngã đau Yêu nhau nhiều cắn nhau đau, Của đi thay người.  Hai yếu tố Phúc và Họa  thông thường thay đổi đi ngược chiều với nhau.  Nhờ có lưỡng tính Âm Dương nầy  mà người dân Việt thường kiếm một cân bằng thích hợp trong cuộc sống hằng ngày.  Họ tìm cách có được sự  hoà thuận hoàn hảo với mọi người và thiên nhiên  luôn cả sau khi qua đời. Đây là sự việc mà người ta khám phá được ở mộ cổ Lạc Trương (Thanh Hóa) ba thế kỷ trước Công Nguyên với các đồ mai táng bằng gỗ (Dương) được chôn cất phương bắc (Âm) và các đồ bằng đất nung (Âm) thì ở phương Nam (Dương). Khái niệm cân bằng cũng được thấy rõ ở chùa chiền với Ông Thiện Ông ÁcChính nhờ triết lý cân bằng nầy mà người dân Việt có khả năng để  thích  ứng với bất cứ tình huống hay thảm họa nào đi nửa. Chính cũng nhờ nguyên tắc cân bằng nầy mà các nhà lãnh đạo Việt đã tiếp tục giữ được trong quá khứ khi có chung đụng với ngoại bang. Để tránh sĩ nhục cho quân  Mông Cỗ bị thất bại hai lần ở Việtnam, tướng Trần Hưng Đạo đề nghị cống nạp cho Hốt Tất Liệt để có được  hoà bình bền lâu. Sau khi thắng quân Minh, Nguyễn Trãi  không gần ngại thả Vuơng Thông trở về Trung Hoa với  13000 quân lính  và đề nghị môt hiệp ước cống hiến 3 năm một lần hai tượng bằng kim loại mịn để đền bồi thường hai tướng nhà Minh Liễu Thăng Lương Minh bị chết lúc giao chiến.

Cũng như vua Quang Trung rất khiêm tốn và chấp nhận gữi sang Trung Hoa một sứ giã để giải  hoà với vua Càn Long sau khi tiêu diệt quân Thanh ở Hànội vào năm 1788 trong một thời gian ngắn  ngủi (6 ngày). Cũng không quên nhắc đến thái độ khéo léo của các nhà lãnh đạo cộng sản trên phương diện ngoại giao trong các cuộc xung đột với Pháp Quốc và Mỹ Quốc.  Hội nghị Genève (1954) và Paris (1972)  biểu hiện một lần nửa giải pháp   cân bằng hay phương pháp trung dung mà người dân Việt tìm thấy trong lý thuyết Âm Dương. Ở Vietnam, tất cả đồ vật nào có hình dáng tròn thuộc về Dương còn những đồ vật nào có hình vuông thuộc vế Âm. Đây là một khái niệm đã có từ thuở xa xôi mà người ta nghĩ rằng  mặt trời lại  tròn và mặt đất thì  vuông nhờ người dân Việt cổ  san bằng làm cho vuông vức  mới làm rẫy và cất nhà được. Chính với quan niệm « thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông) » nầy   mà nguời Việt cổ có thói quen chia mãnh đất ra chín lô với mô hình dựa trên chữ  tĩnh 井 (giếng nước) viết bằng chữ Hán. Lô ở trung tâm dùng để xây cái giếng còn 8 lô  xung quanh còn lại để xây cất nhà. Đây là đơn vi gia cư đâu tiên  trong xã hội nông nghiệp.  Câu châm ngôn dân gian sau đây : trời xanh như tán lọng tròn ; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông phản chiếu quá đúng cái tín ngưỡng nầy. Tổ tiên chúng ta vẫn biết trái đất tròn trong tìm thức nên khi nói  « trời tròn đất vuông » là muốn phân biệt giữa thể (cái gì tồn tại tự chính nó) như trời   và dụng (cái gì được  dùng khi được san bằng) như đất. 

[ Âm Dương trong đời sống dân Việt: phần 2]


Tài liệu tham khảo

–Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
–Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống đồng giữa học giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18. 
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Thái văn Kiểm: Việt Nam quang hoa . Nhà sách Xuân Thu. USA
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net) 
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001. 
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36. 
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556) …..

Cathédrale Saint Joseph (Nhà thờ Lớn Hànội)

Version française
Version anglaise
Picture Gallery

Dựa theo mẫu nhà thờ Đức Bà Paris, nhà thờ Saint Joseph được thiết kế bỡi giám mục Paul-François Puginier theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ  Âu Châu và được xây dựng  vào năm 1884 trên khu đất mà trước đó có  chùa Báo Thiên, một chùa nổi tiếng đã có từ thời nhà Lý (thế kỷ 11) . Nhà thờ nầy thường đươc gọi là nhà thờ lớn vì ngoài kích thước hoành tráng  với  chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m có đến 5 chuông còn  được xem là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ nầy được hoàn thành vào năm 1886 sau bốn năm xây cất. Chi phí tốn kém nhờ hai đợt xổ số (đợt một năm 1883, đợt hai năm 1886). Tuy rằng bề ngoài của nhà thờ có vẻ đen tối vì ô nhiễm, nhà thờ nầy vẫn được xem là một di tích lich sữ thời kỳ Pháp thuộc và là điểm tham quan cực kỳ quan trọng đối với người du khách nước ngoài khi đến Hànội.

Basée sur le modèle de Notre Dame de Paris, l’église Saint Joseph dont les plans ont été dessinés par l’évêque  Paul-François Puginier est   du style néo-gothique. Elle fut construite  en 1884  sur l’emplacement de la pagode Báo Thiên, un édifice bouddhique très connu à l’époque de la dynastie des Lý (XIème siècle).  Cette église est fréquemment appelée « grande église » car outre ses dimensions imposantes avec sa longueur de 64,5 mètres, sa largeur de  20,5 mètres  et ses deux clochers carrés hauts de 31 mètres et  équipés de 5 cloches, elle est encore  l’église-mère de l’archidiocèse d’Hanoï. Sa réalisation fut terminée en 1886 après 4 années de construction avec l’argent alimenté par le système de loterie (organisé en 1883 et en 1886). Malgré son aspect extérieur assombri par la pollution, cette église est un vestige historique de l’époque coloniale française et devient actuellement l’un des sites  extrêmement importants pour les touristes étrangers lors de leur passage à Hanoï.

English version

Based on the model of Notre Dame de Paris, Saint Joseph Church, whose plans were drawn by Bishop Paul-François Puginier, is in the neo-Gothic style. It was built in 1884 on the site of the Báo Thiên pagoda, a very well-known Buddhist building during the Lý dynasty (11th century). This church is often called the « great church » because, in addition to its imposing dimensions with a length of 64.5 meters, a width of 20.5 meters, and two square bell towers 31 meters high equipped with 5 bells, it is also the mother church of the Archdiocese of Hanoi. Its construction was completed in 1886 after 4 years of building, funded by a lottery system (organized in 1883 and 1886). Despite its exterior darkened by pollution, this church is a historical relic of the French colonial era and has become one of the extremely important sites for foreign tourists during their visit to Hanoi.
 
Eglise Saint Joseph

[RETURN]

Lotte center (Hànội)


Version française
Version anglaise

Tọa lạc ở giữa thành phố Hànội trong quận Ba Đình, trung tâm  Lotte center Hànôi   gồm 65 tầng nổi và 5 tầng hầm. Toà nhà nầy cao thứ 2 Việt Nam từ năm 2014 cho tới khi landmark 81 của Saigon  vượt qua chiều cao của nó 2017 (bề cao 461,5m). Nơi nầy, ngoài khách sạn 5 sao, còn có  đại siêu thị Lotte Mart chiếm toàn bộ tầng hầm B1. Từ tầng 1 đến tầng 6  là trung tâm thương mại với các mặt hàng thời trang cao cấp. Đến đây , có thể nhìn thấy tổng quát Hà thành với  đài quan sát  Sky Walk ở tầng 65, cao tới 272 m.  Ngoài ra còn bố trí các quán bar để du khách giải lao và ăn uống. 

 

Trung Tâm Lotte

Le gratte-ciel Lotte center  est situé au cœur de la capitale de Hànội dans le district de Ba Đình.  Il a 65  étages et 5 étages en sous-sol.  Classé deuxième au Vietnam depuis 2014, il est devancé désormais par le gratte-ciel landmark 81 de Saigon. Ce dernier  a la  hauteur de 461,5m.  C’est ici qu’outre l’hôtel 5 étoiles, il y a encore le supermarché Lotte Mart. Celui-ci  occupe  carrément  l’étage en sous-sol B1. Du premier étage jusqu’au 6ème étage, c’est le centre commercial avec des boutiques de mode. La tour d’observation Sky Walk haute de 272m est  au 65 ème étage. On peut y avoir la vue d’ensemble  magnifique  de la capitale Hanoï.  Le cadre est aussi superbe avec les bars et restaurants. Les visiteurs peuvent  s’y  détendre.

The Lotte Center skyscraper is located in the heart of the capital Hanoi, in the Ba Đình district. It has 65 floors and 5 basement levels. Ranked second in Vietnam since 2014, it is now surpassed by the Landmark 81 skyscraper in Saigon. The latter has a height of 461.5m. Here, in addition to the 5-star hotel, there is also the Lotte Mart supermarket, which occupies the entire B1 basement floor. From the first floor to the 6th floor, there is a shopping center with fashion boutiques. The Sky Walk observation tower, 272m high, is on the 65th floor. You can enjoy a magnificent overall view of the capital Hanoi. The setting is also superb with bars and restaurants. Visitors can relax there.

 

[RETURN]