Le mythe de Táo Quân (Chuyện ông Táo)

Le mythe de Táo Quân

English version
Version vietnamienne
Galerie des photos

Le mythe des génies du foyer repose sur la tragique histoire d’un bûcheron et de sa femme. Il prend sa source dans le taoïsme. Ce couple modeste vivait heureux jusqu’au jour où  il découvrit qu’il ne pouvait pas avoir d’enfants. L’infortuné mari se mit à boire et à maltraiter sa femme. Celle-ci ne pouvant en supporter davantage le quitta et épousa un chasseur d’un village voisin. Mais un jour, fou de solitude et plein de remords, le bûcheron décida de rendre visite à sa femme pour lui présenter ses excuses.

Sur ces entrefaites, le chasseur rentra chez lui. Afin d’éviter tout malentendu, la jeune femme cacha son premier mari dans une étable au toit de chaume, située près de la cuisine où le chasseur était en train de fumer son gibier. Par malheur, une braise s’échappa du foyer et mit le feu à l’étable.

Affolée, la jeune femme s’élança vers l’étable en flammes pour sauver son ex-époux. Le chasseur la suivit pour lui porter secours et tous trois périrent dans le brasier. L’empereur de Jade (Ngọc hoàng), du haut de son trône céleste, profondément touché par ce triste sort, divinisa les trois malheureux et les chargea de veiller au bien-être des Vietnamiens  à l’emplacement avantageux de la cuisine. C’est ainsi qu’ils devinrent  dès lors les génies du Foyer.

Pendant la semaine où les génies sont au ciel, les Vietnamiens craignent que leur maison soit sans protection. Afin de prévenir toute incursion des mauvais esprits dans leur maison, ils érigent devant chez eux une  haute perche de bambou (cây nêu) sur laquelle sont suspendues des plaques en argile (ou khánh en vietnamien) vibrant avec sonorité au gré du vent pour éloigner les esprits. Au sommet de cette perche, flotte un morceau de tissu jaune marqué par l’emblème bouddhique.

Cette coutume trouve ses origines dans une légende bouddhique  intitulée « Le Tết du bûcheron » selon laquelle les  Vietnamiens doivent affronter des esprits maléfiques.

C’est toujours le vingt-troisième jour du dernier mois lunaire que chacun des  Vietnamiens organise une cérémonie de départ du génie de foyer  pour le ciel. On trouve non seulement sur son autel des fruits, des mets délicieux, des fleurs mais aussi un équipement de voyage approprié (3 paires de bottes, 3 chapeaux, vêtements, des papiers votifs) et des trois carpes mises dans une petite cuvette. À la fin de la cérémonie, on brûle les papiers votifs et on libère les carpes dans un étang ou dans une rivière afin que le génie puisse s’en servir pour s’envoler au ciel. Celui-ci doit rapporter tout ce qu’il a vu sur terre à l’empereur de jade, en particulier dans le foyer de chaque Vietnamien. Son séjour dure ainsi  six jours au ciel. Il doit retourner au foyer dans la nuit du réveillon jusqu’au moment où  débute la nouvelle année.

(*) cây nêu: C’est un arbre cosmique reliant la terre au ciel  en raison des croyances des peuples anciens adorant le soleil, y compris les Proto-Vietnamiens mais il  est employé également  pour délimiter leur territoire.

Version vietnamienne

Cuisine des Vietnamiens 

Truyền thuyết về các Táo quân được  dựa trên câu chuyện bi thảm của một người thợ rừng và vợ của ông ta. Nó có nguồn gốc từ Lão giáo. Cặp vợ chồng khiêm tốn này được sống hạnh phúc cho đến khi họ phát hiện ra rằng họ không thể có con. Người chồng bất hạnh nầy mới  bắt đầu rượu chè và ngược đãi  bà vợ. Bà nầy không thể chịu đựng được nữa và rời bỏ ông ta và kết hôn với một người thợ săn ở làng bên cạnh. Nhưng một ngày nọ, cô đơn và hối hận, người thợ rừng quyết định đến thăm vợ để xin tạ lỗi.

Giữa lúc đó, người thợ săn trở về nhà. Để tránh mọi sự hiểu lầm, người phụ nữ trẻ buộc lòng giấu người chồng cũ của mình ở trong một chuồng gia súc có mái nhà bằng tranh, nằm gần nhà bếp nơi mà người thợ săn đang hun khói thịt rừng. Thật không may, một đóm lửa  than hồng thoát ra khỏi lò và đốt cháy chuồng.

Cùng quẫn, người phụ nữ trẻ lao mình về phía chuồng  đang bốc cháy để cứu chồng cũ. Người thợ săn chạy theo cô để giúp cô và cả ba đã chết trong ngọn lửa. Ngọc Hoàng, từ trên cao nhìn xuống, cảm động vô cùng trước số phận đau buồn này, phong thần cho ba người  và buộc họ phải trông chừng từ đây hạnh phúc của người dân Việt ở vị trí thuận lợi của nhà bếp. Bởi vậy họ trở thành các thần bếp núc từ đây của các gia đình người Việt.

Trong tuần lễ  các táo quân ở trên trời, người Việt lo sợ ngôi nhà của họ sẽ không được bảo vệ. Để ngăn chặn sự xâm nhập của tà ma vào nhà, họ dựng trước cửa nhà một cây nêu có treo những khánh đất phát tiếng động khi có gió rung. Trên đỉnh cột này  có treo một mảnh vải màu vàng có biểu tượng của Phật giáo.

Phong tục này bắt nguồn từ một truyền thuyết Phật giáo mang tên « Tết của người thợ rừng », theo đó người dân việt phải đối mặt với những linh hồn ma quỷ.

Cứ đến ngày hai mươi ba tháng Giêng âm lịch, mỗi người  dân Việt lại tổ chức lễ tiễn Táo quân  về trời. Không chỉ có  trái cây, thức ăn ngon, các bông hoa trên bàn thờ của Táo quân mà còn có đồ dùng cho cuộc hành trình thích hợp (3 đôi giầy, 3 cái mũ, 3  bộ đồ quần áo, vàng mã) và ba con cá chép được đặt trong một chiếc thau nhỏ. Sau khi kết thúc lễ cúng thì đốt vàng mã và thả cá chép xuống ao hay sông để Táo quân mượn cá chép bay về trời.  Táo quân phải báo cáo lại với Ngọc Hoàng tất cả những gì Táo quân được nhìn thấy ở trần gian, nhất là ở trong nhà của mỗi gia đình của người dân Việt. Thời gian lưu trú của Táo quân được  kéo dài là sáu ngày ở trên trời. Táo quân phải trở về nhà vào đêm giao thừa đúng lúc khi năm mới vừa bắt đầu.

(*) cây nêu:  cây vũ trụ nối liền đất với trời, do tín ngưỡng thờ thần mặt trời của các dân tộc cổ mà trong đó có người Việt cổ mà còn hàm chứa ý thức về lãnh thổ cư trú của họ.

[Return CONTES]

The Mudras of Buddha (Thủ Ấn)


mudra_bouddha
French version
Vietnamese version

The symbolic gestures of Buddha icone_lotus

Depending on the manufacturing country of Buddha statue, the artist can represent it in a different way. By contrast, there is always some immutable ritual characters that he must observe scrupulously in the Buddhist statuary. This is the case of the position and gestures of the Buddha’s hands (mudras). Being limited in number, the latter, complemented by the body posture (asana), allows the faithful to benefit of the teaching and philosophy of Buddhism. One is accustomed to associate these symbolic gestures to the various episodes in the Buddha life (meditation under the Bodhi tree, taking the earth as witness, first predicate at Sarnath etc.).

Instead of Buddhist texts to whom a very few people have acces, these mudras in the iconographic representations of Buddha are genuine tools for religious transmission. The picture is more meaningful because it is based on simple gestures and readable by all in place of Buddhist texts which are sometimes incomprehensible. The mudras that are initially designed by the yogis and priests of the Vedic epoch in India will be retrieved and interpreted by Mahayana sects to become over time, one of the techniques of highly codified representation. They thus constitute a language extremely powerful because through a number of signs and symbols, this allows you to identify the sacred character, to define its rank and to evoke its qualities.

 

mudras

Thủ Ấn

This is the case of the divinities of Buddhist pantheon (Bodhisattvas, Amithâba etc.). That is what we also find in multiple practices having a religious character (dances, rituals, meditations etc ..) without forget to remind what we have also seen in the Christian iconography with its saints placed at the entrance of the Middle Ages cathedrals. Some important mudras are frequently encountered in the Buddhist iconography.  

Absence of fear mudra

(Ấn xúc địa)

Taking the earth as witness with his right hand

It is the Bhumiparsha-mudra. In this gesture, one sees that his right arm hangs down over the right knee while his left hand is raised in front of his belly on his legs in position of lotus. He took the earth as witness and he called Goddess of the earth Torani to his rescue. To kill the hordes of evil represented by Mara, this godhead provoked the waves by letting down her hair. This mudra announced the imminence of the awakening. At the end of this meditation, he will announce the Four Noble Truths (Tứ Diệu Đế): Dukka (suffering), Samudaya (insatiable hunger), Nirohda (extinction of suffering) and Marga Sacca ( Buddha way towards extinction) to achieve nirvana (final liberation).

Charity mudra  (Varada mudra)

Meditation mudra (Ấn thiền)

Buddha have been sitting with both hands in front of his belly, palms returned, on his legs crossed in lotus. It is the dhyana-mudra that is often found in zen school. This is the meditation period of Buddha under the tree of awakening (Bodhi) in Bihar.

Argument mudra (Ấn giáo hóa)

Sitting in position of lotus, Buddha maintains his right hand to the height of his shoulder, palm facing outward, the thumb and index finger touching and the other fingers being raised. This posture corresponds well to the discussion and argument.

[Return RELIGION]

Cholon: pagode Quan Thánh

La pagode Quan Thánh (ou Chùa Quan Công) est située au cœur du quartier chinois à Saigon.

Cholon: temple Nhị Phủ

.

Version française

Miếu Nhị Phủ được tọa lạc ở số 264 đường Hải Thượng Lãn Ông trong  khu Chợ Lớn quận năm ngày nay. Chùa nầy hay thường được gọi là chùa ông Bổn mà cũng là hội quán  của người Hoa gốc Phúc Kiến. Ông Bổn chỉ là một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Đa số người Hoa đều quan niệm rằng « Ông Bổn »  là một vị thần bảo vệ đất đai và con người. Mỗi bang người Hoa đều có quan niệm và tín ngưỡng riêng về Ông Bổn. Như ông Bổn ở Miếu Nhị Phủ là Châu Đạt Quan, một vị quan dưới thởi nhà Nguyên. Chùa nầy tuy trãi qua ba lần sùng tu vào những năm 1805, 1901 và 1990 vẫn giữ được nét cổ kính qua phong cách kiến trúc và trang trí truyền thống của  người Phúc Kiến. Ngoài kiến trúc độc đáo, Miếu Nhị Phủ còn  được xem là ngôi chùa có lịch sử  lâu đời nhất ở thành phố Saïgon vì nó được dựng lên ở  vùng Đề Ngạn (nay là vùng Chợ Lớn)  vào khoảng đầu thế kỷ 18.

Version française

Le temple Nhi Phu est situé aujourd’hui au  numéro 264 rue Hải Thượng Lãn Ông dans le quartier de  Cholon (district 5). Il est souvent appelé  sous le nom de la pagode « Ông Bổn » mais  il est également le siège de la congrégation des gens issus de  Fujian.  Le nom  « Ông Bổn » n’est qu’un symbole mais il n’est pas concrètement un personnage physique. La plupart des Chinois ont une notion très précise sur « Ông Bổn ».  Pour eux,  Ông Bổn  est celui qui protège la terre et les gens. Chaque congrégation chinoise a son propre concept et ses propres croyances concernant Ông Bổn. Par exemple, Ông Bổn au temple Nhi Phủ est Zhou Daguan (Châu Đạt Quan), un mandarin de l’époque des Yuan. Bien que ce temple  ait subi trois rénovations en 1805, 1901 et 1990, il continue à  conserver  toujours ses caractéristiques anciennes grâce au style architectural et décoratif traditionnel  des gens de Fujian.

Outre son architecture originale, le temple est considéré comme la pagode la plus ancienne  de Saïgon, car il a été érigé dans la région de Đề Ngạn  ( devenue aujourd’hui la région de Cholon) au début du 18ème siècle.

 

Cholon: pagode Thiên Hậu

 

Chùa bà Thiên Hậu (Chợ Lớn, Saigon)
Temple Thiên Hậu (Cholon, Saïgon)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nơi nào có người Hoa sinh sống thì nơi đó thường có chùa thờ bà Thiên Hậu. Trong tính ngưỡng của người Trung Hoa, bà được xem như là nữ thần bảo trợ của ngư phủ và người đi biển. Theo học giả Vương Hồng Sển, bà có tên là Lâm Mặc Nương, người gốc đảo Mi Châu, Bồ Dương, Phúc kiến. Lâm Mặc Nương lượm được một ngày 2 miếng « Đồng phù » (bùa vẽ trên miếng đồng) ở dưới giếng nước và tập luyện theo đó nên trở thành có phép lạ và nổi danh từ đó qua những sự việc được cứu người vượt biển và thu phục và cảm hóa các vị hung thần Thiên lý nhãn và Thuận phong nhĩ được kể lại trong dân gian.

Được toạ lạc ở tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Saïgon, giữa trung tâm Cho Lớn, chủa bà Thiên Hậu được xem là nơi du khách nước ngoài đến tham quan nhiều nhất mà cũng là địa điểm chụp hình của giới trẻ Việt Nam cũng như trước chợ Bến Thành, bảo tàng Mỹ Thuật hay nhà hát thành phố.

Partout où il y a la communauté chinoise, il y a aussi souvent la présence d’une pagode ou un temple dédié à la déesse Thiên Hậu. Dans la croyance populaire chinoise, elle est considérée comme la déesse protectrice des pêcheurs et des marins. Selon l’érudit Vương Hồng Sển, elle s’appelle Lâm Mặc Nương issue des îles Micho, Boyan, Fujiang. Lâm Mặc Nương a ramassé un jour deux morceaux de  » Đồng phù  » (amulettes dessinées sur des morceaux de cuivre) dans un puits. Elle a réussi à s’entrainer suivant la méthode indiquée, à s’illustrer plus tard dans le sauvetage des gens traversant la mer avec la magie et à soumettre deux génies malfaisants Thiên lý nhãn et Thuận phong nhĩ, c’est ce qu’on a raconté dans le folklore.

Situé au numéro 710 de l’avenue Nguyễn Trãi au cœur du quartier chinois Cholon, la pagode Thiên Hậu est considérée comme le site le plus visité par les touristes étrangers mais elle est aussi le lieu adoré par la jeunesse vietnamienne pour faire des photos comme le marché central, le musée des Beaux-Arts ou l’opéra de Saïgon.

Wherever there is a Chinese community, there is often also the presence of a pagoda or a temple dedicated to the goddess Thiên Hậu. In popular Chinese belief, she is considered the protective goddess of fishermen and sailors. According to the scholar Vương Hồng Sển, she is called Lâm Mặc Nương, originating from the Micho, Boyan, Fujiang islands. One day, Lâm Mặc Nương picked up two pieces of « Đồng phù » (amulets drawn on pieces of copper) from a well. She managed to train herself following the indicated method, later distinguishing herself in rescuing people crossing the sea with magic and subduing two malevolent spirits Thiên lý nhãn and Thuận phong nhĩ, as told in folklore.

Located at number 710 Nguyễn Trãi Avenue in the heart of the Cholon Chinese district, the Thiên Hậu pagoda is considered the most visited site by foreign tourists but is also a place beloved by Vietnamese youth for taking photos, like the central market, the Fine Arts Museum, or the Saigon Opera House.

Galerie des photos

 

[Return RELIGION]

Temple Ngọc Sơn (Đền Ngọc Sơn)

Le temple Ngọc Sơn

au cœur du vieux quartier Hồ Hoàn kiếm

Đền Ngọc Sơn   

Version française
Liste des photos
Version anglaise
Seconde liste des photos

Ai đến thủ đô Hànội cũng có dịp đến tham quan đền Ngọc Sơn. Đền nầy nó nằm ở trên gò đất nổi của Đảo Ngọc  ở giữa Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm. Đền nầy đã có từ lúc Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long với cái tên là  Ngọc Tượng rồi sau đó đổi tên là Ngọc Sơn dưới đời nhà Trần nhầm để tôn vinh và tưởng niệm Đức Trần Hưng Đạo và  các anh hùng liệt sỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến chống Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt. Ở đây còn có thấy thờ về sau  Văn Xương đế quân,  Phật A-di-đà, Lã Động Tân, Quan Vân Trường khiến thể hiện được tinh thần đoàn kết, hòa hợp tam giáo (Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo)  của người dân Việt.

Chính ở nơi nầy ở hai bên cửa của cổng chính còn có hai chữ Hán « Phúc » và « Lộc » được dựng và tạc theo mô hình do danh sĩ của thế kỷ 19 Nguyễn Văn Siêu. Chính ông trùng tu lại đền Ngọc Sơn dưới thời vua Tự Đức 18 của nhà Nguyễn  (1865)  mà chúng ta  vẫn còn giữ được nguyên vẹn công trình kiến trúc  như ngày hôm nay.  Ông có công dựng thêm tháp bút, đài nghiên, đình Trấn Ba để ngăn chặn làn sóng văn hoá, cổng Đắc Nguyệt Lâu. Có bút thì phải có nghiên mà có luôn ở trên thân nghiên  bài thơ của  ông thể hiện được tư tưởng của con người ở thời phong kiến theo sự nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc nhưng dù sao đi nữa cũng mang đậm màu sắc của Đạo giáo qua hai câu đối: 

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

cho thấy rõ tâm tư của ông  như nhà thơ Tô Đông Pha của  thời nhà Tống là không có cuộc sống nào như ý, chỉ có thể tự mình nhìn thấu cõi đời mà sống với một tâm hồn cao thượng của một người trí thức chân chính dùng văn hóa làm trụ cột cho tinh thần dân tộc. Ông có công khôi phục lại diên mạo của Hà Nôi, có công tạo nên sự hài hoà giữa môi trường thiên nhiên của Hồ Hoàn Kiếm  và một công trình kiến trúc độc đáo  khiến người Hà Thành  có  được một không gian tâm linh, văn hoá và lịch sử có một không hai làm họ muôn đời ghi nhớ. Tài năng của ông khiến vua Tự Đức phải thốt lên: « Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán »  có nghĩa là « Tài văn của Nguyễn văn Siêu  và Cao Bát Quát thì đời Tiền Hán phải chịu » vì thời Tiền Hán rất nổi tiếng về văn, nhất là lối văn chép sử như Tư Mã Thiên, Ban Cố (hay Mạnh Kiên).

Sau cổng chính lại có ngôi tháp bút gồm có ba chữ Hán « Tả Thanh Thiên » (viết lên trời xanh) được  thấy ở trên thân. Sau đó đến cổng có bảng Rồng và bảng Hổ ở hai bên tượng trưng cho hai bảng cao quý dùng  để  nêu tên những người thi  khoa đỗ rồi lại có cổng  thứ  ba thường được gọi là  cổng đài nghiên, nơi có tường cao, có  một cửa  cuốn, có một  mái  mà trên đó  có một nghiên đá xanh được ba con cóc đội trên lưng, hình nữa trái đào  nhầm tôn vinh nền văn hiến của dân tộc Việt và  sau cùng là đến cái cầu sơn màu đỏ sẫm, được biết đến với cái tên thơ mộng « Thê Húc (cầu đón nắng ban mai) » để đi đến cổng đền Ngọc Sơn. Theo nhà văn Hoàng Đạo Thúy trong quyển sách tựa đề là: « Người và cảnh Hà Nội » thì khi mặt trời  mọc lên thì bóng ngọn bút tháp sẽ chấm vào nghiên mực. Cầu Thê Húc có hình dáng cong cong như cầu vồng xưa với màu sơn đỏ sẫm khiến làm cầu nổi bật hơn. Có người cho rằng tựa như tấm dải lụa đào vắt qua làn nước xanh thổ của Hồ Gươm. Qua cầu thì đến cổng đền Ngọc Sơn. Cổng nầy được gọi là Đắc Nguyệt Lâu gồm có hai tầng, có hai cửa sổ  tròn và có hai mái ở tầng hai.  Đấy là  tên được lấy từ câu thơ cổ: Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, (Ở cận bên nước nên  toà lầu đài đón được trăng trước cả). Còn có  hai bức tranh được gắn bằng mảnh sứ vỡ, bên trái là Thần Quy Lạc Thư và bên phải là Long Mã Hà Đồ ám chỉ  đến nguồn gốc văn hoá  của dân tộc Bách Việt hay người Việt cổ.

Đền Ngọc Sơn nầy được xây dựng theo mô hình chữ Tam .  Trước đền thì  có một kiến trúc có kích thước và quy mô nhỏ so với các đại đình  ở  các làng và được gọi là phương đình. Đây là đình Trấn Ba được Nguyễn Văn Siêu xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1865 đến 1866  trước kề bề nước nhầm ngụ ý là phương đình nầy như cột trụ đứng vững giữa các làn sóng văn hóa.  Có  người cho rằng nhầm chặn đứng các làn sóng du nhâp của thời đó .Trong đền Ngọc Sơn thì có hai khu thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và  Văn Xương đế quân (chủ quản văn chương, khoa cử). Ngoài ra còn thấy thờ cả Phật A-di-đà, Lã Động Tân, Quan Vân Trường vân vân…

Còn có luôn con ngựa xích thố của Quang Vân Trường  và con rùa của Hồ Gươm. Đền Ngọc Sơn không những là một quần thể kiến trúc cổ kính có lâu đời  và mơ mộng ở phố cổ được du khách ngoại quốc  đến tham quan nhiều nhất mà cũng là nơi sĩ tử thường xuyên lui tới mỗi khi có mùa thi cử. Không nên bỏ qua nơi nầy khi có dịp đến Hà Nôi.

Le temple Ngọc Sơn au fil de la nuit

Version française

Le temple du mont de jade

Quiconque débarque à la capitale Hanoï a l’occasion de  visiter le temple Ngọc Sơn (ou le temple du mont de jade). Situé sur l’ilôt de Jade (Đảo Ngọc) au milieu du lac de l’épée restituée (ou Hồ Hoàn Kiếm), ce temple exista de l’époque du transfert de la capitale à Thăng Long par le roi Lý Thái Tổ (le fondateur de la dynastie des Lý) avec le nom qu’il porta, Ngọc Tượng. Celui-ci fut remplacé plus tard par le nom Ngọc Sơn sous la dynastie des Trần dans le but d’honorer la gloire du généralissime Trần Hưng Đạo et ses héros martyrs ayant laissé leur vie sur le champ de bataille dans la guerre contre les Mongols Kubilai Khan. C’est ici qu’on trouve plus tard  non seulement la vénération d’un personnage mythique et gardien de la littérature de nom Văn Xương  mais aussi Bouddha Amitâbha, l’alchimiste taoïste Lü Dongbin (Lã  Động Tân), ou le héros  Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) des Trois Royaumes (Tam Quốc), ce qui montre l’esprit de solidarité et l’entente harmonieuse entre les trois religions (bouddhisme, taoïsme et confucianisme) trouvés chez le peuple vietnamien.

C’est ici qu’on trouve sur les deux côtés de l’entrée principale du temple les deux idéogrammes chinois « Phúc (Bonheur)» và « Lộc (Prospérité) » gravés selon le modèle établi par l’illustre lettré Nguyễn Văn Siêu d’époque 19ème siècle. C’est lui qui  fut chargé par l’empereur Tự Đức de superviser la restauration de ce temple en  1865, ce qui nous permet de garder encore intact aujourd’hui son état architectural.  Il eut le mérite d’y ajouter aussi  la tour de pinceau, le socle de l’encrier, le pont  de couleur pourpre Thê Húc,  le belvédère Trấn Ba  destiné à  empêcher les  flots de la culture, la porche Đắc Nguyệt Lâu. Quand on a le pinceau on doit posséder également l’encrier. De plus on trouve sur le corps de l’encrier son poème évoquant la pensée de l’homme à l’époque féodale selon l’observation du chercheur vietnamien Nguyễn Vinh Phúc mais l’empreinte de religion taoïste y est présente à travers les deux sentences suivantes:

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

La nuit au clair de lune, on croit aux fées en voyant les grues s’envoler.
Sur le pont du fleuve Hào, c’est une bonne nouvelle que les hommes ne soient pas des poissons.

Cela permet d’élucider sa pensée  analogue à celle du poète chinois Su Dongpo (Tô Đông Pha) de l’époque de la dynastie des Song: Il n’y a aucune vie qui donne  satisfaction à notre souhait. C’est à nous de transpercer le monde par nous-mêmes et vivre avec l’âme noble d’un vrai intellectuel employant la culture comme le pilier de l’esprit national.

Il a le mérite d’avoir restauré le visage de la capitale Hanoï et de créer une harmonie entre l’environnement naturel du lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm)  et son œuvre architecturale inégalée, ce qui permet aux Hanoïens d’avoir un espace spirituel, culturel et historique unique et de garder pour toujours une profonde reconnaissance envers lui.

Son talent a fait s’exclamer l’empereur Tự Đức: « Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán ». Cela  signifie que les styles littéraires de Nguyễn Văn Siêu et Cao Bát Quát sont reconnus volontiers par la dynastie des Han car celle-ci s’est distinguée par son art littéraire, en particulier celui d’écrire l’histoire comme Sima Qian (Tư Mã Thiên), Pan Gu (Ban Cố hay Mạnh Kiên).

Derrière le portail principal se trouve la tour du pinceau ayant sur son corps  les trois idéogrammes chinois  « Tả Thanh Thiên (Ecrire sur l’azur du ciel). Puis le portail suivant  est flanqué de chaque côté un bas-relief, l’un portant l’image du tigre et l’autre celle du dragon pour faire allusion aux deux  tableaux destinés à relever  les noms des candidats ayant réussit aux concours mandarinaux. On se retrouve ensuite avec le troisième portail. C’est ici qu’on trouve le socle vert de l’encrier porté par les trois crapauds sur leur dos au sommet de ce  portail et en forme d’une demi-poire, une porte roulante, un mur assez haut, le tout étant destiné à  honorer les belles traditions de la culture vietnamienne. Enfin on arrive au pont célèbre de couleur pourpre connu sous le nom romantique « Thê Húc (cầu đón nắng ban mai ou pont recevant des lueurs matinales) » pour  donner accès au porche du temple Ngọc Sơn. D’après le livre intitulé « Người và cảnh Hà Nội (L’homme et les paysages de Hanoï)  de l’écrivain Hoàng Đạo Thúy, quand le soleil se lève, l’ombre de la tour de pinceau va pointer sur le creux de l’encrier. Le pont Thê Húc  a la forme incurvée  comparable à un vieil  arc-en-ciel  avec une peinture rouge foncé  le rendant plus embellissant.

Certains prétendent que ce pont ressemble à une bande de tissu en soie traversant par-dessus les flots d’un bleu turquoise du lac de l’épée restituée. En prenant ce pont, on arrive devant le porche du temple. Connu sous le nom Đắc Nguyệt Lâu, celui-ci  a deux fenêtres rondes, l’une se trouvant sur la face devant et l’autre sur la face derrière et deux étages dont le deuxième  comporte deux toits. Son nom est emprunté  dans le vers d’un ancien poème : Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, (Ở cận bên nước nên  toà lầu đài đón được trăng trước cả). Étant situé à proximité de l’eau, le bâtiment reçoit en premier la lumière du clair de lune. De plus il y a deux bas-reliefs en céramique relatant la culture de Bai Yue dont font partie des Proto-Vietnamiens. 

Le temple Ngọc Sơn a été construit selon l’idéogramme chinois  Tam (Trois). C’est pourquoi on le voit réparti en trois parties. La première partie est occupée par un édifice  architectural de petite taille connu sous le nom «phương đình ou belvédère » si l’on compare avec la maison communale des villages.  C’est le pavillon Trấn Ba que le lettré  Nguyễn Văn Siêu a construit  à proximité de l’eau du lac durant la période  1865-1866  et a considéré comme le pilier solide au milieu des flots de culture. Quant aux deux parties restantes, on les retrouve dans le temple lui-même.  Elles sont destinées à vénérer  le généralissime Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn et l’empereur Văn Xương. Celui-ci est le patron de la littérature  et des concours.  En outre, on voit aussi les autels dédiés au bouddha Amitâbha,  à l’illustre alchimiste taoïste Lã Động Tân (ou Lü Dongbin),  au général de l’époque des Trois Royaumes, Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) etc… Même son cheval de bataille légendaire (Xích Thố)  y figure  aussi ainsi que la tortue géante du lac de l’épée restituée. 

Le temple du mont de jade  (Ngọc Sơn) n’est pas non seulement un complexe architectural très ancien et très pittoresque du vieux quartier de Hanoï que la plupart des touristes étrangers  fréquentent  le plus mais aussi le lieu où les candidats vont venir souvent lors de la saison des examens.  Ce temple fait partie de la liste des sites à visiter et à ne pas manquer si on a l’occasion de venir à la capitale Hanoï.

 

 

 

English version

Anyone arriving in the capital Hanoi has the opportunity to visit the Ngọc Sơn Temple (or the Jade Mountain Temple). Located on Jade Islet (Đảo Ngọc) in the middle of the Restored Sword Lake (or Hồ Hoàn Kiếm), this temple dates back to the time of the transfer of the capital to Thăng Long by King Lý Thái Tổ (the founder of the Lý dynasty) under the name Ngọc Tượng. This was later replaced by the name Ngọc Sơn during the Trần dynasty to honor the glory of the great general Trần Hưng Đạo and his heroic martyrs who gave their lives on the battlefield in the war against the Mongols under Kublai Khan. Here, one can later find not only the veneration of a mythical figure and guardian of literature named Văn Xương but also Amitabha Buddha, the Taoist alchemist Lü Dongbin (Lã Động Tân), and the hero Gwanu Unjang (Quan Vũ Vân Trường) of the Three Kingdoms (Tam Quốc), which demonstrates the spirit of solidarity and harmonious understanding among the three religions (Buddhism, Taoism, and Confucianism) found among the Vietnamese people.

Here, on both sides of the main entrance of the temple, one finds the two Chinese ideograms « Phúc (Happiness) » and « Lộc (Prosperity) » engraved according to the model established by the illustrious scholar Nguyễn Văn Siêu from the 19th century. He was entrusted by Emperor Tự Đức to oversee the restoration of this temple in 1865, which has allowed us to preserve its architectural state intact to this day. He also had the merit of adding the brush tower, the inkstand base, the purple-colored Thê Húc bridge, the Trấn Ba pavilion intended to prevent the waves of culture, and the Đắc Nguyệt Lâu porch. When one has the brush, one must also possess the inkstand. Furthermore, on the body of the inkstand, there is his poem evoking the thoughts of people in the feudal era according to the observation of the Vietnamese researcher Nguyễn Vinh Phúc, but the imprint of Taoist religion is present through the following two lines:

Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên
Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá.

By moonlit night, one believes the cranes taking flight are immortals.
On the Hào river bridge, it is a joy that men are not fish.

clearly shows his sentiments like the poet Tô Đông Pha of the Song Dynasty that no life is perfect; one can only see through the world and live with the noble soul of a true intellectual who uses culture as the pillar of the national spirit. He contributed to restoring the appearance of Hanoi, creating harmony between the natural environment of Hoan Kiem Lake and a unique architectural work that gives the people of Hanoi a spiritual, cultural, and historical space like no other, making them remember it forever. His talent made King Tu Duc exclaim: « Wen ru Sieu, Quat wu qian Han, » meaning « The literary talent of Nguyen Van Sieu and Cao Bat Quat surpasses that of the Pre-Han era, » as the Pre-Han period was very famous for literature, especially the historical writing style of Sima Qian and Ban Gu (or Meng Jian).

After the main gate, there is the Pen Tower with three Chinese characters « Tả Thanh Thiên » (writing up to the blue sky) seen on its body. Then comes the gate with Dragon and Tiger plaques on either side, symbolizing two noble boards used to list the names of those who passed the imperial exams. Next is the third gate, often called the Inkstand Gate, where there is a high wall, an arched door, and a roof on which sits a green stone inkstand supported by three toads, shaped like half a peach, meant to honor the cultural heritage of the Vietnamese nation. Finally, there is the dark red painted bridge, known by the poetic name « Thê Húc » (the bridge that welcomes the morning sunlight), leading to the Ngoc Son Temple gate.

According to writer Hoàng Đạo Thúy in the book titled « People and Scenes of Hanoi, » when the sun rises, the shadow of the pen tower will touch the inkpot. The Thê Húc Bridge has a curved shape like an ancient rainbow bridge, with a deep red paint color that makes the bridge stand out more. Some people think it resembles a strip of peach silk draped over the blue-green water of Hoan Kiem Lake. Crossing the bridge leads to the gate of Ngoc Son Temple. This gate is called Đắc Nguyệt Lâu, consisting of two floors, with two round windows and two roofs on the second floor. The name is taken from an ancient poem: « Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, » (Near the water, the tower receives the moon first). There are also two paintings made from broken porcelain pieces; on the left is the Turtle God carrying the stele, and on the right is the Dragon Horse with the River Map, symbolizing the cultural origins of the Bach Viet people or the ancient Vietnamese.

Ngoc Son Temple was built in the shape of the character « Tam » (three). In front of the temple, there is a smaller architectural structure compared to the main communal houses in villages, called the Phương Đình. This is the Trấn Ba communal house, built by Nguyễn Văn Siêu between 1865 and 1866, located next to the water, implying that this Phương Đình stands firm like a pillar amidst cultural waves. Some believe it was meant to block the influx of foreign cultural waves at that time. Inside Ngoc Son Temple, there are two worship areas for Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn and Văn Xương Đế Quân (the deity in charge of literature and examinations). Additionally, there are altars for Amitabha Buddha, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, and others.

There is also the red horse of Quang Van Truong and the turtle of Ho Guom. Ngoc Son Temple is not only an ancient and dreamy architectural complex in the old quarter, visited by many foreign tourists, but also a place frequently visited by scholars during examination seasons. This place should not be missed when you have the chance to come to Hanoi.

[RETOUR]

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) dernière partie

pagode7

Dernière partie

 

D’autres moines étaient aussi célèbres que Vạn Hạnh sous la dysnatie des Lý. C’est le cas du moine Không Lô (1016-1094) qui résidait à la pagode Hà Trạch. Il fut connu aussi pour sa participation aux affaires de l’état en tant que Maître du Royaume (Quốc Sư) sous le règne du roi Lý Nhân Tôn. On lui attribue jusqu’à aujourd’hui l’invention de la fonderie vietnamienne. Il appartient à la fois aux écoles Vô Ngôn Thông et Thảo Đường. Sous la dynastie des Lý, la prééminence du bouddhisme favorisa indéniablement la construction d’un grand nombre de pagodes dont la plus célèbre était la pagode au pilier unique ( Chùa Một Côt ). Celle-ci fut restaurée plusieurs fois durant son existence. Selon le chercheur Hà Văn Tấn, il reste peu de pagodes gardant leur style architectural et sculptural datant des dynasties Lý et Trẩn. Cette même observation a été signalée par le roi Lê Thánh Tôn. Elle sera transcrite plus tard sur la face arrière du stèle de la pagode Chùa Đọi lors de son passage: Minh khấu hung tàn, tự dĩ canh ( Giặc Minh tàn bạo làm chùa thay đổ) ( La pagode était dans ce mauvais état à cause de la méchanceté des guerriers Ming).

Contrairement aux rois de la dynastie des Lý, les rois des Trần tentèrent d’unifier toutes les croyances religieuses et locales en une seule religion dominante sous l’égide de leur propre école religieuse Trúc Lâm (Forêt de Bambous). Celle-ci fut plus engagée politiquement que l’école dhyana en Chine. Selon le roi Trẩn Nhân Tôn, fondateur de l’école Trúc Lâm, le bouddhisme devait être au service de la vie sociale autant que de la vie religieuse (đời và đạo). C’est à travers lui que le bouddhisme Trúc Lâm montre sa voie et sa quintessence dans sa doctrine. Etant roi, il sait canaliser l’ardeur populaire et résister vaillamment à deux invasions mongoles avec son peuple. Etant père, il sait éduquer avec rigueur ses enfants, en particulier son fils Trần Thuyên, le futur roi Trần Anh Tôn. Quelques années plus tard (1298), il se retira dans un monastère à Yên Tử pour fonder avec deux autres moines la secte Trúc Lâm. Malgré son engagement au service de la nation et de la vie sociale, le bouddhisme dhyana Trúc Lâm connut de sérieux problèmes en tant que religion d’état. L’autorité du roi pouvait être sapée par les carences inhérentes au bouddhisme: compassion, générosité, amnistie, pardon, largesses accordées aux fondations bouddhiques etc …Un roi bouddhiste n’arrive pas à faire valoir les intérêts de l’état face aux préceptes du bouddhisme car il pourrait manquer à son devoir en accordant la grâce à son ennemi. C’est le cas du roi Lý Thánh Tôn que l’historien Lê Văn Hưu n’a pas hésisté à critiquer ouvertement dans son ouvrage Đại Việt Sử Ký (Mémoires historiques du Grand Việt) pour le pardon accordé au rebelle ennemi Nùng Trí Cao. Pour cet historien, l’ordre politique n’était plus de rigueur.

Parfois les largesses accordées par l’état aux pagodes au niveau des subventions financières et des dons de terrains faisaient de ces dernières de nouvelles institutions plus riches que l’état. Sous les Lý, les meurtres étaient punis de la même manière que les crimes ordinaires. Cela ne permet pas de distinguer le degré de la gravité de la punition mais il provoque au contraire le laxisme latent et le mépris du système judiciaire dans la mesure où le justiciable oublie de soupeser les actes qu’il a commis. En prétendant d’être gouvernés par un pouvoir supérieur, les moines se plaçaient seulement sous l’autorité de leurs supérieurs et se conformaient uniquement aux lois établies par le clergé bouddhique (ou vinaya). Ils étaient en dehors de la portée des lois impériales. C’est pour cette raison que les lettrés confucéens se mirent à montrer leurs préoccupations face au relâchement du système politique et judiciaire et au développement des troubles ruraux chroniques provoqués par les paysans (Nguyễn Bố, Phạm Sư Ôn par exemple ) et par l’offensive chame menée par Chế Bồng Nga sous le règne du roi Trần Dự Tôn (1342-1369). Le mandarin de cour Trương Hán Siêu, sous les règnes de Trần Anh Tôn et Trần Minh Tôn dénonça l’influence grandissante des institutions bouddhistes sur la population des campagnes. L’un des élèves brillants du lettré Chu Văn An, le confucianiste Lê Quát ne lésina pas sur les paroles pour dénoncer ouvertement la croyance bouddhiste de toutes les classes sociales. Le retour à l’ordre confucéen s’avéra nécessaire avec Hồ Qúi Ly, l’usurpateur des Trần. Celui-ci tenta de purifier la doctrine bouddhique en l’an 1396 et mit en place un contrôle plus sévère sur la structure du bouddhisme avec la nomination des laïcs dans la hiériarchie bouddhique. Les moines ayant moins d’une cinquantaine d’années furent obligés de retourner à la vie civile. L’occupation du Vietnam par les Ming (1407-1428) favorisa le renforcement du confucianisme et de la bureaucratie souhaité par leur politique d’assimilation. Le bouddhisme institutionnel perdit la protection de la cour et son influence politique sous les Lê. Le code de ces derniers témoigna incontestablement de la rigueur confucéenne sur les punitions pour rétablir non seulement la morale mais aussi l’autorité impériale.

Le bouddhisme vietnamien ne cessa pas de décliner sous les Nguyễn lorsque ces derniers s’alignèrent sur les Qing pour adopter un modèle bureaucratique chinois au début du XIXème siècle. Malgré cela, le bouddhisme continue à rester une religion populaire car outre ses préceptes (générosité, affabilité, compassion, méditation etc…), il s’adapte facilement aux mœurs, aux coutumes et aux croyances locales.  C’est cette tolérance qui fait de cette religion, au fil des siècles, une philosophie attrayante qui est facilement accessible à tous les Vietnamiens.

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) 6ème partie

pagode5

Sixième partie

Une fois l’indépendance retrouvée, le bouddhisme commença à trouver un écho favorable en la personne du roi Đinh Tiên Hoàng. Celui-ci nomma Ngô Chấn Lưu, disciple du moine Văn Phong de la pagode Khai Quốc (Hànội) en tant que Tăng Thống (Chef suprême du clergé bouddhiste). Il lui décerna le titre de Khuông Việt Đại Sư ( Grand Maître, soutien du pays Việt) pour sa participation aux affaires de l’état en tant que conseiller. Issu de l’école du moine chinois Vô Ngôn Không, Ngô Chấn Lưu fut réputé pour ses connaissances approfondies de la doctrine Dhyana (ou Thiền). Puis l’élan bouddhiste continua à s’affermir avec le grand roi Lê Đại Hành (ou Lê Hoàn). Ce dernier, lors d’une expédition au Champa en 985, réussit à ramener dans son pays un bonze indien (Thiên Trúc) qui était en train de séjourner dans le monastère de Đồng Dương.

C’est sous le règne de ce roi que les moines jouèrent un rôle important dans la vie politique vietnamienne car ils étaient les seuls détenteurs du savoir. C’est le cas du moine Ngô Chấn Lưu chargé par le roi Lê Đại Hành de recevoir une délégation diplomatique chinoise de la dynastie des Song (Tống triều) conduite par l’ambassadeur Li Jiao (ou Lý Giác). Celui-ci, de retour en Chine, fut accompagné par un morceau de chant lyrique (ou từ en vietnamien) rédigé par le moine Khuông Việt lui-même (ou Ngô Chấn Lưu). Outre les documents officiels, ce morceau ayant pour titre vietnamien Ngọc Lang Quy (ou Vương Lang Quy) devint ainsi la première oeuvre littéraire vietnamienne qu’on considère encore aujourd’hui comme un document précieux et important non seulement dans la relation sino-vietnamienne mais aussi dans la littérature vietnamienne. On n’oublie pas non plus l’échange verbal improvisé en sentences par le moine poète de nom Lạc Thuận, déguisé en sampanier avec Li Jiao. Frappé d’admiration, ce dernier n’hésita pas à adresser des compliments au roi Lê Đại Hành en le comparant à son roi dans un poème.

Selon ce qu’a rapporté Thiền Uyển Tập Anh (Floriflège du jardin du Thiền), avant sa disparition, Khuông Việt rédigea un poème intitulé « Le bois et le Feu » (Cây và Lửa) et destiné à enseigner le dhyana à son disciple éminent thiền sư Đa Bảo:

Trong cây sẵn có lửa
Có lửa lửa lại sinh
Nếu bảo ây không lửa
Cọ xát làm sao phát sinh?

Le bois contient en essence le feu
Et ce feu parfois renaît
Pourquoi dire qu’il n’y réside pas,
Si le feu jaillit quand on fore le bois.

Nguyễn Khắc Viện (Traduction)

Il se servit de ce kê (une sorte de stance bouddhique) pour laisser entendre que le bois désigne la personne et le feu, la nature du Bouddha (Phật tính) que la personne en question a toujours dans son coeur. Il évoqua ainsi le problème de la vie et de la mort en rappelant à son disciple de ne pas s’en inquiéter à cause du changement constant de la nature et en lui laissant le soin de trouver sa voie de l’éveil par l’amélioration de ses efforts individuels.

Le bouddhisme vietnamien trouva son âge d’or sous les dynasties Lý (1009-2225) et Trần (1226-1400) . Selon le chercheur Nguyễn Thế Anh, le Vietnam était essentiellement un pays bouddhiste sous ces deux dynasties comme c’était le cas du royaume theravàda d’Ayutthaya. Mais il y a quand même une dissemblance visible dans la mesure où ce royaume siamois continue à lire les textes bouddhiques en sankscrit et en pali et à considérer le salut comme la résultante des efforts accomplis par l’individu lui-même pour atteindre à la bouddhéité. Quant au bouddhisme vietnamien, il accepte d’emprunter non seulement le chinois classique pour lire ces textes bouddhiques mais aussi la voie collective dans le salut.

Avant d’être le fondateur de la dynastie des Lý, Lý Công Uẩn (974-1028) entama sa jeunesse dans la pagode Cổ Pháp où son père adoptif, le moine Khánh Vân le présenta, à l’âge de 7 ans, à un moine célèbre Vạn Hạnh de l’école Vinitaruci qui deviendra plus tard son conseiller éminent en matière de politique intérieure et de diplomatie. Il nous laissa avant sa mort un kê intitulé Thi Đệ Tử (Conseil aux disciples) :

Thân như bóng chớp có rồi không
cối xanh tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông

La vie de l’homme est un éclair sitôt né sitôt disparu
Verdoyant au printemps, l’arbre se dépouille à l’automne
Grandeur et décadence pourquoi s’en effrayer?
Epanouissement et déclin ne sont que des gouttes de rosée perlant sur un brin d’herbe
Nguyễn Khắc Viện


Hiérarchie religieuse dans la pagode

Les moines sont des « tăng » et les femmes des « ni » en vietnamien. Les petits novices sont appelés des « tiểu ». Au bout d’un certain temps de pratique dans la pagode, ils obtiennent le grade de sadi (ou sư bác). Le moine peut être élevé au rang de « ti-kheo » ou « đại đức » sur la proposition des autres religieux. Il pourra être promu « thượng tọa » après avoir entamé au moins 25 ans de pratique et un certain niveau de la connaissance du bouddhisme. Il sera hoà thượng s’il arrive à remplir les deux conditions suivantes: 40 ans au moins dans la religion et la possession indiscutable des vertus morales. Lire la suite (Tiếp theo)


 

Pagode (Chùa Chiền Việt Nam) 5ème partie

pagode5

Cinquième partie

Malgré son arrivée prématurée au Vietnam au début de l’ère chrétienne, le bouddhisme trouva seulement son plein essor et son épanouissement après l’indépendance de ce pays. Le bouddhisme vietnamien dont le courant est mahayaniste tient compte davantage du salut collectif que du salut individuel tandis que le bouddhisme theravàda considérait le salut comme le résultat des efforts accomplis par l’individu pour atteindre l’éveil et pour devenir un boddhisattva. Au commencement de son implantation, le bouddhisme ne rencontra aucune réticence de la part des Vietnamiens car il accepta facilement leur paganisme traditionnel. Les légendes Thích Quang Phật et Man Nương Phật Mẫu témoignèrent de la facilité d’agréger les croyances populaires au bouddhisme. De plus, cette religion importée de bonne heure fut sous l’influence indienne qui selon le chercheur Hà Văn Tấn, dura jusqu’au Vème siècle. Le gouverneur chinois Sĩ Nhiếp (177-266) était accompagné souvent en ville par des religieux venant de l’Inde (người Hồi) ou de l’Asie Centrale (Trung Á) à chaque sortie. À la fin du IIè siècle, fut établi à la citadelle Luy Lâu (Bắc Ninh), un premier centre bouddhique avec une vingtaine de pagodes. Beaucoup de religieux indiens et étrangers tels que Ksudra (Khâu Đà Là), Mahajivaca, Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian ne tardèrent pas y séjourner et y prêcher l’enseignement du Bouddha. Le nombre de moines étrangers fut si important que Giao Châu devint en quelques années plus tard le centre de traduction des sutras parmi lesquels figurait le fameux sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) traduit par le moine Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi) dans le courant du IIIè siècle. Il est aussi important de noter que dans une courte période de six ans (542-547), le roi Lý Nam Đế (Lý Bí) de la dynastie des Lý antérieurs réussit à libérer le Vietnam de la domination chinoise et ordonna la construction de la pagode Khai Quốc (Fondation de la Nation) qui devient aujourd’hui la pagode célèbre Trấn Quốc à Hànội. Le nouveau nom Trấn Quốc data du règne du roi Lê Hy Tông (1680-1705). Selon le moine Thích Nhất Hạnh, on a été porté à croire par erreur dans le passé que le moine indien Vinitaruci introdusit le bouddhisme dhyana vietnamien (Thiền) à la fin du VIè siècle. Lors de son passage à Luy Lâu en l’an 580, il résida dans le monastère Pháp Vân appartenant à l’école dhyana. C’est aussi à cette époque que le moine dhyana Quán Duyên était en train d’y enseigner le dhyana. D’autres moines vietnamiens furent allés en Chine pour enseigner le dhyana avant l’arrivée du fameux moine Bodhidharma reconnu comme le patriarche de l’école dhyana chinoise. Désormais, on sait que c’est au moine Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) le mérite d’introduire le bouddhisme dhyana au Vietnam.

Né à Giao Châu et issu d’une famille d’origine sogdiane, le moine Khương Tăng Hội n’est pas seulement le précurseur du bouddhisme dhyana vietnamien mais aussi l’un des premiers maîtres ayant enseigné le dhyana en Chine. Plusieurs sectes dhyana commencèrent à se développer et à prospérer à Giao Châu (Vietnam). Parmi celles-ci, il y a trois sectes importantes: Vinitaruci (Tì Ni Đa Lưu Chi), Vô Ngôn Thông et Thảo Đường. C’est avec Vinitaruci qu’on traite le sujet de la nature de l’éveil et qu’on trouve les méthodes de méditation visant à détruire les attachements mentaux. Il y a l’influence notable du bouddhisme tantrique (Mật Tông) dans cette école. C’est Vinitaruci qui a initié ses disciples à la notion du sceau de l’esprit (Tâm Ấn) d’origine tantrique. Cette école convient parfaitement à la mentalité de la masse populaire vietnamienne dans la mesure où la vie religieuse n’est pas séparée de la vie du peuple. Cette secte dura du VIè siècle jusqu’au XIIIè siècle. Les illustres moines ( La Qúi An, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Sùng Phạm, Đạo Hạnh, Minh Khộng) étaient issus de cette école.

La secte que le moine chinois Vô Ngôn Thông fonda au Vietnam en l’an 820 prêcha la doctrine de l’Eveil soudain(satori )( ou Giác Ngộ nhanh chóng en vietnamien ). Les disciples célèbres Khuông Việt, Thiền Lão, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Không Lộ, Thường Chiếu faisaient partie de cette école. Celle-ci ne put durer que 4 siècles (du IXè siècle jusqu’au XIIIè siècle).

Quant à l’école Thảo Đường, elle fut fondée en l’an 1069 par un maître illustre chinois de nom Thảo Đường, un prisonnier de guerre que le roi Lý Thánh Tôn avait réussi à capturer à Đông Dương lors d’une expédition militaire au Champa. Etant disciple d’un grand moine poète chinois de nom Siue-Teou, Thảo Đường prêcha un enseignement porté plutôt sur les aspects littéraires et intellectuels. Parmi les disciples célèbres de cette école, il y a le roi Lý Thánh Tôn, Bát Nhã, Ngộ Xá, Không Lộ, le roi Lý Cao Tôn etc.. Cette école fut de courte durée (de 1069 à 1205) mais cela n’empêcha pas de favoriser la synthèse bouddhéo-confucianiste et l’influence notable sur les deux autres écoles Vinitaruci et Vô Ngôn Thông dans les années à venir. Lire la suite (Tiếp theo)

 


Références bibliographiques

Histoire du bouddhisme vietnamien. Thích Nhất Hạnh. Ecole pratique des hautes études. Sciences historiques et philologiques. Annuaire 1974-1975. 1975 pp. 941-944

Le bouddhisme dans la pensée politique du Vietnam traditionnel. Nguyễn Thế Anh. BEFEO. Tome 89, 2002, pp 127-143

Chùa Việtnam. Hà Văn Tấn. Nhà Xuất Bãn Khoa Học Xã Hội. Hànội 1993

Mille ans de littérature vietnamienne. Une anthologie Nguyễn Khắc Viện. Hữu Ngọc. Edition Picquier poche. Janvier 2000