Thách thức (Le défi)


Version anglaise

Version française

Thách thức

Từ nầy không xa lạ đối với người dân Việt. Mặt khác, nó còn đồng nghĩa với sự kiên trì, kháng cự, khéo léo và đối đầu dành cho những người mảnh khảnh nầy mà chân lúc nào cũng chôn vùi dưới bùn ở các ruộng lúa kể từ buổi ban sơ. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ đã không ngừng chấp nhận mọi thách thức áp đặt bởi một thời tiết khắc nghiệt của một môi trường sống không bao giờ thuận lợi và một nước Trung Hoa mà họ vừa xem như là một người anh cả láng giềng mà cũng là kẻ thù truyền kiếp của họ. Đối với đế chế Trung Hoa nầy, họ lúc nào cũng có sự ngưỡng mộ đáng kinh ngạc nhưng đồng thời họ thể hiện sự kháng cự không thể tưởng tượng được vì lúc nào ở nơi họ cũng có sự quyết tâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc và những đặc thù văn hóa mà họ đã có từ 4 nghìn năm. Đế chế Trung Hoa đã cố gắng hán hóa bao lần Việt Nam suốt thời kỳ Bắc thuộc có đến nghìn năm nhưng chỉ thành công làm mờ nhạt đi một phần nào các đặc điểm của họ mà thôi và nhận thấy mỗi lần có cơ hội thuận lợi, họ không ngớt bày tỏ sự kháng cự và sự khác biệt hoàn toàn. Họ còn tìm cách đương đầu với người Trung Hoa trên lãnh vực văn hóa mà được nhắc lại qua những câu chuyện còn được kể lại cho đến ngày nay trong lịch sử văn học Việt Nam. Theo dao ngôn được truyền tụng trong dân gian, sau khi thành công chế ngự được cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng (Trưng Trắc Trưng Nhị) và chinh phục xứ Giao Chỉ (quê hương của người dân Việt), Phục Ba tướng quân Mã Viện của nhà Đông Hán truyền lệnh dựng cột đồng cao nhiều thước ở biên thùy Trung-Việt vào năm 43 và có được ghi chép trên cái bảng treo như sau:

Ðồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt
Ðồng trụ ngã, Giao Chỉ bị diệt.

Để tránh sư sụp đổ của đồng trụ, người dân Việt cùng nhau vun đấp bằng cách mỗi lần đi ngang qua mỗi người vứt bỏ đi một cục đất nho nhỏ khiến đồng trụ huyền thoại nầy biến mất dần dần theo ngày tháng để trở thành một gò đất. Cố tình trêu nghẹo và mĩa mai trên sự sợ hải và nổi kinh hoàng mất nước của người dân Việt, vua nhà Minh Sùng Trinh ngạo mạng đến nỗi không ngần ngại cho cận thần ra câu đối như sau với sứ thần Việt Nam Giang Văn Minh (1582-1639) trong buổi tiếp tân:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Cột đồng đến giờ đã xanh vì rêu.

để nhắc nhở lại sự nổi dậy của hai bà Trưng bị quân Tàu tiêu diệt.
Không lay chuyển trước thái độ lố bịch nầy, sứ thần Giang Văn Minh trả lời một cách thông suốt lạ thường nhất là với lòng quyết tâm cứng cỏi:

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Sông Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu

để nhắc nhở lại với vua nhà Minh những chiến công hiển hách của người dân Việt trên sông Bạch Đằng.
Không phải lần đầu có cuộc thi văn học giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ở thời đại của vua Lê Đại Hành (nhà Tiền Lê), nhà sư Lạc Thuận có cơ hội làm cho sứ giã nhà Tống Lý Gi ác tr ầm trồ ngư ỡng mộ bằng cách giã dạng làm người lái đò tiển đưa Lý Giác sang sông. Khi Lý Giác khám phá ra được hai con ngỗng đang đùa cợt trên đỉnh sóng và ngâm hai câu thơ đầu của bài tứ tuyệt như sau:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngữa mặt nhìn trời xanh

thì Lạc Thuận không ngần ngại đối lại qua hai câu thơ cuối như sau:

Nước biếc phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh khua

Trong bốn câu thơ nầy, người ta nhận thấy không những có sự ứng khẩu nhanh chóng của sư Lạc Thuận mà còn có cả sự tài tình của ông trong việc dàn dựng song song những thuật ngữ và ý kiến tương đồng trong bài tứ tuyệt nầy.

Hình ảnh nhà thờ Giang Văn Minh và văn miếu

defi

Nhưng nói công lao trong việc đối đầu thì phải dành dĩ nhiên cho học giả Mạc Đĩnh Chi vì ông nầy trong thời gian ở Trung Quốc, đã thể thể hiện được khả năng chống cự mà còn có tài năng vô song để biết đối đáp lại một cách khéo léo tất cả mọi câu hỏi và tránh được mọi cạm bẫy. Ông được gửi đi sang Tàu vào năm 1314 bởi vua Trần Anh Tôn sau khi vua đánh bại quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt với tướng Trần Hưng Đạo. Do sự chậm trể vô tình, ông không có đến trình diện đúng giờ trước cổng thành ở biên giới Trung-Việt. Ông quan giữ cỗng thành chịu mở cửa nếu ông trả lời được một cách thích hợp câu hỏi mà người quan nầy đưa ra mà trong câu hỏi đó gồm có bốn chữ “quan”:

Quá quan trì, quan quan bế,
nguyện quá khách quá quan
Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng,
mời khách qua đường qua cửa quan.

Không có chút nào nao núng cả trước sự thách thức văn học, ông trả lời ngay cho quan cổng với sự tự nhiên đáng kinh ngạc:
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

Ra câu đối dễ, đối câu đối khó
xin tiên sinh đối trước.

Trong lời đối đáp nầy, ông dùng chữ “đối” cũng 4 lần như chữ “quan” và nó được dựng lên ở vị trí của chữ “quan”. Mạc Đỉnh Chi còn điêu luyện biết giữ vần và những luật lệ âm điệu trong thơ để cho quan cổng biết là ông ở trong hoàn cảnh khó xữ với đoàn tùy tùng. Quan cổng rất hài lòng vô cùng. Ông nầy không ngần ngại mở cổng và đón tiếp Mạc Đỉnh Chi một cách linh đình. Chuyện nầy được báo cáo lên triều đình Bắc Kinh và làm nô nức biết bao nhiêu quan lại văn học Trung Hoa muốn đo tài cao thấp với ông trong lĩnh vực văn chương. Một ngày nọ, tại thủ đô Bắc Kinh, ông đang đi dạo với con lừa. Con nầy đi không đủ nhanh khiến làm một người Trung Hoa khó chịu đang theo sát ông trên đường. Quá cáu bởi sự chậm chạp này, quan lại nầy quay đầu nói lại với ông ta với một giọng kiêu ngạo và khinh bỉ:

Xúc ngã ky mã, đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?
Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Ðông hay là người rợ phương Tây?

Ông quan lại lấy cảm hứng từ những gì ông đã học được trong cuốn sách Mạnh Tử để mô tả người những người man rợ không có cùng văn hóa với đế chế Trung Hoa bằng cách sử dụng hai từ  » đông di « . Ngạc nhiên trước lời nhận xét tổn thương này khi ông biết rằng Trung Hoa bị cai trị vào thời điểm đó bởi các bộ lạc du mục (người Mông Cổ), Mạc Đỉnh Chi mới trả lời lại với sự hóm hỉnh đen tối của mình:

Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư
Ngăn lừa ta cưởi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương Bắc mạnh?

Một hôm, hoàng đế nhà Nguyên đã không ngần ngại ca ngợi sức mạnh của mình ví nó với mặt trời và làm cho Mạc Đỉnh Chi biết rằng Việt Nam chỉ được so sánh với mặt trăng, sẽ bị hủy diệt và thống trị sớm bởi người Mông Cổ. Điềm nhiên, Mạc Đỉnh Chi trả lời một cách kiên quyết và can đảm:

Nguyệt cung, kim đạn, hoàng hôn xa lạc kim
Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.

Hoàng đế Kubilai Khan (Nguyễn Thê ‘Tổ) phải công nhận tài năng của ông và trao cho ông danh hiệu « Trạng Nguyên đầu tiên » (Lưỡng Quốc Trạng Nguyên) ở cả Trung Hoa và Việt Nam, khiến một số quan lại ganh tị. Một trong số người nầy cố tình làm bẽ mặt ông ta vào một buổi sáng đẹp trời bằng cách ví ông ta như một con chim bởi vì âm điệu đơn âm của ngôn ngữ, người dân Việt khi họ nói cho cảm giác người nghe như họ luôn luôn hót líu lo:

Quích tập chi đầu đàm Lỗ luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri
Chim đậu cành đọc sách Lỗ luận: biết thì báo là biết, chẳng biết thì báo chẳng biết, ấy là biết đó.

Đây là một cách để khuyên Mạc Ðỉnh Chi nên khiêm tốn hơn và cư xử như một người đàn ông có phẩm chất Nho giáo (Junzi). Mạc Đỉnh Chi trả lời bằng cách ví anh nầy như một con ếch. Người Trung Hoa thường có thói nói to  và tóp tép lưỡi  qua tư cách họ uống rượu.

Oa minh trì thượng đọc Châu Thư: lạc dữ đọc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc.
Châu chuộc trên ao đọc sách Châu Thu: cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn.

Đó là một cách để nói lại với người quan lại nầy nên có một tâm trí lành mạnh để hành xử một cách công bằng và phân biệt nghiêm chỉnh.
Tuy rằng có sự đối đầu trong văn học, Mạc Đỉnh Chi rất nổi tiếng ở Trung Quốc. Ông được Hoàng đế của nhà Nguyên ủy nhiệm việc sáng tác bài văn tế để vinh danh sự qua đời của một công chúa Mông Cổ. Nhờ sự tôn trọng truyền thống của Trung Hoa dành cho những người tài năng Việt Nam, đặc biệt là các học giả có tài trí thông minh nhanh chóng và học hỏi mau lẹ mà Nguyễn Trãi đã được cứu bởi đại quản gia Hoàng Phúc. Trong tầm mắt của tướng Tàu Trương Phụ, Nguyễn Trãi là người phải giết, một người rất nguy hiễm cho chính sách bành trướng của Trung Hoa ở Việt Nam. Ông bị giam giữ bởi Trương Phụ trong thời gian ở Ðồng Quang (tên xưa của Hànội) trước khi ông theo Lê Lợi về sau ở Lam Sơn. Không có cử chỉ hào hiệp và bảo vệ của hoạn quan Hoàng Phúc, Lê Lợi không thể trục khỏi quân nhà Minh ra khỏi Việt Nam vì Nguyễn Trãi là cố vấn quan trọng và chiến lược gia nổi tiếng mà Lê Lợi cần dựa vào để lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích trong thời gian mười năm đấu tranh chống lại Trung Quốc.

Cuộc đối đầu văn học này phai nhạt dần dần với sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam và chấm dứt vĩnh viễn khi vua Khải Định quyết định chấm dứt hệ thống cuộc thi quan lại ở Việt Nam theo mô hình của người Trung Quốc dựa chủ yếu vào tứ thư Ngũ Kinh của Đức Khổng Tử.

Cuộc thi quan lại cuối cùng được tổ chức tại Huế vào năm 1918. Một hệ thống tuyển dụng kiểu Pháp khác đã được đề xuất trong thời kỳ thuộc địa. Do đó, Việt Nam không còn cơ hội để đối đầu văn học với Trung Quốc nửa và biểu hiện được sự khác biệt cũng như sự phản kháng trí tuệ và các đặc thù văn hóa.

Buffalo (Con trâu)

 

Version française
Galerie des photos

As Vietnam is an agricultural country, the buffalo is always regarded as a familiar animal for the Vietnamese people, in particular the peasants. The image of the buffalo is closely tied to the rural landscape of Vietnam. Like many other countries in the world, Vietnam has legends among which there is one concerning the buffalo.

Once upon a time, to help the Vietnamese peasants, God was assigned an angel to descend in Viet-Nam with two bags, one filled with cereal seeds to feed people and the other with grass seeds for the cattle. The angel was advised to sow the cereals seeds first, and grass seeds next. Being so absent minded, he forgot the recommendation by doing the opposite: grass seeds first, and cereal seeds next. That is why Viet-Nam was covered with so much grass and forests that the peasants had to make a complaint which echoed to Heaven. Furious, God condemned the angel to exile by turning him into a buffalo and sent him to Viet-Nam. That is why the buffalo was compelled to spend all day long munching grass and pulling the plough to pay for his errors.

The buffalo is a very useful animal in agricultural countries, in particular Vietnam where farming technologies are not very developed. In certain countries, if the dog is the best friend of man, then in Vietnam the buffalo is an inseparable companion of the farmer. Without this animal, the latter will be deprived of everything because it is the buffalo that helps the peasant to till the land everyday, to cart the burdens, to replace him in tiring and ungrateful tasks. This ruminant is also the animal that mountain and highland dwellers sacrifice when it comes to asking God for blessing harvest.

The buffalo is the Vietnamese peasants’ benefactor. This is why it is generally quoted in folk songs and proverbs. It is one of enriching subjects in the Vietnamese poetry. For the peasant, the buffalo forms part of his heritage. That is why the saying:

Ruộng sâu, trâu nái

The deep rice field, the standard buffalo

indicates a well to do person in the village.

Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc đo’ trong là khó thay.

Purchasing a buffalo, looking for a wife, and building a home
Among these three jobs, none of them seems to be easy.

As it is the case of fish farming, the breeding of buffaloes is a mean to get rich quick. That is why it is customary to quote in folk songs the following words:

Muốn giàu thì nuôi trâu cái,
Muốn lụn bại thì nuôi bồ câu.

Want to become rich, buy female buffaloes.
Want to be in debts, breed pigeons.

To designate the buffalo, we usually use the word “ngưu (牛)” but this turns out to be incorrect. According to Vietnamese researcher Lại Nguyên Ân, This is a mistake that we should know about. The buffalo lives only in tropical regions. The buffalo is not found in northern China. It seems that this mammal only existed in Kouang Tong and Kouang Si when the Bai Yue territory was annexed by the Han. In ancient Chinese texts written by the Northern Chinese, the word “ngưu” is used to refer to an ox. As for the buffalo, in the Chinese dictionary it is referred to as “thủy ngưu (水牛)” because it is an ox that can swim well in water. That’s a fact worth knowing.

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cầy cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

O my buffalo, listen to what I tell you
You go to the rice field and plough with me;
Ploughing and transplanting is a ploughman’s trade
Here I am, here you are, who of us pities his pain.

or

Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
Chồng bừa vợ cấy con trâu đi cày.

In the high and low rice fields,
The husband harrows, the wife transplants, the buffalo ploughs.

In the morning, the buffalo can be seen early in the rice field. In the evening, it is brought back to the hamlet by the herdsman after a hard day’s work. Vietnamese have occasion to recall the picture of rustic life in the countryside described by the famous poetess Huyện Thanh Quan (the sub-prefect of Thanh Quan (or Thái Bình of today)) in her poem entitled “Twilight Landscape (Cảnh chiều hôm)”:

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gỏ sừng mục tử lại cô thôn……

Evening brings back the shadows of twilight under a pale sky;
The sound of the watchmen’s trumpets can be heard in the distance, answering the tam-tam of the guard post;
The old fisherman lays down his oar to return to his distant station;
The young herdsman beats his buffalo’s horns to return to his lonely hamlet….

In the history of Viet Nam, there are two illustrious characters who took on the role of herdsmen when they were young. Because of poverty, they were forced to spend their days herding buffalo despite being well educated. The first was Đinh Bộ Lĩnh. He had the merit of subduing the rebellions of the twelve local lords and unifying the country. He thus became the first emperor of an independent Vietnam after a thousand years of Chinese domination. The second was Đao Duy Từ. At one time, he fled to the south (Đàng Trong) to look after a herd of buffalo belonging to a wealthy man in the Tùng Châu region. Knowing that Đao Duy Từ was no ordinary character, this wealthy man recommended him to Trần Đức Hoà, the eminent advisor to Lord Nguyễn Phúc Nguyên. Finding in him the qualities of an educated and talented man, Trần Đức Hoà gave him his daughter in marriage and introduced him to the Nguyễn lord, Nguyễn Phúc Nguyên (or bonze lord). It was on his recommendation that the latter succeeded in building two fortresses “Trường Dục” and “Định Bắc Trường thành” along the river Nhật Lê we’re accustomed to calling “the Master’s fortress” at Đồng Hới (Quảng Bình) to withstand assaults from the armies of Lord Trịnh. He was the deserving mandarin of the Nguyễn dynasty and was still regarded by lord Nguyễn Phúc Nguyên as his “Venerated Master”.

In short, one finds through the image of the buffalo most of the image of Viet-Nam, our country. For the overseas Vietnamese, to find the buffalo is to find Vietnam. This animal, along with the bamboo, is one of the representative symbols of Viet-Nam.

The buffalo reflects at the same time the tender way of life and the unshakable resistance of the Vietnamese people.

Pictures gallery

[Return RELIGION]

Hoa Sen (Lotus)

lotus

English version

Version française
 

Không có cây thủy sinh nào được người Việt  ngưỡng mộ và  qúi  trọng bằng cây hay hoa sen. Ngoài biểu tượng của Phật Giáo, Sen còn đồng nghĩa với  sự tinh khiết ,  thanh thản và vẻ đẹp nữa. Nó còn khác biệt hơn những cây thủy sinh khác không những   nhờ  vẻ đẹp đơn sơ thanh nhã của hoa mà còn được nhắc nhở  nói đến rất nhiều  trong phong phú  truyền thống ở Á Châu nhất là ở Việt Nam. Nơi nầy,  Sen được liệt kê  vào  4 cây cao qúy nhất đó là  mai , liên , cúc và  trúc  biểu tượng  cho bốn mùa ( tứ thì) đấy. 

Nhìn lại trong nghệ thuật của người Việt, phong cảnh thường đựợc  dàn dựng  theo một sơ đồ bất di bất dịch  và cổ điển mà  thường  có sự xác định cần  thiết để trước  những yếu tố  nào, nhất là các nhân vật  trong cảnh tượng. Cho nên thường thấy một tương quan nghệ thuật độc đáo, một kết hợp bền vững giữa một loại cây và một loại vật  trong các bức tranh nho nhỏ của người Việt. Vì vậy thường thấy   sen  liên kết  với vịt (Liên Áp). Ít khi thấy sen liên kết với con vật  nào khác chỉ trừ khi nào tác giả không còn  tôn trọng những quy ước cổ điển nữa.    Với hoa , sen thường được người Việt gọi    là Hoa Sen hay là Liên Hoa.   Sen nó thuộc họ  Nymphéacées và có tên khoa học là   Nelumbo Nucifera hay là  Nelumbium Speciosum.  Nơi nào ở Việt Nam cũng tìm thấy Sen cả (  đầm, ao bùn,  vườn công cộng, đình vân vân…). Sự hiện diện của nó  ở chùa hay ở đền  làm giảm  đi nhuệ khí sân si dục vọng  của các tu sĩ và làm người khách cảm thấy lòng lân lân thả  hồn về cõi hư vô,  ấy cũng nhờ mùi    hương thơm nhẹ nhàng của  hoa sen. Nó sống rất   dễ dàng    và  thích nghi ở mọi môi trường.   Nó còn  sinh sôi nảy nở với cuộc sống dưới nước  bằng cách chọn lọc đi tất cả nước  đọng    ô uế mà nó  xâm nhập . Vì vậy  thường ví  nó  như   người có đức tính trong đạo Khổng (junzi)(quân tử).   Người nầy, dù ở môi trường nào đi nữa  vẫn không thay đổi  bản  chất  thanh cao  trong cuộc sống, vẫn giữ  đựợc sự  thuần khiết    giữa chốn đầy dẫy tham nhũng.  Người nầy cũng không để bị lôi cuốn  cám dỗ bởi  những tật xấu của xã hội cũng như sen không bi mùi hôi thúi ờ chốn bùn nhờ mùi hương thơm của hoa.  Bởi vậy trong  thơ ca của người Việt có môt bài đề cao đức tính của người quân tử dựa trên hình ảnh của cây Sen:    

Ðố ai mà ví như sen?
Chung quanh cành trắng, giữa chen nhị vàng
Nhị vàng cành trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

 

 

Để ca ngợi đức tính nầy của người quân tử hay của Sen, người ta thường nói : Cư trần bất nhiễm trần. Sen có nhiều đức tính khác nên lúc nào cũng được đứng đầu trong các loại cây qúi trọng của người dân Việt và Trung Hoa. Chính Sen đem lai nguồn  cảm  hứng cho các tu sĩ của một phái thiền Phật giáo Trung Hoa tên là « Pháp Hoa Tông »  dưới đời nhà Đường.  Dựa trên lý thuyết  của kinh   « Diệu Pháp Liên Hoa » , dòng nầy chỉ lấy đức tính của Sen để tu luyện.  Trong phái nầy, thời đó có nhiều hòa thượng thi sĩ nổi tiếng như Phong Cang và Thập Đắc không thua chi  Lý Thái Bạch (1)  và  Bạch Cư Dị (2) .  Trụ sở của phái nầy là chùa Hàn Sơn nằm ở vùng lân cận của thành phố Cô Tô  (Hàng Châu) chỉ chuyên trồng Sen trong các hồ.  Phái nầy  họ nghĩ rằng muốn đựợc an lạc trong tâm hồn và tránh đi sự luân hồi và  dục vọng thèm muốn thì cần áp dụng  lý thuyết  « Diệu Pháp Liên Hoa » dựa trên các đức tính của Sen như sau:

vô ưu : mùi thơm của hoa sen khi có dịp ngử nó vào thì sẻ thấy  sự thanh thản và yên tĩnh.  Theo các người xưa, Sen còn là một loại cây chóng tăng dục cũng như rau diếp.

tùy thuận: Sen có thể sống  ở bất cứ nơi nào luôn cả những nơi khô cạn cằn cỗi.

tỏa mùi thơm: (Cư trần bất nhiễm trần) Dù nơi nào có hôi thúi , Sen cũng vẫn lấn áp  thay thế bẳng mùi hương thơm của nó,  có thể  tăng trưởng tuỳ theo cường  độ của ánh sáng trong ngày.

vô cấu: trên cơ sở sinh sản. Sen có một cơ  chế cá   biệt cho   việc sinh sản thực vật. Không có sự thành hình của giao tử như các loại hoa khác. Hoa sen không những  xuất sắc về kích thước mà còn về trạng thái  dày và vàng sáp của các cánh hoa và nhất là  hương thơm của nó có thể  tăng trưởng thay đổi trong ngày. Hoa sen chỉ sống được 4 ngày. Người Nhật diển tã sự chớm nở của hoa sen như sau: ngày đầu  hoa sen có hình dáng của chai saké, ngày thứ nhì  bằng chén saké, ngày  thứ ba bẳng chén súp và ngaỳ thứ tư thì thành  cái đĩa. Dần dần quả của nó tựu hình, tựa như cái côn lật ngửa mà thường gọi là gương sen. Trên mặt bằng phẳng nầy  thì có chừng hai chục trũng chứa  những hạt nhận. Rồi sau đó   khi quả nó chín, nó tách rời cuống, nổi lềnh bềnh   và tan rã một  khi gương sen  đụng chạm với mặt nước qua ngày tháng.  Nhờ vậy các hạt nhân nó theo dòng  nước mà trôi xa hơn nơi  mà Sen nảy nở. Những hạt sen nầy  nặng hơn nước nên  chìm lún vào đất và đâm chồi mọc rễ. Hoa sen khi tượng hình đã có hạt từ trong mầm non. Bởi vậy ngưởi Việt thường nói « nhân quả đồng hành » khi nhắc đến Sen đấy. Đức Phật cũng thường dùng hoa Sen, để nói đến những người thoát khỏi ái tình và dục vọng  vì chính ái dục là nguồn gốc của mọi tội lỗi khổ đau (duhkha) và luân hồi sinh tử.

Để ca tụng đức tính của Sen qua những lời giảng dạy của Đức Phật (3), thiền sư Minh Lương thuộc phái Lâm Tế có làm một bài kệ như sau:

Ngọc quí ẩn trong đá
Hoa Sen mọc từ bùn
Nên chỗ biết sanh tử
Ngộ vốn thiệt bồ đề

 Sen được trông thấy nhiều trong nghệ thuật của người Việt, nhất là ở trong kiến trúc của Phật giáo.   Để nhận dạng cây sen  mô típ trong kỹ thuật trang trí thường có 8 cánh hoa chỉ định 8 hướng chủ yếu và biểu hiện lại đồ hình Mandala, một dạng hình học và biểu tượng của vũ tru Phật giáo. Còn trong ngành  y dược Việtnam thì hạt sen dùng để trị bệnh tiêu chảy, kiết lỵ và mộng tinh. Các hạt sen khi ăn nhiều và ăn sống,  thường   được xem như thuốc chữa bệnh mất ngủ. Người dùng sẻ ngủ trong giây lát nếu ăn luôn cái mầm xanh ở giữa hạt sen. Thưở xưa, ở Việtnam, các cậu trai muốn tỏ tình yêu thương các cô gái thường tặng hoa sen. Trong các lễ truyền thống của người Việt  nhất là những ngày Tết , không bao giờ có thể thiếu được  mứt hạt  sen và trà ướp sen cả.  Còn ẩm thưc  thì những người  sành điệu ăn uống ai cũng biết món gỏi ngó sen.

Đất nước Việt Nam đã bị  chìm đắm triền miên trong  chiến tranh, tham nhũng và bất công. Người Việt yêu chuộng hòa bình, công bằng và tự do lúc nào cũng nuôi hy vọng không ngừng,  sẻ có một ngày đất nước  được có lại sự thanh thản, huy hoàng và kính nể cũng như hình ảnh của cây Sen. Trong bải thơ tựa đề  « Hoa Sen », vua Lê Thánh Tôn   ngư trị một thời  hoàng kim mà Việt Nam lúc đó đang ở trên đỉnh cao của vinh quang, không ngớt lời khen ngợi vẻ đẹp  duyên dáng của Sen:

Nỏn nà sắc nước nhờ duyên nước
Ngào ngạt hương thơm nức dặm Trời ..

[Return FLEURS DU MONDE]


  • (1) Lý Bạch, một trong những thi sĩ danh tiếng nhất dưới thời của vua Đuờng Huyền Tông  (701-762).
  • (2) Thi sĩ lỗi lạc đời nhà Đường (772-846)
  • (3) Siddhârta Gautama (Cồ Ðàm Tất Ðạt Ða).

 

Sampan (Con Đò)

Vietnamese version
French version

As Vietnam is a water country, it is not surprising to see the proliferation and large variety of boats used by the Vietnamese in their transport by water: from the lightest and smallest to the largest ones found until then only in the neighbouring countries like China or Indonesia. One finds in the construction of these vietnamese boats a notable foreign influence, chinese in the North and indonesian or even western indian in the South of Vietnam. This influence is more perceptible in the Center of Vietnam that has been occupied until the XIIIth century by the Vikings of Asia, the Chàms whose civilization has disappeared in the wirlwind of history by the secular march of the>Vietnamese towards the South.

In spite of that, the Vietnamese showing an acute sense of observation and of living experience due to the incessant coming and going of typhoons on the vietnamese coast, know to harmoniously combine the data of these different foreign techniques to construct boats often more handy than the chinese, malayan or indian models, as has noticed P. Paris in his work entitled « Search of relationship to four Indochise boats, BIIEH, 1946 ».

Because of the harshness of nature and of the quasi permanent fight against their chinese neighbors, the Vietnamese centered their efforts in the conquest of the rice plains. Locked up in the isolationism adopted by the Far East and comforted by the quasi permanent presence of the foreign boats in their ports ( Faifo, Tourane, Saigon etc), the Vietnamese do not see any interest to privilege the maritime transport although they are regarded as the most skilful sailors of the Far East. The Chinese recognized their superiority on water. A high chinese mandarin, Bao Chi, noted this in his confidential report submitted to the emperor of Song. The majority of the Vietnamese victories against the chinese neighbors took place on water. The Vietnamese are accustomed to using boats as means of transport for food or troops, as the abbot Prévost revealed in his  » History of the Voyages  » from 1751 while relying upon the description of Samuel Baron published in 1732.

The Vietnamese navy knew its apogee only in the first half of the XIXth century. It is the period when the emperor Gia Long assisted by his French lieutenants Jean-Baptiste Chaigneau ( Nguyễn Văn Thắng ), Philippe Vannier ( Nguyễn Văn Chấn ) etc. succeeds in defeating the army of Tây Sơn at Qui Nhơn with his royal navy made up of a hundred or so large galleys of 50 to 70 oars with guns and stone drains and of three european style vessels ( the Phoenix ( tàu Phụng ), the Eagle and the Flying Dragon ( tàu Long ). These last ones were built with such skill and remained no more than three months on the building site, as has noted father Lelabousse in his report dated at Nha Trang, the 24th of April 1800.

To request his investiture with the chinese emperor, in 1802, Gia Long sent the great poet Trinh Hoài Ðức (1), the first vietnamese delegate to travel by sea to Peking. Unfortunately, this apogee was only of short duration because his successors, surrounded by confuciasnist mandarins and entangled in the obscurantism, continued to adopt a policy of exacerbated isolationism in spite of the memorandum of the modernistic scholar Nguyễn Trường Tộ, which made it possible for the french navy to succeed in dropping anchor a few decades later in the vietnamese waters after having sunk in the port of Tourane ( Danang ) the first five armored junks of the vietnamese fleet on April 15, 1847.

Although the Vietnamese neglect the maritime transport, paradoxically they do not haggle the means of manufacturing a large variety of boats to facilitate their daily displacement because Vietnam has, in addition to the second mangrove of the world (the forest U – Minh 1000km2) after that of Brazil in the peninsula of Cà Mau, thousands of small rivers, affluents and distributaries, streams and rivers (Red River, Mekong River ).

Moreover, the vietnamese road network is quasi non-existent. The vietnamese boats are divided into two categories: those manufactured with bamboo plates coated in lacquer (thuyền nan) and those carved from tree trunks or made with wooden plates ( thuyền gỗ). With regard to the first category, if the boat is of a small size, it is often called in Vietnamese (thuyền câu). It is a small boat where only one person can be placed. If the light boat is of a round shape, it is called  » thuyền thúng  » and is frequently used by the fishermen of the Center of Vietnam.

This tight round basket existed in the Xth century. Dương Vân Nga, a girl from Hoa Lư, was known at that time to excel in the art of rowing with this floating basket. But on the day of competition, Ðinh Bộ Lĩnh, the leader of a rival band of boys, succeeded in immobilizing her floating basket by perforating it with the means of a pole.

This victory enabled him to win not only the admiration but also the love of Duong Vân Nga. This floating basket allowed the fast transport of the troops through the marshes and the rivers and ensured the couple Dương Vân Nga and Đinh Bô. Lĩnh the victory over the Chinese a few years later. As for the second category, the basic constitution is made with wood. There is a multitude of different boats but the most known and the most used by the Vietnamese is the sampan or the boat with three boards (Thuyền tam bản). It is that which is employed to cross the streams or the rivers. The majority of the people who advance the sampans are young girls.

This is why there are many stories of love born of these boats. One continues to tell them, in particular the story of emperor Thành Thái with the oarswoman. If a Vietnamese man was used to crossing the river in his youth, this could probably incite in him intense regrets, memories and emotions when he has the occasion to return to the river bank to take the vat. He feels more or less distressed when he learns that the oarswoman, the girl whom he continues to pity the fate and whom he is not far from falling in love with is no longer there. Probably, she is now the mother of a family or she has joined another world but she is no longer there to welcome him with her charming and ingenuous smile. He is not long to recall that he no longer has the occasion to hear her refrain, or to see the sides of her worn tunic flying in the wind of the river during the crossing. It is in this unusual context that he feels an indescribable affliction. He regrets missing so many occasions to find his dock, his river, his native land and to leave for too long in the lapse of memory the eternal charm of the sampan, that of a Viet-Nam bygone .

The film director Ðặng Nhật Minh, most known currently in Vietnam, does not hesitate to show the opposite case, the discrete love of the young boatwoman living on the River of the Perfumes, to the foreign and vietnamese public through his film.

The girl from the river ( Cô gái trên sông ) 1987

It is the story of its heroine Nguyệt who, to the peril of her life, does not hesitate to save a wounded young man known for his subversive activities by the south vietnamese police during the war. She tries to hide him in her sampan. Once peace is returned, this young man becomes an important communist cadre. The girl tries to find him because she continues to harbor deep feelings for this man. Unfortunately, she feels afflicted and betrayed because this man pretends not to know her and does not like to recollect the troubling periods of his life… She tries to remake her life with her former lover Sơn whom she rejected a few years earlier and who had the occasion to spend a few years in the reeducation camp for having the offence of being enlisted in the south vietnamese army.

In spite of the few things in their constitution, the boats, in particular, the sampans (đò ngang ) continue to charm the Vietnamese. They do not hésitate to integrate them not only in their everyday life but also in the songs and the poems. The songs  » Con Thuyền Không Bến  » ( The sampan without dock ) from the composer Ðặng Thế Phong and Ðò Chiều ( the sampan of the Evening ) from Trúc Phương going back to several decades and several generations continue to be appreciated and show at such point the profound attachment of all the Vietnamese to their rudimentary boats.

As for the poems describing them, there is only the Vietnamese having the occasion to take the vat who manages to appreciate the finesse and the beauty found in the verses because one perhaps rediscovers through these poems a fragment of one’s life so animated and so closely hidden in one’s memory with more emotions and sadness than joy and happiness. By reading the following verses,

Trăm năm đã lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa

Our rendezvous did not take place a long time ago
The banian and the dock are always the same but the sampan has changed owner.

The reader could realize that he is also caught up as so many other Vietnamese by memories that he thinks of erasing from his memory with the passing of the years. He cannot continue to sadden himself as that could be made when one was young and in love through the two following verses:

Tương tư thuyền nhớ’ sông dài
Tương tư là có hai người nhớ’ nhau

It is no longer worth seeing each other again
It is best to leave definitively when one loves intensely

But one should have the courage to forget when the sampan is no longer there as that was said in the following four verses:

Vô duyên đã lỗi hẹn hò
Mong làm chi nữa con đò sang sông
Thôi đành chẳng gặp là xong
Nhớ thương bền chặt bền lòng ra đi

One misses the chance to be at the rendezvous
One no longer hopes when the sampan has already left
It is no longer worth seeing each other again
It is best to leave definitively when one loves intensely

What becomes of her at this moment? Is she dead or happy? Does she deserve the life she leads? Is she like the young boatwoman, sister Tham who saved many people from drowning and who died drowning without anybody rescuing her in the story « Chảy đi sông ơi ( Run, my river, 1988 )  » of the talented writer Nguyễn Huy Thiệp? Is she like the young boatwoman Duyên who continues to hum a lullaby for her child:

Nước chảy đôi giòng …
…Con sông Thương …nước chảy đôi giòng …

One can go up or descend the current… of the river Love…
one can go up or descend the current..

and never asking questions about the life that was layed out for her just like the river that follows its course to the sea in the short story  » Nước Chảy Ðôi giòng ( At counter-current, 1932 ) from Nhất Linh?. These are the questions that the reader overcomed by memories continues to ask intimately. It is also the deep sadness, the poignant pain of the one who no longer has the occasion to find the freshness of his youth through the sampan and its dock which he was accustomed to take at a distant time. He had thought that with time this could erase all the memories as the water of the river evoked in the song with a strange sadness which sister Thắm likes to sing on the bank in the story  » Chảy đi sông ơi ( Run, my river, 1988 )  » from Nguyễn Huy Thiệp:

Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì ?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi ? …

Run my river
Why be tormented?
The river erases all
Even memories of the heroes…

Chuyện Tình Buồn ( The story of sad love ) of Phạm Duy


(1) Author of two works Bắc sứ Thi Tập ( Collection of poems written during a mission in China ) and Cấn Trai Thi Tập ( Collection of poems from Cấn Trai ).

 

Nguyễn Huy Thiệp (Version anglaise)

 

 

 

huythiep

 

French version
Vietnamese version

Assigned up until 1986 to the job of drawing illustrations for school manuals in an office of Publishing and Education in Hà-Nội, Nguyễn Huy Thiệp, taking advantage of the openness policy known as Ðỗi Mới ( Renovation ) at the time the Vietnamese communist party held its 6th congress, published in 1987 his first book called « The breezes of Hứa Tát » printed in « Literature and Art« , the prestigious magazine of the National Association of Writers.

His success was not slow. But it was due mostly to his work entitled « The retirement of a general » when it was published in June 1987. This has provoked not only an earthquake in Vietnamese public opinion but also a hope to see draining in its trail a new generation of young writers without shady deal and having an independent and critical mind that seemed almost non-existent up until then in the Vietnamese literature.

His success was not slow. But it was due mostly to his work entitled  » The retirement of a general » when it was published in June 1987. This has provoked not only an earthquake in Vietnamese public opinion but also a hope to see draining in its trail a new generation of young writers without shady deal and having an independent and critical mind that seemed almost non-existent up until then in the Vietnamese literature.

· A general in retreat (in retirement)
· The heart of the tiger
· The vengeance of the wolf
· Demons live among us.
· Tale of love. A rainy evening
· The gold and fire
· My uncle Hoat
· In our twenties

licorneThanks to his collection of tales, Nguyễn Huy Thiệp became overnight a shining figure in the Vietnamese literature. His readers including the diaspora find in him not only the talent of a writer but also the boldness to break the taboo and the unspoken kept until then by customs and a system fallen into disuse. At present, he is considered a great Vietnamese writer. With his much sober style, he succeeds in sensitizing easily the reader because he uses metaphors and allusions with his raw language to describe the reality of today in Vietnam, the one with all alienation presently forming the social fabric of the country.

Selecting typical situations and characters in his novels and tales, he makes us uncover with terror all the contradiction of the Vietnamese society, all the unbearable truths, the gangrene of the Bad, the collapse of moral values of a society. He dares to display in public forum the collapse of a system, to scour the social flesh with his black humor and his freezing realism. He succeeds in showing us all the facets of society through his short and bare passages with a talent of a storyteller and that of a writer in total breaking off with the generation of writers compromising with the regime. If he succeeds in building news with an astonishing ease, it is a great deal due to his growing up in the countryside with his mother during his youth, and to his training as a historian when he attended teaching college in 1970 in Hanoi.

The work of the Chinese historian Si Ma Qian (Tư Mã Thiên ) has an enormous influence on his tales, especially on his style. He has said one day in 1990 to the French magazine Libération: I don’t think people can write when uprooted. He preferred to stay in Vietnam in order to be able to write his tales, to reveal the true nature of a system and to express the anger and hidden feeling of a human being crushed by years in mud, war and deprivation. Although he has never been in politics, he is always a suspect in the eyes of the Vietnamese authorities because of his liberal words that shake state apparatus. He embodies the symbolic expression of the state of mind of the whole people in search of a stolen and lost treasure.

All those who defended him, in particular the manager of the Văn Nghệ. Review, have been fired. A campaign of denigration in the official media was launched in the past. He was blamed for having published the trilogy to historical argument that attacked national hero Quang Trung through his work « Dignity ». Despite censorship, threats and intimidation, the courageous newspapers continue to publish today his collections. Some of them have already been printed in French at l’Aube publishing house.

The characters in his tales are human beings sexually, morally and socially alienated. They are ordinary people that are thrown, by the ups and downs of life and the system, in perversion, humiliation, abuse, lunacy and profit. In  » There is no king », dirty old man Kiên prefers to eye quietly hairy young women, in particular his daughter-in-law Sinh who because of her 5 children she has to raise, has no means to get remarried, that’s what he said to his son Ðoài when the latter overtly criticized him. It is shocking to see an 80-year old man dying of heart attack in « The Forgotten Land », Panh who tried to fell a tree to contest a challenge and to be able to marry a 14-year old girl that he has known during his passage to Yên Châu. In « The Retirement of a general », his character, retired general Thuận cannot keep his mouth shut when he dares to speak in front of his superiors about the three activities forming the indispensable economic model in the present system: gardening, fish farming and animal husbandry. He expiates a mistake of not knowing how to protect himself. He prefers an honorable death to an ignominious life. He was buried with all military honors.

He was a great man. He died for his country during a mission, which was said by general Chương to his son. One sees profit and cronyism growing in all layers of society and new people. Each country has its own customs, said by Mr. Thuyết to his sawing employees in the novel « Sawyers in the long ». Likewise, the daughter-in-law of general Thuận, taking advantage of her physician role, assigned to do abortion and curettage, takes home every night abandoned fetuses in a Thermos flask to cook and feed the pigs and shepherd dogs, which presently constitutes a significant financial resource for a Vietnamese family.

Nguyễn Huy Thiệp continues to angrily munch Vietnam with his tales and stories. Like everyone in Vietnam, he tries to find a solution to his daily needs and above all to give a meaning, a signification to his existence like his character Mr. Quý in his « Nostalgia of the Campaign »: To be intellectual is to be capable of giving a meaning to the life we live. In spite of a bitter heritage, he is at least content of the consolation though his tales and stories.

[Return LITERATURE]

 

 

Nguyễn Huy Thiệp (Version Française)

huythiep

English version
Version française

Được tuyển dụng cho đến năm 1986 trong công việc vẽ tranh minh họa cho sách giáo khoa tại văn phòng ở Hànội, Nguyễn Huy Thiệp, lợi dụng chính sách mới rộng rãi được gọi là « Đỗi Mới » trong Đại hội thứ  6 của đảng cộng sản Việt Nam mà  ông xuất bản tháng giêng năm 1987, tuyển tập đầu tiên của ông có mang tên là  “Những cơn gió Hứa Tát” được đăng trên tạp chí uy tín của Hội Nhà văn toàn quốc “Văn nghệ”.

Ông không quá mất nhiều thời gian để được sự thành công. Nhưng phải nói ông được như  vậy đấy  là nhờ tuyển tập “Tướng về hưu” ra mắt vào tháng 6 năm 1987. Điều này không chỉ gây ra một cơn chấn động  trong dư luận của ngừơi Viêt  mà còn xem đây  là niềm hy vọng được nhìn thấy theo   gương ông một thế hệ nhà văn trẻ mới không khoan nhượng, có tính độc lập và phê phán như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh vân vân mà cho đến nay dường như không có tồn tại trong văn học Việt Nam.

Tướng về hưu

Trái tim hổ

Sự báo thù của soái

Ma quỉ sống giữa chúng ta

Chuyện tình kể trong đêm mưa.

Vàng và lửa

Chú Hoạt tôi

Tuổi hai mươi yêu dấu vân vân…

 

Nhờ  các  truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành nhân vật hàng đầu của văn học Việt Nam. Các độc giả của ông, luôn  cả những người ở hải ngoại, nhận thấy ở nơi ông không chỉ tài năng của một nhà văn mà còn  có sự liều lĩnh dám phá bỏ những điều cấm kỵ và những điều chưa nói được duy trì cho đến bây giờ  bởi phong tục và một hệ thống không còn được trọng dụng. Ông hiện được xem là nhà văn vĩ đại nhất của Việt Nam. Với lối viết giản dị, ông dễ dàng làm  người đọc nhạy cảm vì ông biết cách sử dụng những ẩn dụ và ám chỉ bằng ngôn ngữ thô thiển của mình để mô tả thực tế ngày nay ở Việt Nam và để nói lên  những tha hóa hiện đang hình thành cơ cấu xã hội của đất nước.

Bằng cách lựa chọn những tình huống và các anh hùng tiêu biểu trong truyện ngắn và truyện cổ tích của mình, ông làm  chúng ta kinh hãi khám phá ra tất cả những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam, tất cả những sự thật không thể chịu đựng nổi, sự hoại tử của cái ác, sự suy sụp của các giá trị đạo đức của một xã hội. Ông ta dám vạch trần sự thất bại của một hệ thống giữa quần chúng, dày vò thân xác xã hội với  khiếu  hài hước tối tâm và tính hiện thực lạnh lùng của mình. Ông  cố gắng cho chúng ta thấy tất cả các khía cạnh của xã hội thông qua những bài viết ngắn gọn và giản dị với tài năng của một người kể chuyện và của một nhà văn, hoàn toàn đoạn tuyệt với nhóm  nhà văn có thiện cảm  với chế độ. 

Nếu ông có thể viết truyện ngắn một cách dễ dàng đáng  kinh ngạc, thì điều này phần lớn là nhờ lúc thời thiếu niên, ông sống ở môi trường nông thôn với mẹ và nhờ được sự  đào tạo thành nhà sử học mà ông theo học ở Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 1970. Tác phẩm của nhà sử học Trung Quốc Tư Mã Thiên có ảnh hưởng rất lớn đến các bộ sưu tập của ông, đặc biệt là lối viết  của ông. Ông từng nói với tờ báo Pháp Libération vào năm 1990: Tôi không tin bạn có thể viết khi bạn đã mất gốc. Ông thích ở lại Việt Nam hơn để có thể viết những tuyển tập của mình, ghi lại sự quan sát của một hệ thống và bày tỏ sự tức giận cũng như nỗi lưu vong  ở nội tâm của một người bị đè bẹp bởi nhiều năm bùn lầy, chiến tranh và thiếu thốn. Dù chưa bao giờ tham gia chính trị nhưng ông luôn bị chính quyền Việt Nam nghi ngờ vì quyền tự do ngôn luận của ông khiến bộ máy nhà nước phải lo sợ  và ông là hiện thân biểu tượng tâm trạng của cả một dân tộc tìm kiếm một kho tàng đã bị mất và bị đánh cắp.

Tất cả những người đứng ra bảo vệ ông, đặc biệt là giám đốc tạp chí « Văn Nghệ », đều bị sa thải. Còn có  cả  chiến dịch bôi nhọ  ông không ngần ngại trên báo chí chính thống. Ông bị chỉ trích vì ông xuất bản  tác phẩm có ba tập  mang tính cách lịch sử làm tổn thương vị anh hùng dân tộc Quang Trung qua truyện “Nhân phẩm”. Bất chấp sự kiểm duyệt và lời đe dọa, những tờ báo dũng cảm vẫn tiếp tục xuất bản các tuyển tập của ông cho đến ngày nay, một số trong đó đã xuất hiện bằng tiếng Pháp bởi nhà xuất bản « Aube » ở Pháp. 

Những anh hùng trong bộ sưu tập của ông là những  người bệnh tâm thần  về mặt tình dục, đạo đức và xã hội. Họ là những người bình thường mà những thay đổi thất thường của cuộc sống và hệ thống dẫn đến sự trụy lạc, sỉ nhục, lạm dụng, điên rồ và trục lợi. Trong truyện ngắn “Không Có Vua”, ông già Kiên thích lén lút ngắm nhìn những phụ nữ trẻ khỏa thân, đặc biệt là con dâu Sinh vì ông phải nuôi 5 đứa con nên không có khả năng tái hôn. Ông nói với con trai mình là Đoài khi người này công khai chỉ trích ông. Thật bàng hoàng khi chứng kiến ​​cụ Panh 80 tuổi chết vì đau tim trong truyện ngắn « Vùng đất bị lãng quên » khi cố chặt cây để thực hiện thử thách và có thể cưới được bé gái 14 tuổi người mà ông  đã gặp trong thời gian ở Yên Châu. Trong truyện “Tướng về hưu”, người hùng của ông, tướng Thuận không biết kiềm chế khi dám nói trước mặt cấp trên về ba hoạt động hình thành mô hình kinh tế thiết yếu trong hệ thống hiện nay: làm vườn, nuôi cá và vật nuôi trong nhà. Ông ta chuộc lỗi mà ông ta không thể tự bảo vệ mình.

Ông ta thích một cái chết vinh quang hơn một cuộc sống ô nhục. Ông được chôn cất với đầy đủ nghi lễ trọng thể trong quân đội. Đây là một người đàn ông tuyệt vời. Ông đã hy sinh vì đất nước trong một lần làm nhiệm vụ, điều mà tướng Chương đã kể lại cho con trai ông. Còn được thấy lợi nhuận và hệ thống  bè phái  đang phát triển ở mọi tầng lớp và mọi cấp độ ở trong xã hội. Mỗi nước đều có một phong tục riêng, đó là điều ông Thuyết nói với những người thợ xẻ trong truyện ngắn “Những người thợ xẻ”. Tương tự như vậy, con dâu của tướng Thuận, lợi dụng chức danh bác sĩ, chịu trách nhiệm phá và nạo thai, thu hồi lại những bào thai bị bỏ rơi mà mỗi tối cô ta mang về nhà trong bình thermo  để nấu lại  và cho lợn và chó chăn cừu ăn, hiện  nay là nguồn tài chính đáng kể của một gia đình Việt Nam.

Nguyễn Huy Thiệp tiếp tục viết những tuyển tập  ngắn của mình với tư cách giận dữ. Tựa  như người dân Việt, ông cố gắng tìm ra một giải pháp cho nhu cầu hằng ngày của mình và nhất là mang lại một  ý nghĩa cho sự tồn tại của mình cũng như nhân vật tên  Quý trong “Thương nhớ đồng quê”: Là một  người trí thức thì phải có  khả năng  mang lại một  ý nghĩa cho cuộc sống mà  ta đựơc  có. Mặc dù có một gia tài quá cay đắng, ông vẫn hài lòng khi  ông  có được ít nhất niềm an ủi qua các truyện ngắn và cổ tích cùa ông.

Version française

Cantonné jusqu’en 1986 dans le travail de dessin des illustrations pour manuels scolaires dans un bureau des Editions de l’Education à Hanoï, Nguyễn Huy Thiệp, profitant de la nouvelle politique d’ouverture connue sous le nom  » Ðỗi Mới « (Renouveau ) » lors du 6ème congrès du parti communiste vietnamien, publia en Janvier 1987 son premier recueil intitulé « Les vents de Hứa Tát » paru dans le journal prestigieux de l’Association des écrivains nationaux  » Littérature et Art « .

Son succès ne tarda pas. Mais il le dut surtout à son recueil intitulé « La retraite du général » quand celui-ci parut en Juin 1987. Cela provoqua non seulement un séisme dans l’opinion publique vietnamienne mais aussi un espoir de voir drainer dans son sillage une nouvelle génération de jeunes écrivains ( Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh etc.) sans compromission et ayant un esprit d’indépendance et de critique qui semble être quasi inexistant jusqu’alors dans la littérature vietnamienne.

Un général à la retraite
Le cœur du tigre
La vengeance du loup
Les démons vivent parmi nous.
Conte d’amour. Un soir de pluie
L’or et le feu
Mon oncle Hoat
 A nos vingt ans etc.

Grâce à ses recueils de nouvelles, Nguyễn Huy Thiệp devint du jour au lendemain la figure de proue de la littérature vietnamienne. Ses lecteurs y compris ceux de la diaspora retrouvèrent en lui non seulement le talent d’un écrivain mais aussi l’audace de briser le tabou et le non-dit entretenus jusqu’alors par les coutumes et par un système tombé en désuétude. On le considère actuellement comme le plus grand écrivain vietnamien. Avec son style très sobre, il arrive à sensibiliser facilement le lecteur car il sait se servir des métaphores et des allusions avec son langage cru pour décrire la réalité d’aujourd’hui du Vietnam et  celle de toutes les aliénations formant actuellement le tissu social du pays.

En sélectionnant des situations et des héros types dans ses nouvelles et ses contes, il nous fait découvrir avec effroi toutes les contradictions de la société vietnamienne, toutes les vérités insupportables, le gangrène du Mal, l’effondrement des valeurs morales d’une société. Il ose déballer sur la place publique la débâcle d’un système, fouailler la chair sociale avec son humour noir et son réalisme glacial. Il arrive à nous montrer toutes les facettes de la société à travers ses textes brefs et dépouillés avec le talent d’un conteur et celui d’un écrivain en rupture totale avec la génération des écrivains compromis avec le régime. S’il arrive à écrire  ses nouvelles avec une facilité étonnante, cela est dû en grande partie à sa jeunesse qu’il a vécue dans le milieu rural avec sa mère et à sa formation d’historien qu’il a suivie à Hanoï dans l’université de Pédagogie à partir de 1970. L’œuvre de l’historien chinois Si Ma Qian (Tư Mã Thiên) a influé énormément sur ses recueils, en particulier sur son style. Il a déclaré un jour en 1990 au journal français Libération: Je ne crois pas qu’on puisse écrire quand on est déraciné. Il a préféré rester au Viêt-Nam dans le but de pouvoir écrire ses recueils, de relever le constat d’un système et d’exprimer la colère et l’exil intérieur d’un être broyé par des années de boue, de guerre et de privations. Bien qu’il ne fasse jamais de politique, il est toujours suspect aux yeux des autorités vietnamiennes car sa parole libre fait trembler les appareils de l’état et il incarne l’expression symbolique de l’état d’âme de tout un peuple à la quête d’un trésor perdu et volé.

Tous ceux qui ont pris sa défense en particulier le directeur de la revue Văn Nghệ ont été limogés. On n’a pas hésité à lancer dans le passé une campagne de dénigrement dans la presse officielle. On lui reprocha la publication de la trilogie à argument historique qui portait atteinte au héros national Quang Trung à travers l’œuvre « Dignité ». Malgré la censure, les menaces et les intimidations, les journaux courageux continuent à publier aujourd’hui ses recueils dont certains sont déjà parus en français aux éditions de l’Aube.

Les héros de ses recueils sont des êtres aliénés sexuellement, moralement et socialement. Ce sont des gens ordinaires que les aléas de la vie et le système précipitent dans la perversion, l’humiliation, l’abus, la folie et le profit. Dans « Il n’y a pas de roi », le vieux Kiên préfère reluquer en douce sur les jeunes femmes à poil, en particulier sa bru Sinh car à cause de ses 5 enfants qu’il est obligé de nourrir et d’élever, il n’a pas le moyen de se remarier, ce qu’il dit à son fils Ðoai lorsque ce dernier l’a critiqué ouvertement. C’est choquant de voir mourir d’une crise cardiaque dans « La terre oubliée » un homme âgé de 80 ans, Panh qui a tenté d’abattre un arbre pour relever le défi et pour pouvoir épouser une jeune fille de 14 ans qu’il a connue lors de son passage à Yên Châu. Dans  » Un général à la retraite », son héros, le général retraité Thuận ne sait pas retenir sa parole en osant parler devant son supérieur des trois activités formant le modèle économique indispensable dans le système actuel: le jardinage, l’élevage des poissons et des animaux domestiques. Il expie une faute dont il n’a pas su se préserver. Il préfère une mort honorable à la vie ignominieuse. On l’a enterré avec tous les honneurs militaires. C’est un grand homme. Il est mort pour la patrie au cours d’une mission, ce que le général Chương a dit à son fils. On voit se développer à toutes les couches de la société et à tous les niveaux le profit et le copinage. A chaque pays, ses coutumes, ce qu’a dit Mr Thuyết à ses employés scieurs dans la nouvelle « les scieurs de long ». De même, la bru du général Thuận, profitant de son rôle médecin, chargé des avortements et des curetages, récupère les fœtus abandonnés qu’elle ramène à la maison tous les soirs dans une bouteille Thermos pour les faire cuire et pour nourrir les cochons et les chiens bergers constituant actuellement une ressource financière non négligeable pour une famille vietnamienne.

Nguyễn Huy Thiệp continue à croquer rageusement le Viêtnam avec ses recueils et ses contes. Comme les gens du Vietnam, il essaie de trouver une solution à ses besoins quotidiens et de donner surtout un sens, une signification à son existence comme son héros Mr Quý dans « Nostalgie de la Campagne (Thương Nhớ Ðồng Quê) »: Être intellectuel c’est être capable de donner un sens à la vie qu’on mène. Malgré un héritage amer, il se contente d’avoir néanmoins sa consolation à travers ses récits et ses contes.

[Return LITTERATURE]licorne

 

Literature (Văn chương)

 

litterature

French version
Vietnamese version

Vietnam possesses an important literature, ancient as well as modern. Because of Chinese influence, the ancient literature was written in Chinese characters. It was only in about 13th century that the « nôm » began to replace the Chinese characters. Although the « nom » remains the expression of the common Vietnamese, it supposes the mastering of classical Chinese penmanship and the Vietnamese pronunciation of Chinese characters.

The Vietnamese literature tried to develop and freed itself from the Chinese model since 15th century, not only in style but also in theme. Nguyễn Trãi is one of the poets the most known by Vietnamese people. We owe him a collection of 254 poems in national language ( Quốc Âm Thi Tập ), whose translation into French language under the direction of P. Schneider is found in the Edition of CNRS, 1978, Paris. Nguyễn Trãi famous was his Bình Ngô Ðại Cáo ( Great Proclamation of The Pacification of The Ngô ). It is one of the most beautiful monuments of the Vietnamese literature.

But the most famous poems remain Chinh phu ngâm of poetess Ðoàn Thị Ðiểm and Kim Vân Kiều of Nguyễn Du ( 1756-1820 ). The latter composed during his retirement a novel composed of 3254 verses which symbolises for the majority of Vietnamese the heart and soul of the nation .

Everyone of Vietnamese knows it or many parts of it by heart. It is important to note that this masterpiece of the Vietnamese literature is also one of the masterpieces of world literature.

It is a poignant love story adapted from a Chinese novel, depicting an abundance of thoughts on the meaning of life, war, love and above all the purity of the soul inaccessible to bodily taints. The three key characters in this novel are Kim, Vân and Kiều. Separated from Kim by cruel circumstances and after so many years of suffering and humiliation, Kiều was rescued from suicide by fishermen who fished her from the river where she had wanted to drown herself. Following is an excerpt of this novel that describes the reunion of Kim and Kieu at the temple where she had spent her peaceful days.

In the joy of their reunion, they are moved by thought of their love of days before,
From the time their youth blossomed, tender like a lotus, delicious like a peach,
Fifteen years have gone by and now the dream has come true.

The detachment from the Chinese models has been accelerated by the development of the « quốc ngữ » ( Vietnamese writing in Roman alphabet ) favored by the colonization. In 1932, motivated by Nguyễn Tường Tam also known as Nhat Linh, writing club Tự Lực Văn Ðoàn was founded. This movement endeavored itself to the creation of a national literature starting from traditional bases and the most acceptable foreign influences. It relied on a review called Ngày Nay whose editors team was made of known writers such as Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ etc.

The Vietnamese literature written in French began with Phạm Quỳnh through articles of reflection on Vietnamese culture and the difficulty of dialogue between eastern and western cultures. Phạm Duy Khiêm published legends and an autobiographic novel. Phạm Văn Ky elicited in a profound manner the dialogue of the East and the West in his romanesque works ( Blood Brothers, 1947; Those Who Will Reign, 1954 etc.). While historical evolution and mostly the war seemed to drain that literature, the arrival in France of several refugees has revived a literature of witnessing ( Kim Lefèvre ) and also one in search of identity.

 

Independent Literary group (Tự lực văn đoàn)

French version
Vietnamese version

  • Hoàng Đạo
  • Thế Lữ
  • Thạch Lam
  • Xuân Diệu
  • Tú Mỡ
  • Trần Tiêu etc.
    tulucvandoan

Titles of best-known novels

Hồn Bướm Mơ Tiên (1933)
Nữa Chừng Xuân (1934)
Ðoạn Tuyệt (1935)
Trống Mái (1936)
Lạnh Lùng (1937)
Tiêu Sơn Tráng sĩ (1937)
Thoát Ly (1938)
Tắt đèn (1939)
Bướm Trắng (1941)

Articles founded on the Net

Anh phải sống (1937)
Tiểu sử Tự Lực Văn Đoàn 1930-1945

It is regrettable not to see appearing Nhất Linh et Khá’i Hưng’s names in today’s school curriculum or in anthologies published recently in foreign languages in Vietnam. However, they are the two best Vietnamese novelists at the dawn of 20th century.

People continue to look for and tear off rare issues published in South Vietnam before 1975. In spite of their selected topics generally relating to love, sentimental twists, dramas of the middle-class etc. at colonial time, they however continue to gain unanimous admiration of Vietnamese youth today, in particular of young Vietnamese living abroad because their writings are carrying not only a more or less occidentalized culture but also a purely Vietnamese romanticism. They succeeded in bringing to their works an innovative style, in using a simple vocabulary free of Sino-Vietnamese words perceived by Vietnamese young people as erudite words, and in approaching topics capable of adhering the youth: love-sacrifice, impossible love, vagueness in the soul etc…with a Cornelian glance as well as with Alfred de Musset‘s romantic manner.

« Hồn Bướm Mơ Tiên » (or Heart of a Butterfly in a Dream of Immortality),  » Nữa Chừng Xuân » ( or Mid-Spring ), « Ðoạn Tuyệt » ( or Rupture ,), « Anh Phải Sống » ( or You Must Live ) etc… continue to be the best-sellers preferred by Vietnamese youth today. It is not surprising to find that the topic of sacrifice approached about fifty years ago by Khai Hung in his works, is taken again recently by a young talented novelist Nguyễn Huy Thiệp in his novel  « Chảy đi sông ơi » ( or Run! Run! Oh River ) in spite of a completely different political context.

In their writings, one finds not only modern use of clauses, adverbs, tense forms that were until then absent in Vietnamese prose, but also the use of personal pronouns. The « I, me » make their way in, with words like « anh », « em », « mình », « cậu » that had not been used before in a sentence. It is noticed in the construction of their sentences a great economy of means, an unprecedented clarity, and a great effectiveness.

Coming from urban environment, influenced by the French culture since their younger age, they are unsurprisingly found inspired in their works by the models of Musset, Lamartine, Daudet, etc. when it is known that these French writers’ works formed part of the teaching curriculum at French lycee Albert Sarraut ( Hà-Nội ) where Khai Hung took his classes at colonial time. He received his bachelor’s degree in 1927 and taught at Thăng Long high school when Nhất Linh returned to Vietnam in 1930 after four years of scientific studies from France

His encounter with Khái Hưng at Thăng Long high school has overnight made them a famous and inseparable couple. They founded together the writing club Tự Lực Vân Ðoàn ( or Self-Sufficient Literary Group ) in 1933. Khái Hưng, who was nine years older than Nhất Linh, was however regarded as the « second » of this couple and was given the pseudonym of  » Nhị Linh » because Nhất Linh had already been author of two novels in 1926 and 1927. They acquired the merit of having brought clarity, concision, modernity to the Vietnamese literature and especially of knowing how to give to this modernity the soul of Vietnamese romanticism.

Contrary to other novelists of their time ( Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố for example), they did not have a critical view on social inequalities, virtues, and rural customs. They did not know how to help in fighting and denouncing these inequalities. But on the other hand, they tried to depict the most disfranchised social layer with much fineness and accuracy without having to defend it with horn and fanfare.

Is it why they are reproached of lacking combativeness and realism, tepidity in their manner of depicting the reality of urban society, and being influenced by western culture? It is certain that the episode of Musset’s Tales could be used as model by Khái Hưng because the heroine in the novel Anh Phải Sống, the young wife of the Vietnamese mason Thuc, let herself drowned in the flood like Madame des Arcis in the tales « Pierre et Camille » of Alfred de Musset in 1844. But Khái Hưng knew how to give his heroine the nobility and grandeur in the Vietnamese tradition.

Neither could be doubful their patriotism, their political involvement in Vietnamese nationalist movements. Because of their nationalist political orientation and especially their simple idealism, both have perished respectively like their heroines in Khái Hưng’s Anh Phải Sống ( You Must Live ) and in Nhất Linh »s « A Silhouette in the Fog« . Khái Hưng has deceased in 1947 under mysterious conditions near the Cửa Gà dock, in the district of Xuân Trường ( Hà Nam Ðịnh provine ) while Nhất Linh, disappointed for being misunderstood, took his life with poison on July 7, 1963 in Saigon. 

butvietBoth of them tried to live their lives the way their heroines did with an exemplary stoicism. The literary heritage they left to the Vietnamese people is priceless.

In a word, they are not only the pioneers of modern literature of Vietnam but also the most romantic novelists that Vietnam has ever known.

[Return LITERATURE]

Groupe littéraire indépendant (Tự lực văn đoàn)

 

  • Hoàng Đạo
  • Thế Lữ
  • Thạch Lam
  • Xuân Diệu
  • Tú Mỡ
  • Trần Tiêu etc.

tulucvandoan

Titres des romans connus

Hồn Bướm Mơ Tiên (1933)
Nữa Chừng Xuân (1934)
Ðoạn Tuyệt (1935)
Trống Mái (1936)
Lạnh Lùng (1937)
Tiêu Sơn Tráng sĩ (1937)
Thoát Ly (1938)
Tắt đèn (1939)
Bướm Trắng (1941)

Articles trouvés sur le Net
Anh phải sống (1937)

Tiểu sử Tự Lực Văn Đoàn 1930-1945

 
Version anglaise
Version française

Thật đáng tiếc khi không thấy tên Nhất Linh và Khái Hưng được đưa vào chương trình giảng dạy hiện nay hay trong các tuyển tập tiếng nước ngoài mới xuất bản ở Việt Nam. Tuy nhiên, họ lại là hai tiểu thuyết gia Việt Nam xuất sắc nhất vào buổi bình minh của thế kỷ 20.

Chúng ta tiếp tục tìm kiếm những bản tái bản hiếm hoi được xuất bản ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Mặc dù các chủ đề được chọn nói chung liên quan đến tình yêu, những mâu thuẫn tình cảm, những bi kịch của giai cấp tư sản địa chủ, vân vân… trong thời kỳ thuộc địa, chúng ta vẫn tiếp tục nhận được sự đồng tình ngưỡng mộ của giới trẻ Việt Nam ngày nay, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam sống ở nước ngoài vì  các tác phẩm của họ không chỉ truyền tải một nền văn hóa ít nhiều bị phương Tây hóa mà còn là một chủ nghĩa lãng mạn thuần túy Việt Nam. Họ đã cố gắng mang đến một phong cách sáng tạo cho tác phẩm của mình, sử dụng từ vựng đơn giản, không có bất kỳ từ Hán Việt nào được giới trẻ Việt Nam coi là những từ học thuật, để đề cập đến các chủ đề có thể được giới trẻ ủng hộ:

tình yêu hy sinh, tình yêu bất khả thi, sự mơ hồ của tâm hồn vân vân với cái nhìn vừa đậm chất kiểu  Coóc-nây vừa lãng mạn theo phong cách của Alfred Musset.“Hồn Bướm Mơ Tiên” (hay Hồn bướm trong giấc mơ bất tử), “Nữa Chừng Xuân” “Đoạn Tuyệt”, “Anh phải sống” vân vân tiếp tục là những cuốn sách bán chạy nhất được giới trẻ Việt Nam ngày nay ưa thích. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chủ đề hy sinh được đề cập đến khoảng năm mươi năm trước trong các tác phẩm của Khái Hưng trong tác phẩm của ông gần đây lại được tiểu thuyết gia trẻ tài năng “Nguyễn Huy Thiệp” tiếp tục trong tác phẩm của ông « Chảy đi sông ơi hay là  « Chảy đi, dòng sông ơi) dù bối cảnh chính trị hoàn toàn khác hẳn.

Chúng ta không chỉ tìm thấy ở tác phẩm của họ tính hiện đại ở mức độ sử dụng mệnh đề, trạng từ, chỉ thời gian mà từ trước đến nay văn xuôi tiếng Việt chưa có mà còn ở mức độ sử dụng đại từ nhân xưng. Chữ “tôi” đi vào cùng với các từ “anh”, “em”, “mình”, “cậu” mà trước đây không được sử dụng trong câu. Chúng ta cũng lưu ý rằng trong việc xây dựng câu của họ, họ sử dụng rất nhiều phương tiện, sự rõ ràng đáng kinh ngạc và hiệu quả tuyệt vời. Xuất thân từ môi trường đô thị, thấm nhuần văn hóa Pháp ngay từ khi còn nhỏ, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy tác phẩm của họ lấy cảm hứng từ hình mẫu của Musset, Lamartine, Daudet… khi chúng ta biết rằng tác phẩm của những nhà văn Pháp này nằm trong chương trình giảng dạy tại trường Lycée Albert Sarraut (Hà-Nội) của Pháp, nơi mà Khải Hưng theo học thời thuộc địa. Ông nhận bằng cử nhân năm 1927 và giảng dạy tại trường Cao đẳng Thăng Long. Nhất Linh trở về Việt Nam năm 1930 sau khi hoàn thành bốn năm nghiên cứu khoa học tại Pháp.

Cuộc gặp gỡ của ông với Khải Hưng tại trường Thăng Long đã khiến họ trở thành một cặp đôi văn học nổi tiếng và không thể tách rời chỉ sau một đêm. Họ cùng nhau thành lập Câu lạc bộ Tự Lực Văn Đoàn (hay Nhóm văn học độc lập) vào năm 1933. Khái-Hưng hơn Nhất-Linh chín tuổi, tuy nhiên tự coi mình là “người thứ hai” trong cặp đôi này và tự đặt cho mình bút danh “Nhị Linh” vì Nhất-Linh đã là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết năm 1926 và 1927. Họ đã có công mang lại sự trong sáng, ngắn gọn, hiện đại cho văn học Việt Nam và hơn hết là biết truyền cho văn học văn học Việt Nam cái tâm hồn lạng mạn của Việt Nam. Không giống như các tiểu thuyết gia khác cùng thời (Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố chẳng hạn), họ không có con mắt tinh tường về những bất bình đẳng xã hội, đạo đức và phong tục nông thôn. Họ không biết sử dụng nó để đấu tranh và tố cáo những bất bình đẳng này. Mặt khác, họ cố gắng khắc họa một cách hết sức tinh tế và chính xác tầng lớp xã hội thiếu thốn nhất mà không buộc phải lớn tiếng bảo vệ nó. Đây có phải là lý do tại sao chúng ta chỉ trích họ vì thiếu tính hiếu chiến và chủ nghĩa hiện thực, sự thờ ơ trong cách miêu tả hiện thực của xã hội đô thị và sự thấm nhuần văn hóa phương Tây. Chắc chắn rằng tình tiết Contes de Musset có thể làm hình mẫu cho Khái -Hưng vì nữ anh hùng trong truyện ngắn “Anh Phải Sống”, người vợ trẻ của người thợ nề Việt đã để mình chìm vào sóng như Madame des Arcis trong Contes “Pierre et Camille” của Alfred de Musset năm 1844. Nhưng Khái-Hưng có công khi biết cách làm cho nữ anh hùng của mình có được sự cao quý và cao cả theo truyền thống Việt Nam.

Chúng ta cũng không thể nghi ngờ lòng yêu nước, sự  cam kết chính trị của họ đối với các phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì khuynh hướng chính trị dân tộc chủ nghĩa và đặc biệt vì chủ nghĩa duy tâm đơn giản, cả hai đều chết như các nữ anh hùng trong “Anh  Phải Sống” của Khải Hưng và trong “Bóng người trong sương mù” của Nhất Linh. Khái-Hưng chết năm 1947 trong một hoàn cảnh rất  bí ẩn gần bến Cửa Gà, huyện Xuân Trường (tỉnh Hà Nam Định), còn Nhất Linh, thất vọng vì bị hiểu lầm, đã tự đầu độc vào ngày 7 tháng 7 năm 1963 tại Sài Gòn.

Cả hai đều cố gắng sống cuộc sống của mình giống như các nữ anh hùng của mình với chủ nghĩa khắc kỷ mẫu mực. Di sản văn học họ để lại cho người dân Việt Nam là vô giá.

Nói một cách dễ hiểu, họ không chỉ là những người tiên phong của văn học Việt Nam hiện đại mà còn là những tiểu thuyết gia lãng mạn nhất mà Việt Nam đã từng biết đến.

[Return LITTERATURE]  

Il est regrettable de ne pas voir figurer les noms de Nhất Linh et Khái Hưng dans les programmes d’enseignement d’aujourd’hui ou dans les anthologies publiées récemment en langues étrangères au Vietnam. Pourtant, ce sont les deux meilleurs romanciers vietnamiens à l’aube du XXème siècle.

On continue à chercher et à s’arracher les rares rééditions parues au Sud-Vietnam d’avant 1975. Malgré leurs thèmes choisis portant d’une manière générale sur l’amour, sur les contorsions sentimentales, sur les drames de la bourgeoisie latifundiaire etc.. à l’époque coloniale, ils continuent à bénéficier pourtant de l’admiration unanime de la jeunesse vietnamienne d’aujourd’hui, en particulier de celle des jeunes Vietnamiens vivant à l’étranger car leurs écrits sont porteurs non seulement d’une culture plus ou moins occidentalisée mais aussi d’un romantisme purement vietnamien. Ils ont réussi à apporter à leurs œuvres un style novateur, à utiliser un vocabulaire simple débarrassé de tous les mots sino-vietnamiens perçus par les jeunes vietnamiens comme des mots savants, à aborder des thèmes susceptibles d’avoir l’adhésion de la jeunesse: l’amour-sacrifice, l’amour impossible, le vague à l’âme etc.. avec un regard à la fois cornélien et romantique à la manière d’Alfred Musset.

« Hồn Bướm Mơ Tiên«  (ou Âme de papillon dans un rêve d’immortalité », « Nữa Chừng Xuân » (ou A mi-printemps) » « Ðoạn Tuyệt ( ou La Rupture ) », « Anh phải sống ( ou Tu Dois Vivre ) » etc. continuent à être les best-sellers préférés par la jeunesse vietnamienne d’aujourd’hui. Il n’est pas étonnant de trouver que le thème du sacrifice abordé, il y a eu une cinquantaine d’années, par Khái Hưng dans son œuvre, est repris récemment par le jeune romancier talentueux « Nguyễn Huy Thiệp » dans son roman Chảy đi sông ơi (ou Coule, coule ô fleuve) malgré un contexte politique tout à fait différent.

On trouve non seulement dans leurs écrits la modernité au niveau d’emploi des propositions, d’adverbes, d’indicateurs de temps qui étaient absents jusqu’alors dans la prose vietnamienne mais aussi au niveau d’emploi des pronoms personnels. Le « moi » fait son entrée ainsi que les mots « anh », « em », « mình », »cậu » qui, auparavant n’étaient pas employés dans la phrase. On note aussi dans la construction de leurs phrases une grande économie des moyens, une clarté inouïe et une grande efficacité.

Issus du milieu urbain, imprégnés dès leur plus jeune âge de la culture française, il n’est pas étonnant de trouver qu’ils s’inspirent dans leurs œuvres des modèles de Musset, Lamartine, Daudet etc. lorsqu’on sait que les œuvres de ces écrivains français firent partie du programme d’études au lycée français Albert Sarraut ( Hà-Nội ) où Khái Hưng fit ses études à l’époque coloniale. Il fut reçu bachelier en 1927 et enseigna au collège Thăng Long tandis que Nhất Linh rentra au Vietnam en 1930 après avoir suivi ses quatre années d’études scientifiques en France.

Sa rencontre avec Khái Hưng au collège Thăng Long fit d’eux du jour au lendemain un couple littéraire célèbre et inséparable. Ils fondèrent ensemble le club Tự Lực Văn Ðoàn (ou Groupe Littéraire indépendant) en 1933. Khái-Hưng, plus âgé que Nhất-Linh de neuf ans, se considérait pourtant comme le « second » de ce couple et se donnait comme pseudonyme « Nhị Linh » car Nhất-Linh était déjà l’auteur de deux romans en 1926 et 1927. Ils ont eu le mérite d’apporter à la littérature vietnamienne la clarté, la concision, la modernité et de savoir donner surtout à cette dernière l’âme du romantisme vietnamien.

Contrairement à d’autres romanciers de leur époque (Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố par exemple), ils n’avaient pas un regard aussi aigu sur les inégalités sociales, sur les mœurs et les coutumes rurales. Ils n’avaient pas su s’en servir pour combattre et dénoncer ces inégalités. Par contre, ils tentaient de dépeindre avec beaucoup de finesse et de justesse la couche sociale la plus déshéritée sans être obligés de la défendre à cor et à cri.

Est -ce pour cela qu’on leur reproche le manque de combativité et de réalisme, la tiédeur dans leur manière de dépeindre les réalités de la société urbaine et l’imprégnation d’une culture à l’occidentale. Il est certain que l’épisode des Contes de Musset a pu servir de modèle à Khái-Hưng car l’héroïne de la nouvelle « Anh Phải Sống« , la jeune femme du maçon vietnamien Thức, se laissa couler dans les flots comme Madame des Arcis des Contes « Pierre et Camille » d’Alfred de Musset en 1844. Mais Khái-Hưng a eu le mérite de savoir donner à sa héroïne la noblesse et la grandeur dans la tradition vietnamienne.

On ne peut pas remettre en doute non plus leur patriotisme, leur engagement politique auprès des mouvements nationalistes vietnamiens. A cause de leurs orientations politiques nationalistes et surtout à cause de leur simple idéalisme, tous les deux ont péri comme leurs héroïnes respectives dans « Tu dois Vivre » de Khái Hưng et dans  » Une silhouette dans la brume  » de Nhất Linh. Khái-Hưng est décédé en 1947 dans des conditions mystérieuses près du débarcadère Cửa Gà dans le district de Xuân Trường ( province Hà Nam Ðịnh) tandis que Nhất Linh, déçu d’être incompris, s’empoisonna le 7 Juillet 1963 à Saïgon.

butviet

Leur vie, tous les deux ont essayé de la mener comme leurs héroïnes avec un stoïcisme exemplaire. Leur héritage littéraire qu’ils ont laissé au peuple vietnamien est inestimable.

En un mot, ce sont non seulement les pionniers de la littérature moderne du Vietnam mais aussi les romanciers les plus romantiques que le Vietnam ait connus.

[Return LITTERATURE]

 

 

 

 

 

 

 

 

Being scholar (Sĩ Phu)

mandarin

Vietnamese version

French version

Young or old, a scholar (Sĩ) is always well considered in the Vietnamese society. Much regard is given to him as well as the first place in social hierarchy before the farmer (Nông), the craftman ( Công ), and the merchant ( Thương ). That’s why the latter does not cease to ridicule him in folk songs.

Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm

Never marry a student, His long back costs a lot of fabrics
Once full, he just keeps lying downischol

Equipped with intellectual kowledge, the learned man does not let himself be upset by these remarks and tries to reply with a snicker:

Hay nằm đã có võng đào
Dài lưng đã có, áo trào nhà vua
Hay ăn đã có thóc kho
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm

Lying down, here is the luxury hammock
My long back, this is the gown granted by the King
Eat until full, there is plenty of rice in the warehouse
I don’t have to worry, just eat until full, then lie down and rest

This consideration dated back from the time when Confucianism was implemented as the single model structure of the society. The recruitment of the learned man as a mandarin was essentially based on the literary contests which took place every three years at the great temple of Confucius or the Temple of Literature (Văn Miếu). This temple was built by King Lý Thánh Tôn in 1070 and was changed to The College of the Nation’s Children (Quốc Tự Giám) in 1076. From 1484, the name of the scholar who passed the mandarinal contests was inscribed on a stele including his date of birth and his works. This practice of inscription on the stele was stopped only in 1778. Therefore, the dream of passing the mandarinal contests became an obsession for the majority of the learned men. Some of them passed their tests with an astonishing ease such as Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu văn An and Lê Quí Ðôn. Others failed several times as was the case of the learned man Trân Tế Xương whose poems always convey a caustic irony. His everlasting failure has influenced his works enormously. Besides litterary knowledge, the passing candidate or future mandarin must possess all the concepts of mandate of Heaven, filial piety, loyalty to the king (Nghĩa tôi ) and all the values that provide a cohesion to the confucian vision. Armed with these concepts, the learned man will try to accomplish his mission not only until the end of his days but also to the detriment of his life.

It was the case of the poet laureate Nguyễn Du who prefered retiring to serving the new regime after the fall of the Lê dynasty. It was also the case of the learned man Phan Thanh Giản who decided to take his own life with poison while advising his children to farm the land and not to accept any position during the French occupation of Cochinchina in 1867. As for the learned man Nguyễn Ðình Chiễu, author of the popular poem Lục Vân Tiên and one of the noblest figures of scholars, he never stopped giving moral support to the resistance during the colonial time.

Pictures gallery

  

In his Confucian vision, the scholar tried to maintain at any costs and strictly apply these principles unless the king becomes no longer worthy of the obedience owed to him. In this case, the learned man being keen on justice, may overthrow the king because the latter has been dispossessed of the mandate of Heaven. It was the case of Cao Bá Quát who participated in the famous Locust uprising ( Giặc Châu Chấu ) in the name of the Le family against king Tự Ðức, and who was captured and executed by the latter in 1854.

Although the Scholar was one of the cornerstones of a society upon which rested so many Vietnamese dynasties to govern the country and the legitimate defender of moral values particularly the five human relations ( Ngũ Luân ), i.e. between the King and his subordinates, the Father and his son, the Husband and his wife, the Brother and his younger siblings, and the Friend and his friend), which enables us to have a social cohesion and a national identity through centuries, He is however the factor of inertia and cultural isolationism which proved to be mortal for the Nguyễn’s Empire since 1840.

While continuing to underestimate the foreign power and by maintaining his conservatism, the Scholar was incapable of adapting to modernizational reforms advocated by the modernistic learned man Nguyễn Trường Tộ. Thus, He became the major obstacle to reforms that Vietnam needed in facing the ambitions of the foreign powers. This compelled Him to disappear at the same time with the Empire during the French conquest.

The Scholar formed part of a population of 40,000 learned men, approximately 20,000 of whom were holders of ranks in 1880. The last learned man known for his patriotism and reformism was Phan Chu Trinh. This one was in favor of reforms and insisted on the priority of total progress of society, of the diffusion of the modern knowledge on simple political independence.

His banishment to Poulo Condor and especially his death in 1926 has brought an end to the dream of all Vietnamese to find an independent Vietnam with a policy of non-violence and gradual decolonization that he advocated and defended with enthusiasm and conviction for so many years.

 

He tried to reveal his state of mind in his poem entitledphanchutrinh

The candle

He wants the flame to shed light to the bottom of darkness
Because his heart is burned with anxiety of lighting
But the half-opened door lets in the north wind
In the ending night, with whom to share his tears?

Phan Chu Trinh

It was the tears of the last great Vietnamese learned man. But it is also a cry of despair of a great Vietnamese patriot facing the destiny of his country.

cierge