Phật Giáo Viêt Nam


Phật Giáo Viet Nam

Version anglaise
Version française

Không ai biết được một cách chính xác Phật Giáo được du nhập vào Vietnam ở thời gian nào nhưng theo nhà học giả Phan Lạc Tuyên thì các tu sĩ Ấn Độ đã có mặt ở Vietnam từ đầu thế kỷ Công Nguyên vì dựa trên câu chuyện của Chử Đồng Tử sau khi gặp một tu sĩ Ấn Độ, Chử Đồng Tử bắt đầu kết nạp với đạo Phật. Đó là cũng thời kỳ Tam Quốc mà Vietnam là một tỉnh Trung Hoa (Giao Châu) dưới sự quản trị của Sĩ Nhiếp (Shi Xie). Cũng là thời mà Vietnam thuộc về Đông Ngô của Tôn Quyền (Sun Quian). Rất sùng đạo Phật, mẹ của Tôn Quyền thường mời các tu sĩ ở Lũy Lâu (Bắc Ninh, Vietnam) đến thủ đô Kiến Nghiệp(Jiany), thuộc về thành phố Nam Kinh hiện nay để nghe giảng kinh và bình luận về các sách lễ Ấn Độ (sutra) của Phật giáo.

Thời đó, trung tâm Phật Giáo Lũy Lâu (Bắc Ninh) rất nổi tiếng và quan trọng nên có tá túc một số tu sĩ như Khâu Đà La (Ksudra), Mahajivaca (Ma Ha Kỳ Vực), Kang-Sen Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian (Đàm Thiên). Là một pháp sư, khi trở về Trung Hoa có tường thuật lại với vua Tùy Văn Đế (Sui Wendi) về sự tiếntriển của Phật giáo Vietnam. Giao Châu đã có Phật giáo trước chúng ta vì ngoài việc có hai mươi ngôi bảo sát (chùa), còn có hơn 500 tu sĩ và 15 tập kinh lễ được dịch.

Chứng tỏ là lúc đó Phật giáo đã phồn vinh ở Việt nam.Cũng nên cần biết là Phật giáo đã có mặt ở Chămpa rất sớm. Trong các biên sử của Trung Hoa, có nói đến việc tướng Lưu Phương (Lieou Fang) của nhà Tùy sau khi cướp bóc ở thủ đô Điền Xung (Kandapurpura) của vua Champa Phạm Phàn Chí (Sambhuvarman), có mang về nước 1350 bản văn Phật giáo được đóng thành 564 quyển. Sau một cuộc hành trình đường biển ở Đông Ấn, khi trở về Trung Hoa, một tu sĩ nổi tiếng Nghĩa Tịnh (Yijing) có đề cập đến Champa và có nói vương quốc nầy là một trong những nước Đông Nam Á xem trọng lý thuyết đạo Phật dưới thời kỳ ngự trị của Vũ Tắc Thiên (Wu Ze Tian) (Nhà Đường).

Tuy rằng Viet Nam là một tỉnh lị của Trung Hoa vào thời đó (từ -111 đế n 933) nhưng Viet Nam vẫn còn là một trạm tiếp nối thật sự giữa Trung Hoa và Ấn Độ. Viet Nam được tiếp thu rất sớm Phật pháp từ đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch vì Viet Nam nằm ở bên cạnh các nước như Phù Nam và Chămpa thường thông dùng chữ Phạn của các kinh Phật và còn đươc các thương gia Ấn Độ ở lại để nghĩ, cung cấp và trao đổi hàng hoá (lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi vân vân…) vì Ấn Độ thời đó có liên hệ thương mai trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải như Ðế quốc La Mã. Phật giáo đại thừa nẩy nở ở Ấn Độ với các trung tâm AmaravatiNagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông nam Ấn Ðộ (Andhra Pradesh) khiến một số tăng sĩ theo thuyền nhân lúc đó đến Đông Nam Á qua các bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ để truyền bá đạo. Phật giáo ở Giao Châu do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp chớ không phải đến từ Trung Hoa.

Phật giáo Việt nam là Phật giáo đai thừa thường quan tâm nhiều đến sự giải thoát cho tập thể và quần chúng hơn là cho cá nhân còn Phật giáo tiểu thừa thì được xem là kết quả của bao nhiêu năm cố gắng tu luyện mà con người có được để tỉnh ngộ và trở thành Bồ Tát. Buổi ban đầu, Phật giáo Việt Nam cũng không có gặp sự trở ngại nào cả vì Phật giáo chấp nhận đạo đa thần truyền thống của người dân Việt. Phât giáo chỉ có những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ (lạy Phật, cúng dường, bố thí vân vân…) chớ chưa có sự học hỏi về kinh kệ và chế độ tăng sĩ. Phật thì chỉ biết Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Ðăng (Dipankara) vì các vị nầy che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi. Các truyền thuyết như Thích Quang PhậtMan Nương Phật Mẫu được xuất hiện ở thời gian có sự du nhập của thiền sư Thiên Trúc Khâu Đà La (Ksudra) ở Viet Nam.

Qua các truyền thuyết nầy, Man Nương sau khi viện tịch trở thành Phật mẫu. Các truyền thuyết nầy mới dẫn chứng việc hòa nhập các tín ngưỡng dân gian vào Phật giáo một cách dễ dàng. Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn, Phật giáo hội nhập rất sớm, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và đuợc tồn tại đến thế kỷ thứ năm. Dưới thời kỳ Bắc thuộc, thái thú Sĩ Nhiếp (177-266) đi trong thành phố thường có các thầy tu người Hồ (Ấn Độ) hay đến từ Trung Á hộ tống. Vào cuối thế kỷ thứ 2, có một trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu(Bắc Ninh), thủ đô của Giao Châu. Rất có nhiều tu sĩ Ấn Độ và ngoại quốc đến đây tá túc giảng đạo khiến Giao Châu trở thành vài năm sau là một trung tâm dịch các kinh lễ sutra mà nổi tiếng nhất là kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmasamadhi) được dịch bởi thầy tu Chi Cương Lương Tiếp (Kalavisi) vào khoảng thế kỷ thứ 3.

Cũng cần biết là trong thời gian 6 năm (542-547) mà Lý Bí hay là Lý Nam Đế dành được độc lập thìông có công xây cất chùa nổi tiếng Khai Quốc mà nay là Trấn Quốc ở Hànội. Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh thì người ta lầm lẫn trong quá khứ là tu sĩ Ấn Độ Ti Ni Lưu Đà Chi là (Vinaturici) người du nhập thiền đạo vào Vietnam. Trong thời gian ở Luy Lâu (năm 580), ông có ở tu viện Pháp Vân thuộc về phái thiền. Cũng thời gian đó thì tu sĩ Quán Duyên đang dẫn dạy thiền ở nơi nầy. Lúc đó có rất nhiều tu sĩ ở đây sang Trung Hoa dạy thiền trước khi Bodhidharma (Bồ Đề Đạt Ma) đến nước nầy và được xem là tổ sư của thiền Trung Hoa và người sáng lập ra võ công phu (Kongfu) Thiếu Lâm Tự. Ngày nay được mới biết rỏ là tu sĩ Khương Tăng Hội (Kang-Sen Houci), người Khương Cư (Sogdiane) mới là người có công sáng lập thiền đạo ở Vietnam chớ không phải Ti Ni Lưu Đà Chi (Vinitaruci).

Phật giáo Viet Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ và có được một thời vàng son sau khi đất nước khôi phục lại được độc lập với Ngô Quyền. Về sau dưới triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần, Phật giáo còn được xem chính thức là quốc giáo.

[Phật giáo dưới thời Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần]

[Return RELIGION]

Công Giáo Viet Nam (Le catholicisme vietnamien)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Không tựa như các tôn giáo khác, Công giáo vô cùng gặp nhiều trở ngại khi bắt đầu gia nhập vào Việt Nam (đầu thế kỷ XVI). Điều này phần lớn là do các nhà truyền giáo từ chối không thừa nhận và sáp nhập chuyện thờ cúng tổ tiên và các phong tục địa phương như đa thê, tín ngưỡng đa thần vân vân…. vào tín ngưỡng công giáo nhất là ở thời điểm Việt Nam đang bị rối loạn bởi một cuộc chiến tranh nội bộ không ngừng (Trịnh-Nguyễn). Đây cũng là thời kỳ Việt Nam có một số phận và một kịch bản tương tự như Nhật Bản với một triều đại hợp pháp dưới sự giám hộ của một gia đình quyền lực cha truyền con nối mà được cha Alexandre de Rhodes nhận xét trong cuốn sách « Lịch sử của Vương quốc Bắc Kỳ ».

Ông nhấn mạnh trong quyển sách những gì chúng ta nói về « chúa » có liên quan đến những gì chúng ta kể về « daishi » của người dân Nhật. Đó là lý do tại sao trong thời kỳ này, Công giáo được tiếp thu một cách thất thường bởi hai gia đình cai trị, họ Trịnh ở miền Bắc (Đàng Ngoài) và họ Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong) với một cuộc xung đột không ngừng  giữ  vua  làm đứa con tin. Họ thường thay phiên nhau dung tha cấm kỵ và thậm chí ngược đãi nhửng người công giáo nữa. Mặc dù vậy, Công giáo bắt đầu có được sự ưu ái với những người bất hạnh và triều đình qua cha Alexandre de Rhodes.

 
alexandre_de_rhodes

Alexandre de Rhodes 

Ông nầy là một nhân vật xuất sắc với khả năng ngôn ngữ phi phàm. Ông sinh ra ở Avignon năm 1591 và xuất thân từ một gia đình thương nhân có lẽ là người Do Thái. Ông đuợc chọn vào thời điểm đó để trở thành người lãnh đạo và nhà diễn viên thiết yếu của các phái bộ công giáo ở vương quốc Bắc Kỳ. Ông cố gắng giành được sự ưu ái của các lãnh chúa qua những người thân cận của họ với những món quà đặc biệt như các đồng hồ và sách toán. Sự thành công của ông được thấy rõ ràng ở miền Bắc với chúa Trịnh Tráng. Ngược lại ở miền nam ông bị Sãi vương đuổi mặc dù ông đã thành công trong việc cải đạo về sau nầy một người thân thuộc của Sãi vương, bà Mary Madeleine bằng cách rữa tội. Bị thất bại trong cuộc chinh phục Đàng Trong (miền nam), chúa Trịnh Tráng đổ lỗi  nầy cho người nước ngoài  nhất là các nhà truyền giáo công giáo. Sau đó Trịnh Tráng cấm việc cải đạo nếu không tuân sẻ bị xử tử. Nhà truyền giáo bền bỉ Alexandre de Rhodes cuối cùng bị trục xuất ra khỏi Vietnam vào tháng 5 năm 1630 trong lúc đó ông để lại ở đất nước nầy ít nhất 50.000 con chiên được giám sát bởi các nhà giáo lý công giáo và một gia tài văn hóa mà không có người dân Việt nào phủ nhận được ngày nay.

Tên của ông được tiếp tục trân trọng trong ký ức tập thể của người dân Việt vì nhờ ông mà Việt Nam là một quốc gia duy nhất ở Viễn Đông có một văn tự la mã hóa. Được có nguồn cảm hứng từ các công việc la tinh hóa tiếng Trung Hoa của hai ông  RicciDiego de Pantoja, Alexandre de Rhodes đã thành công cung cấp  không chỉ một hệ thống ký hiệu ngôn ngữ dựa trên các âm của tiếng Việt và được bổ sung cho trường hợp này bằng một hệ thống các dấu trọng âm được thấy sử dụng trong các tiếng Ba Lan,  Hung Gia lợi và Bồ Đào Nha mà còn là một công cụ không thể  so sánh được để  thoát được ành hưởng Trung Hoa về mặt trí tuệ và phổ biến văn hóa  ở Viễn Đông. Ông cho xuất bản  một cuốn từ điển Việt-Latinh-Bồ Đào Nha vào năm 1651. Vì bị trục xuất khỏi Việt Nam, công việc của ông đành hoãn lại và được hai đức cha Pigneaux de BeahaineTaberd tiếp tục bổ túc và hoàn thành sau nầy.

Công giáo Việt Nam có được  một thời gian tạm yên với cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn và đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của vua  Gia Long. Ông được đức cha Pigneau de Behaine bảo vệ và che giấu khi ông còn là một hoàng tử trẻ Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn săn đuổi và truy nã ở phía nam của đồng bằng sông Cửu Long (Hà Tiên, Phú Quốc). Để bày tỏ lòng biết ơn với một người đã từng cho ông thức ăn và giúp ông chinh phục lại ngai vàng với  các lính đánh thuê người Pháp, vua Gia Long lúc nào cũng cố giữ một thái độ khoan dung và cởi mở như hoàng đế nhà Thanh Khang Hy ở Trung Quốc (1661-1722). Ông biết tôn trọng trong thời gian ngự trị, các nhà truyền giáo và các con chiên Kitô mặc dù ông vẫn khuyến khích sự hồi sinh của Nho giáo truyền thống. Sự qua đời của ông (năm 1820) được  tiếp theo đó với bốn mươi năm hũy bỏ gần như hết,  tất các ảnh hưởng của châu Âu cùng các cuộc đàn áp chống lại người Công giáo dưới triều đại của các vua Minh Mạng, Thiệu TrịTự Đức.

Mặc dù vậy, Công giáo Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển một cách vất vã và tránh được nhờ  ở nơi con người Nguyễn Trường Tộ, sư ô hợp giữa tôn giáo và nước Pháp giã vời bảo vệ công giáo chống lại những kẻ vô thần. Ông sinh ra trong một gia đình công giáo ở Nghệ An (miền Bắc Việt Nam). Đồng hành cùng với đức cha Gauthier trong chuyến đi đến Âu Châu, ông đã có cơ hội theo dõi, tại thời điểm đó, các giáo trình tại Sorbonne (Paris). Với cái nhìn của một người Việt công giáo yêu nước và trí thức, có cơ hội đi ra nước ngoài, ông tiếp tục tin rằng cách duy nhất để cứu đất nước ra khỏi mối đe dọa từ nước ngoài và duy trì được nền độc lập đó là chính sách mở cửa các biên giới không chỉ cho người Pháp mà cho cả người Anh và Hà Lan và cần có một loạt các dự án cải cách chính trị, xã hội và công nghệ.

Nhờ thế Việt Nam mới tránh được sự cô lập, hiện đại hóa và có được trang bị các công nghệ tốt hơn để đối phó trước tham vọng lãnh thổ của các nước ngoài. Rất đáng tiếc giác thư của ông không được vua Tự Đức chấp nhận. Trước một nhóm quan lại Nho giáo thân cận của vua Tự Đức, ông buộc lòng phải xin nghỉ hưu vài năm sau đó. Ông về quê nhà và qua đời vào năm 1871. Ông mang theo ông nỗi đau và nỗi buồn của một người công giáo yêu nước để nhìn thấy đất nước mình chìm trong  sự hỗn loạn và vòng nô lệ. Bị giằng co giữa đức tin mãnh liệt và lòng yêu nước, Nguyễn Trường Tộ thành công cho chúng ta thấy đưỡc thái độ và cách cư xử mẫu mực của ông. Ông vừa là một người công giáo nhiệt thành mà còn là người bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Mặc dù có một thời gian dài quan hệ xung đột với tổ quốc, thường bị buộc tội thông đồng với người nước ngoài, trong suốt thời gian tồn tại, Công giáo Việt Nam đã cho thấy có không những khả năng kháng cự, nhẫn nhục và thích ứng mà còn có luôn cả sức mạnh, sức sống và sự tham gia tích cực. Nó còn mang tính cách xây dựng mà quốc gia này cần có trong những thời điểm đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Lúc nào cũng lo lắng cải thiện số phận của các người nghèo, Công giáo Việt Nam biết cách hành sự trong quá khứ cũng như hiện tại với các nổ lực nhân đạo và từ thiện xứng đáng trong tình yêu của Chúa Kitô thông qua các trường học, trại trẻ mồ côi vân vân … Nhờ đó, Công giáo  thành công xâm nhập được vào sự tập hợp của ba tôn giáo chính (Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo) và cuối cùng hoà mình vào  đời sống tâm linh của người dân Việt.

Công giáo đã từ lâu là một tôn giáo quan trọng của quốc gia. Với 8 triệu người Công giáo, Việt Nam trở thành là quốc gia công giáo thứ nhì ở Viễn Đông  đứng sau Phi Luật Tân.

Pictures Gallery

cong_giao

[Return RELIGION] 

Thủ Ấn ( Les Mudras du Bouddha)


Les gestes symboliques du bouddhisme

Version française
English version

 

Tùy thuộc quốc gia sản xuất, người thợ chạm có thể tạc một cách khác nhau các tượng Phật. Tuy nhiên cũng có những nghi thức bất biến mà người thợ chạm cần phải tôn trọng một cách tĩ mĩ  nhất là với các pho tượng Phật giáo. Đây là trường hợp mà các dấu hiệu thường được thấy qua  các động tác thân thể nhất là các cử chỉ của bàn tay Đức Phật (Mudras). Những dấu hiệu này thường  được bổ sung nhờ  tư thế của cơ thể (asana) khiến giúp  các tín đồ hiểu thấu đáo giáo lý và triết lý của đạo Phật. Vì vậy thường thấy  có sự liên kết những cử chỉ tượng trưng này với các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của Đức Phật (thiền dưới gốc cây bồ đề, gọi thổ điạ làm chứng, truyền giáo đầu tiên ở Sarnath, vân vân).

Thay vì các văn bản Phật giáo mà ít người có quyền truy nhập, các thủ ấn mang tính chất biểu tượng của bàn tay Đức Phật, mới là các công cụ truyền tải thực sự của Phật giáo. Hình ảnh đó mang lại một ý nghĩa sâu xa hơn bởi vì nó dựa trên những cử chỉ đơn giản và có thể làm thấu hiểu được ngay thay vì tất các văn bản Phật giáo đôi khi làm tín đồ không thể nào thông hiểu được. Ban đầu các thủ ấn được hình thành bởi các người tu luyện yoga và các linh mục của thời kỳ Vệ Đà ở Ấn Độ, sau đó  được lấy lại và giải thích theo các giáo phái Đại Thừa (Mahâyâna) để trở thành ngày nay một trong những kỹ thuật có  được những qui định rõ ràng.

Do đó, các thủ ấn tạo thành một ngôn ngữ cực kỳ huyền diệu bởi vì thông qua một số dấu hiệu và các biểu tượng nhất định, chúng ta có thể đoán nhận được không những một nhân vật  quan trọng nào đó mà luôn cả cương vị  cũng như đức tính của người đó trong đền Phật Giáo. Đó là trường hợp của  các chư thần Phật giáo như các Bồ Tát, A Di Đà vân vân …Các dấu hiệu nầy được tìm thấy thông thường ở các nghi lễ có mang tính chất tôn giáo (điệu nhảy, nghi thức, thiền định vân vân ..). Chúng ta cũng không quên nhắc đến những gì chúng ta  thấy qua các biểu tượng của đạo Ki Tô với các vị thánh thường được đặt ở lối vào thánh đường ở thời kỳ trung cổ.  Các thủ ấn được thấy thường ở chùa chiền là:

-Ấn giáo hóa (vitarka-mudrā)

-Ấn xúc địa  (bhūmisparśa-mudrā)

-Ấn thiền (dhyāni-mudrā)

-Ấn vô úy  (abhaya-mudrā) vân vân…

mudras

[Return RELIGION]

 

La pagode du Maître (Chùa Thầy)

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

 Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số, chùa Thầy  tọa lạc  ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, xã Sài Sơn và được xây dựng từ thời nhà Đinh. Chùa nầy là một trong ba chủa nổi tiếng nhất ở đất Hà Thành mà còn là chủa có liên quan mật thiết đến quãng đời sau cùng của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ông  thuộc thế hệ thứ 12 của  dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và còn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng Mật Tông qua những pháp thuật.  Ông là  thủy tổ múa rối nước. Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo, sáng tạo nên trò múa rối nầy  và truyền dạy cho dân chúng. Chính ở giữa hồ Long Trì mà ngày lễ hội thường  thấy ở thủy đình có trò múa rối nước.

 

Từ Đạo Hạnh không những  là một thiền sư rất uyên thâm hiểu biết mà còn là một danh nhân văn hóa. Chính vì vậy công lao của ông đóng góp với  đất nước và dân gian rất lớn  duới triều Lý cho nên ông được dân gian biết ơn sùng kính  thường gọi ông là Thầy, là Thánh hay Phật. Cuộc đời của ông cũng không thiếu màu sắc huyền thoại từ việc  hóa thân thành con trai của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, chính là vua  Lý Thần Tông sau này  đến  cái chết của ông được dân chúng thần thánh hóa trở thành cái chết đẹp và để trở thành người khác với cuộc sống mới   qua bài kệ thi tịch  của ông:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ sư kỉ độ tác kim sư.

Dịch nghĩa

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

 Ông trở thành  là người mở đầu cho dân gian  một tín ngưỡng thờ Thánh Tổ hòa trộn vào Phật giáo qua mô hình  « Tiền Phật – Hậu Thánh« . Đây cũng  là  một thể thức tôn sùng từ đó ở chùa của người dân Việt  dành cho những người có công đức hay  gần gũi và bảo trợ  dân gian. 

(*) Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội. 
Version française

Loin du centre-ville de Hanoïi de 20 km, la pagode du Maître est située au pied de la montagne Sài Sơn dans la commune du district Quốc Oai. Celle-ci fut édifiée à l’époque de la dynastie des Đinh.  Elle est  l’une des trois  pagodes  célèbres de la capitale Hanoï mais elle est liée intimement aussi à la durée de vie restante du moine zhen Từ Đạo Hạnh. Celui-ci appartint à cette époque à la douzième génération de l’école   Vinitaruci  et il fut considéré comme le représentant du bouddhisme tantrique à travers ses pouvoirs magiques. Il est aussi le créateur du spectacle des marionnettes sur l’eau. Étant passionné pour les danses et les  chansons  traditionnelles, il a appris au peuple  le théâtre populaire  ainsi que la façon de se distraire avec  les marionnettes sur l’eau.  C’est au milieu de l’étang du Dragon que se déroule fréquemment le spectacle des marionnettes sur l’eau à l’occasion des festivités locales. 

Từ Đạo Hạnh était non seulement  un moine ayant  une profonde connaissance mais aussi un illustre personnage culturel.  C’est pour cela que ses contributions étaient énormes   pour le peuple et le pays si bien que tout le monde  exprimait sa gratitude en l’appelant souvent « Maître », « Saint » ou « Bodhisattva ». Il ne manque pas la coloration mythique dans la vie de ce moine zhen. De son incarnation dans le personnage du roi Lý Thần Tông, fils de Lý Dương Hoán jusqu’à sa mort que le peuple a mystifiée en lui donnant une belle mort et une réincarnation avec une nouvelle vie à travers son  kê (une sorte de stance bouddhique): 

Le retour de l’automne n’accompagne pas celui des hirondelles,
Je désapprouve les gens continuant à s’accrocher à  leur vie avec tristesse et douleur  devant la mort
Il est déconseillé à mes disciples de  montrer trop d’attachements émotionnels à cause de moi,
Étant l’ancien maître,  j’ai incarné tant de fois pour devenir le maître d’aujourd’hui.(*)

Il  est le premier à introduire au peuple le culte des personnages déifiés dans le bouddhisme  à travers le modèle « Devant Bouddha-Derrière les Saints ou les personnages déifiés« . C’est une forme de vénération adoptée à cette époque  par les Vietnamiens pour exprimer leur gratitude envers tous ceux qui avaient la vertu et le mérite de les protéger dans le quotidien.

(*) Source : Ly Tran Poésie et littérature (Volume I), Maison d’édition des sciences sociales.

Version anglaise

Far from the city center of Hanoi by 20 km, the Master’s Pagoda is located at the foot of Sài Sơn mountain in the commune of Quốc Oai district. It was built during the Đinh dynasty. It is one of the three famous pagodas of the capital Hanoi but is also closely linked to the remaining lifespan of the monk zhen Từ Đạo Hạnh. He belonged at that time to the twelfth generation of the Vinitaruci school and was considered the representative of tantric Buddhism through his magical powers. He is also the creator of the water puppet show. Passionate about traditional dances and songs, he taught the people popular theater as well as how to entertain themselves with water puppets. The water puppet show frequently takes place in the middle of the Dragon pond during local festivities.

Từ Đạo Hạnh was not only a monk with profound knowledge but also an illustrious cultural figure. That is why his contributions were enormous for the people and the country, so much so that everyone expressed their gratitude by often calling him « Master, » « Saint, » or « Bodhisattva. » The mythical coloring is not lacking in the life of this venerable monk. From his incarnation as King Lý Thần Tông, son of Lý Dương Hoán, until his death, which the people mystified by giving him a beautiful death and a reincarnation with a new life through his kê (a type of Buddhist stance):

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

The return of autumn does not accompany that of the swallows,
I disapprove of people continuing to cling to their lives with sadness and pain before death.
My disciples are advised not to show too much emotional attachment because of me,
Being the former master, I have incarnated so many times to become today’s master.(*)

He was the first to introduce to the people the worship of deified figures in Buddhism through the model « In front Buddha – Behind Saints or deified figures. » This was a form of veneration adopted at that time by the Vietnamese to express their gratitude toward all those who had the virtue and merit to protect them in daily life.

(*) Source: Ly Tran Poetry and Literature (Volume I), Social Sciences Publishing House.

Pictures Gallery

pagode_thay

[Return RELIGION] 

Musée des beaux-arts (Bảo tàng mỹ thuật Hànội)

 

Bảo tàng mỹ thuật

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Tọa lạc ở giữa lòng thủ đô Hànội  ngang mặt Văn Miếu , bảo tàng mỹ thuật ít  được biết  so với bảo tàng dân tộc học.  Tuy nhiên chính là địa điểm không nên bỏ qua được cho những ai thích mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử cho đến ngày nay.  Chính ở  nơi nầy tìm thấy  ở ba tầng rất nhiều kiệt tác được phân phối trưng bài theo chủ đề và khám phá   các kỹ thuật gồm có nhiều lĩnh vực (như gốm, điêu khắc,  sơn mài,  tranh lụa hay giấy dó, nghệ thuật dân gian vân vân …). 

Gian nhà dành cho sơn mài rất tráng lệ với các tượng tổ sư của phái Thiền Tông và các vị Kim Cương ở chùa Tây Phương. Có thể nói các tượng nầy được xem như là đạt được đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ Việtnam dưới triều đại Tây Sơn dù thời đai nầy chỉ có tồn tại 14 năm  (1788-1802). Chính qua các tư thế và hình dáng đáng ngạc nhiên của các tượng mà nhận ra được không những sự thành hình phong cách cá biệt mà còn làm trội lên tính hiên thực và tính nhân văn.

Dù có tính chất tôn giáo, mỗi tượng là một kiệt tác được hoàn thành một cách tĩ mĩ bỡi người điêu khắc với chủ đích làm sao để nổi bật nét đặc thù cá tính, cảm giác và sùng kính mà họ  có. Có thể mất hai tiếng dẽ dàng khi đến tham quan bảo tàng mĩ lệ nầy. Ít có du khách lắm  nhưng cũng đáng  để đến tham quan khi có dip đến Hànội.

Version française

Le musée des beaux-arts est  situé en plein cœur de la capitale Hànội. Il est en face du temple de la littérature (Văn Miếu). Il est peu connu par rapport à celui d’ethnographie.  De la préhistoire jusqu’à nos jours,  l’art vietnamien y est bien présenté. On s’y voit proposer un très large éventail d’œuvres.   Celles-ci  sont réparties sur trois étages thématiques. On peut y découvrir l’ensemble des techniques: céramique, sculpture, laque, peinture sur soie et sur papier de mûrier, arts populaires etc.

La partie réservée aux laques est très magnifique. On y trouve  la belle collection des Bouddhas de la pagode Tây Phương. C’est le point culminant de la sculpture ancienne  du Vietnam  à l’époque de Tây Sơn. Cette dernière  ne subsiste que 14 ans (1788-1802). Ses statues sont dans des postures et des attitudes assez surprenantes.  On y voit  un style particulier mais aussi le réalisme et l’humanisme.   

Le sculpteur artisan réalise  chaque statue  avec soin malgré le caractère religieux. Il tente   de montrer la particularité de sa propre personnalité, ses sentiments et sa dévotion.  On peut  passer facilement  deux heures dans ce beau musée.  Il y a peu de visiteurs. Cela vaut quand même le détour lorsqu’on a l’occasion de visiter Hànội.

66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Fine art museum

Version anglaise

The Fine Arts Museum is located right in the heart of the capital, Hanoi. It is opposite the Temple of Literature (Văn Miếu). It is less well known compared to the Ethnographic Museum. From prehistory to the present day, Vietnamese art is well represented there. A very wide range of works is offered. These are spread over three thematic floors. One can discover all the techniques: ceramics, sculpture, lacquer, painting on silk and mulberry paper, popular arts, etc.

The section dedicated to lacquer is very magnificent. There is the beautiful collection of Buddhas from the Tây Phương Pagoda. It is the high point of ancient Vietnamese sculpture during the Tây Sơn period. The latter lasted only 14 years (1788-1802). Its statues are in quite surprising postures and attitudes. One can see a particular style but also realism and humanism.

The artisan sculptor carefully creates each statue despite its religious nature. He tries to show the uniqueness of his own personality, his feelings, and his devotion. One can easily spend two hours in this beautiful museum. There are few visitors. It is still worth a visit when one has the opportunity to visit Hanoi.

Galerie des photos

[RETURN MUSEUM]

Eglise Notre Dame de Paris (Nhà thờ Đức Bà Paris)

 

Notre Dame de Paris

Version française
Version anglaise
Version vietnamienne
Galerie des photos

Từ một nhà thờ nhỏ bé với phong cách xưa (romane) mà đến phong cách gothique thì có một đoạn đường khá dải hơn hai thế kỷ từ  1160 đến giữa thế kỷ 14, có nhiều sửa chữa và bổ túc khiến nhà thờ nầy trở thành một kiệc tác của Paris mà không ai có thể quên khi đến tham quan Paris. Số lượng người đi xem  là 13 triệu người mỗi năm có nghĩa là hơn 30.000 du khách mỗi ngày. Nó luôn luôn đứng đầu trong danh sách các nơi tham quan ở Paris, trước tháp Eiffel  và điện Louvre. Nhà thờ nầy là một trong những nhà thờ xây dựng đầu tiên  với phong cách gothique. Phong cách nầy dựa trên các vòm mà có ở các nơi bắt tréo hình nhọn  và gân cung. Nhờ vậy trọng lượng của vòm nó không dựa trên hai trụ mà 4 trụ. Phong cách nầy đem lại không những sự  sáng sủa nhờ có nhiều cửa sổ mà còn cao vút tạo ra sự tao nhã lạ thường. Tại sao gọi gothique ? Thuật ngữ gothique dùng  bởi người La Mã để ám chỉ dân  Goth, dân mọi rợ đến từ phiá  Bắc (người Pháp thưở xưa). Nhà thờ Đức Bà được  sùng tu lại sau khi bi hỏa hoạn xảy ra vào ngày 15 Tháng tư 2019 và mở lại cho dân chúng từ cuối năm 2024. 

Version française

Partant d’une église romane jusqu’à devenir une église gothique, il y a un long chemin à parcourir prenant plus de deux siècles, de 1160 jusqu’au milieu du 14ème  siècle.  Beaucoup de modifications et d’ajouts étant ajoutés, elle devient ainsi un chef-d’œuvre de Paris que personne ne peut oublier  lors de son passage à Paris. Le nombre de visiteurs s’élève à 13 millions par an ou plus 30.000 touristes par jour.  Elle est toujours la première sur la liste des sites touristiques à Paris devant la tour Eiffel et le musée du Louvre. 

Cette église est l’une des premières églises construites avec le style gothique. Celui-ci est basé essentiellement sur la technique de la voûte sur croisée d’ogive  (ses arcs brisés se croisent en  diagonales et s’appuient non pas sur deux piliers mais sur quatre piliers). Cette technique apporte non seulement la lumière grâce à un nombre élevé de fenêtres (vitraux)  mais aussi l’élévation et la finesse extraordinaire. Pourquoi gothique ? Ce mot est employé par les Romains pour faire allusion à des Goths,  des peuplades barbares situées dans le Nord de l’Europe (les Français d’autrefois). Notre Dame de Paris à Paris est restauré cause d’une incendie ayant eu lieu le 15 Avril 2019 et est réouvert au public à la fin de l’année 2024. 

English version

Starting from a Romanesque church to becoming a Gothic church, there is a long journey spanning more than two centuries, from 1160 until the mid-14th century. Many modifications and additions were made, thus it became a masterpiece of Paris that no one can forget when passing through Paris. The number of visitors rises to 13 million per year or more than 30,000 tourists per day. It is still the first on the list of tourist sites in Paris, ahead of the Eiffel Tower and the Louvre Museum.

This church is one of the first churches built in the Gothic style. This style is essentially based on the technique of the ribbed vault (its pointed arches cross diagonally and rest not on two pillars but on four pillars). This technique not only brings light thanks to a large number of windows (stained glass) but also extraordinary elevation and delicacy. Why Gothic? This word was used by the Romans to refer to the Goths, barbarian peoples located in Northern Europe (the French of old). Notre Dame de Paris in Paris is being restored due to a fire that occurred on April 15, 2019, and is reopening to the public at the end of 2024.

Galerie des photos

 

Notre Dame de Paris

  
 

[Return PARIS et ses sites]

Dâu pagoda (Chùa Dâu)

Version française
Version vietnamienne
Galerie des photos

Pagode Dâu,Vietnamese buddhism cradle

 

 Dâu pagoda  visible from its porch

 
  About 30 kilometers from Hanoï, Dâu pagoda is the most religious building in Vietnam because it was constructed in early Christian times in Dâu region known frequently during this period under the name “Lũy Lâu”. In Chinese times, Lũy Lâu was considered as the capital of Giao Châu (Giao Chi) from 111 B.C. until 106 B.C. At that time, according to Vietnamese researcher Hà Văn Tấn , the buddhist influence coming from India was accepted very early until the 5th century. Chinese governor Si Xie ( Sĩ Nhiếp in vietnamese) (177-266) also was accompagnied   in town by clerics coming from India (người Hồi) or Central asia (Trung Á) for each trip. At the end of the second century, Luy Lâu becames the first vietnamese buddhist centre  with 5 old pagodas: Dâu pagoda devoted to cloud genius  Pháp Vân (“thần mây”), pagoda Đậu to rain genius Pháp Vũ ( “thần mưa”), Tướng pagoda to thunder genius Pháp Lôi  (“thần sấm”),   Dàn pagoda to thunderbold genius Pháp Điện ( “thần chớp”) and main pagoda belonging to the mother  Man Nương of  that 4 geniuses (or Tứ Pháp in vietnamese). The Sino-Vietnamese words Dâu, Đậu, Tướng, Dàn  were preferred by the Vietnamese instead of using the names  Mây, Mưa, Sấm , Chớp (Cloud, rain, thunder and thunderbold) in close relation with the natural force found in the agricultural environment. The system based on that 4 geniuses evokes the subtle association between the buddhism  and popular beliefs coming from a  primitive society in Vietnam

Accordingly, a lot of  Indian and foreign religious such as  Ksudra (Khâu Đà Là), Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaca), Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian did not wait long to stay at Luy Lâu and to preach the Buddhist teaching. The number of monks is so important that Luy Lâu becames in just a few years later the translation centre for sutras among which was found the famous sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) translated by kouchan monk Cương Lương Lâu Chi (Kalasivi) in the  3th century. According to  zen  monk  Thích Nhất Hạnh, one had the tendency to believe by mistake in the past that   Indian monk Vinitaruci introduced the Vietnamese Dhyana buddhism (Thiền) at the end of 6th century. During its passage to Luy Lâu in 580, he lived in the Pháp Vân monastery belonging to the dhyana school. It was during this time that  dhyana monk Quán Duyên  was beginning to teach here  the dhyana. 

Other monks went in China for preaching the Buddhist law before the arrival of  famous monk  Bodhidharma known as  the partriach of  dhyana  school  and Chinese martial art.  By now, it is known that Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) monk coming from Sogdiana, had the merit of introducing the dhyana buddhism in Vietnam.  The Buddhism began to implant itself at Lũy Lâu via  Man Nương history  and encountered no reluctance from the Vietnamese because it accepted the  tolerance and the traditional paganism. Thích Quang Phật and and Man Nương Phật Mẫu legends attested the easyness to aggregate  popular beliefs with  the buddhism.  One can say the marriage is successful between   buddhism and popular beliefs (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) found in the corner.  The Buddha’s birthday also was  that of 4 geniuses who became Buddhas. The mother Man Nương of these 4 geniuses was also venerated   as Avalokiteśvara. One did not hesitate to install the Buddha altar in places where these 4 geniuses have been venerated. From now on, the buddhism began to propagate longer in other regions of Tonkin.  The Vietnamese buddhism was the Mahayana and took two ways in its propagation: seaway from South Vietnam (Funan and Champa) and land way from North Vietnam via Yunan.

Pictures gallery

[Return RELIGION] 

 

 

Vietnamese buddhism (Phật giáo Vietnam)

French version

Vietnamese version

The exact date of the introduction of Buddhism to Vietnam is not known. According to the Vietnamese scholar Phan Lạc Tuyên, Indian monks came to Vietnam at the beginning of the Christian era based on the story of Chu Đồng Tử, who was initiated into Buddhism during his encounter with an Indian monk. This was also the period of the Three Kingdoms (Tam Quốc) when Vietnam was a Chinese province called Jiaozhi (Giao Châu) under the governance of Shi Xie (Sĩ Nhiếp). At that time, Vietnam belonged to the kingdom of Wu (Đông Ngô) led by Sun Quan (Tôn Quyền), whose mother, a fervent disciple, brought monks from Luy Lâu to Jianye (the capital of the kingdom of Wu), which corresponds to the current city of Nanjing (Nam Kinh), to ask them to preach and comment on Buddhist sutras.

The Buddhist center Luy Lâu became so prestigious and important that it soon attracted many famous Indian or foreign monks such as Ksudra (Khâu Đà Là), Mahajivaca (Ma Ha Kỳ Vực), Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian (Đàm Thiên). Being the senior monk of the Sui dynasty, the latter, upon his return to China, had the opportunity to report to Emperor Sui Wendi (Tùy Văn Đế) on the development of Vietnamese Buddhism: the province of Giao Châu had adopted Buddhism before us because, in addition to the construction of 20 pagodas, it had more than 500 monks and 15 collections of translated sutras.

This undeniably proves that Buddhism was flourishing at that time in Vietnam. It is important to recall that in the Chinese annals, there is mention of the pillaging by the Chinese army under General Lieou Fang (Lưu Phương) of the Sui dynasty (nhà Tùy). This general devastated the capital of Champa, Điển Xung (Kandapurpura), under the reign of King Sambhuvarman (Phạm Phạn Chí in Vietnamese) and took with him 1,350 Buddhist texts compiled in 564 volumes. Champa very early on promoted the establishment of Buddhism, as it was already mentioned by the famous monk Yijing (Nghĩa Tịnh) upon his return from his maritime journey in the Insulinde as one of the Southeast Asian countries that held the Buddha’s doctrine in high esteem at the end of the 7th century under the reign of Wu Ze Tian (Vũ Tắc Thiên) of the Tang dynasty (Nhà Đường).

Although Vietnam was a Chinese protectorate (from 111 BC to 931 AD), it was nevertheless the true relay between China and India. The establishment of Buddhism was very early in this country at the beginning of the Christian era because Vietnam was not only next to countries using Sanskrit for Buddhist texts such as Founan (Phù Nam) and Champa but also the mandatory passage point for Indian merchants. They needed to rest, replenish food supplies, and exchange goods (silk, spices, eaglewood, cinnamon, pepper, ivory, etc.).

At that time, India had established trade relations directly with the Middle East and indirectly with Mediterranean countries such as the Roman Empire. Mahayana Buddhism flourished in India with the centers of Amaravati and Nagarjunakonda in the coastal region of southeastern India (Andhra Pradesh). This encouraged Indian monks to accompany sailors along the coasts of Malaysia, Funan, and Vietnam with the intention of spreading the faith. That is why it can be said that Vietnamese Buddhism came directly from India with Indian monks, but in no way was it brought by the Chinese.

Vietnamese Buddhism, whose current is Mahayana, takes more into account collective salvation than individual salvation, whereas Theravada Buddhism considers salvation as the result of efforts made by the individual to achieve enlightenment and become a bodhisattva. At the beginning of its establishment, Buddhism encountered no resistance from the Vietnamese because it easily accepted their traditional paganism. It only had some simple and modest religious activities such as the veneration of the Buddha, offerings, acts of mercy, etc. Buddha was none other than Quán Thế Âm (Avalokitesvara) and Nhiên Đăng (Dipankara) because these figures protected sailors during sea voyages. The first Vietnamese Buddhist legends, Thích Quang Phật and Man Nương Phật Mẫu, also appeared at this time with the arrival of the monk Ksudra, also known as Kalacarya (the Black Master), in Vietnam.

It is through these legends that Man Nương, upon her death, became an object of worship under the name « Mother Buddha or Phật Mẫu » by the Vietnamese. These legends thus testify to the ease of integrating popular beliefs into Buddhism. Furthermore, this religion, imported early on, was under Indian influence which, according to researcher Hà Văn Tấn, lasted until the 5th century.

The Chinese governor Sĩ Nhiếp (177-266) was often accompanied in the city by religious figures coming from India (người Hồ) or Central Asia (Trung Á) on each outing. The number of foreign monks was so significant that Giao Châu became a few years later the center for translating sutras, among which was the famous Saddharmasamadhi sutra (Pháp Hoa Tam Muội) translated by the monk Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi) in the course of the 3rd century.

It is also important to note that in a short period of six years (542-547), King Lý Nam Đế (Lý Bí) of the early Lý dynasty succeeded in freeing Vietnam from Chinese domination and ordered the construction of the Khai Quốc pagoda (Foundation of the Nation), which today is the famous Trấn Quốc pagoda in Hanoi. According to the Zen monk Thích Nhất Hạnh, it was mistakenly believed in the past that the Indian monk Vinitaruci introduced Vietnamese dhyana Buddhism (Thiền) at the end of the 6th century. During his stay in Lũy Lâu in the year 580, he resided in the Pháp Vân monastery belonging to the dhyana school. It was also at this time that the dhyana monk Quán Duyên was teaching dhyana there. Other Vietnamese monks had gone to China to teach dhyana before the arrival of the famous monk Bodhidharma, recognized as the patriarch of the Chinese dhyana school and the patriarch of Kungfu.From now on, it is known that it was the monk Kang-Sen-Houci of Sogdian origin (Khương Tăng Hội), instead of Vinitaruci (Ti Ni Lưu Đà Chi), who deserves the credit for introducing dhyana Buddhism to Vietnam.

Vietnamese Buddhism began to flourish and reach its golden age when Vietnam succeeded in regaining independence under General Ngô Quyền. Under the Đinh, Early Lê, Lý, and Trần dynasties, Buddhism was recognized as the state religion.

[Buddhism under the Đinh, Tiền Lê, Lý, and Trần dynasties]

[Return RELIGION]

Bái Đính (English version)

 

baidinh

Tràng An landscaped  complex

French version 

Pagoda Bái Đính

Located on the karst mountain range of Tràng An in Ninh Bình, the Bái Đinh pagoda has a long history dating back several centuries. Its fame has been attested for a long time under successive dynasties: Đinh, Early Lê, and Lý. Today, it has become a religious complex where one can find not only the ancient temple but also new temples under construction since 2003. The Bái Đính pagoda is considered in Southeast Asia as the pagoda housing the gigantic bronze Buddha statue imported from Russia. It has a height of 16 meters and weighs 100 tons. The 500 white marble arhats of the pagoda are spread over approximately 2 kilometers along a corridor. This complex has a total area of 539 hectares, of which 27 hectares are attributed to the old pagoda, 80 hectares to the new temples, a Buddhist study center, reception areas, parking lots, as well as a system of lakes 

World cultural heritage of Vietnam

 

Ninh Bình (Hạ Long cạn

 

 

The vietnamese catholicism (Công giáo Vietnam)


Vietnamese version
French version

Contrary to other religions, Catholicism stumbled tremendously over several hardships at the beginning of its establishment in Việt-Nam (at the start of 16th century). This was due a great deal to the missionaries’ refusal to adhering and integrating the cult of ancestors and customs (polygamy, belief in spirits etc…) into Catholicism and at a time when Vietnam was troubled by ceaseless internal wars.

It is the period when Vietnam knew the same fate and condition as Japan’s with a legitimate dynasty put under the guardianship by a family of hereditary ministers. This was what father Alexandre de Rhodes noticed in his book « History of the Kingdom of Tonquin« . He stressed that what people said about Tonkinese Chúa has a lot to do with what was told about Japanese Daishi. Therefore Catholicism was perceived during that period in variable manner by the governing families Trịnh in the North and Nguyễn in the South in their never ending conflict, taking the king as their hostage. It was alternatively tolerated, forbidden or even persecuted. In spite of that, Catholicism began to find a favorable echo among the deprived and even in the royal court in the person of Alexandre de Rhodes himself.

Alexandre de Rhodes

He was an outstanding individual with his exceptional linguistic capabilities. He was born in Avignon in 1591 and issue of a family of merchants probably in Israelite birth. He was the one who was chosen to head and manage catholic missions to the Kingdom of Tonquin.

He tried to gain the favor of the lord by means of their entourage and gift giving, in particular clocks and books on mathematics. Thus, he found a very neat success with lord Trịnh Tráng in North Vietnam. On the other hand, he was chased by lord Sãi Vương in the South even though he had succeeded in converting a relative of his, baptized as Marie-Madeleine. Appalled by failure against the South, lord Trịnh Tráng held foreigners responsible, especially catholic missionaries. He ended up banning conversions under penalty of death. Indefatigable missionary Alexandre de Rhodes was finally expelled in May 1630 from Vietnam leaving behind at least 50,000 Catholics trained by Vietnamese catechists and a cultural heritage that no Vietnamese nowadays will do without. His name continues to be dear to our collective memory because thanks to him we are the only country in the Far East to have a Roman alphabet.

cong_giao

Inspired by Ricci’s and Diogo de Pantoja’s works on romanization of Chinese, he came up with giving us not only a linguistic notation system based on the tonalities of the Vietnamese tongue and completed for the circumstance with a system of accents used in Polish, Hungarian and Portuguese, but also an instrument of intellectual emancipation and cultural proliferation unequalled in the Far East. He published his Vietnamese-Latin-Portuguese dictionary in 1651. Because of his expulsion from Vietnam, his work was not finished and later was retaken and completed by Mgrs. Pigneaux de Behaine and Taberd. Vietnamese Catholicism only found its slack period during the Tây Sơn unrest and witnessed its apogee at the reunification of the country under the banner of emperor Gia Long. This one was protected and hidden by Mgr. Pigneaux de Behaine when he was still the young prince Nguyễn Ánh beaten, hunted down and chased by the Tây Sơn troops in the south of the Mekong delta (Hà Tiên, Poulo Condor). Faithful to the memory of the one who gave him food and helped him conquer the throne with his French mercenaries, Gia Long, during his reign, while respecting the missionaries and their Christians, has known how to adopt an attitude similar to emperor Kangxi’s of the Qing in China (1661-1722) by a blend of tolerance, interest and open mind even though he was in favor of the renewal of traditional Confucianism. His death (in 1820) was followed for forty years by an almost complete elimination of western influence and a series of persecutions against the Catholics under the reigns of Minh Mạng, Thiệu Trị and Tự Ðức.

In spite of that, Vietnamese Catholicism continued to grow somehow and arrived at, in the person of Nguyễn Trường Tộ, avoiding combining religion and France who pretended to defend against Atheists. Nguyễn Trường Tộ was born to a catholic family of Nghệ An (North Viê.t-Nam). Following bishop Gauthier in his voyage to Europe, he had the chance to take classes at Sorbonne in Paris at that time. With the view of a patriotic, catholic and intellectual Vietnamese having the chance to go abroad, he kept believing that the only way to save Vietnam from foreign threats and maintain independence for his country, would be primarily through opening up the borders not only for the French but also for the British and the Dutch and by a whole range of political, social and technological reform projects aiming at helping Vietnam to come out of isolation, to modernize and to be equipped with better technologies in order to confront foreign territorial ambitions.

His memorandum was unfortunately not sustained by emperor Tự Ðức. Facing a group of Confucian, strongly structured mandarins who surrounded the emperor poet Tự Ðức, he had to retire a few years later to his native town and died in 1871 taking with him the sadness of a catholic patriot to see his country sinking into chaos and servitude. Torn by his faith and patriotism, Nguyẽn Trường Tộ succeeded in showing us by his behavior and exemplary conduct that it is possible to be a fervent catholic and a defender of national independence at the same time.

Despite a long period of conflicting relations with the nation, Vietnamese Catholicism wrongly accused of connivance with foreigners, knows how to show along with its existence, not only its capability of resistance, resignation and adaptation but also its strength, vitality and active and constructive participation that the country needed in the dark moments of Vietnam’s history. Concerned with improving the lot of the deprived, Vietnamese Catholicism knows how to run in the past as well as at present, charitable and humanitarian activities worth the love of Christ through schools, orphanages etc…

That is how it succeed in penetrating the combination of the three religions (Buddhism, Confucianism and Taoism) and ends up with forming one body with the spirituality of Vietnam. Catholicism has for a long time been the second national religion. With 8 million Catholics, Vietnam becomes the second catholic country in Far East after the Philippines.