Photos de Jean-Marie Duchange sur les Hauts Plateaux.

 

Version française

Version anglaise

Un grand hommage au photographe

Jean-Marie  Duchange 

Jean-Marie Duchange sinh ra ở Saint Nazaire (Loire Atlantique) vào năm 1919. Dù ông không phải là một nhà dân tộc học như Georges Condominas mà cũng không phải nhà nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp ở thời đó nhưng các tác phẩm ảnh mà gia đình ông tặng cho bảo tàng Quai Branly (Paris) và bảo tàng dân tộc học ở Hànội rất hiếm hoi và vô giá. Sau 4 năm trong quân đội, ông từ bỏ quân ngũ và làm việc 3 năm sau, từ năm 1952-1955 ở vụ y tế công cộng ở miền núi Nam Đông Dương (Tây Nguyên), ông có dịp đi nhiều nơi di chuyển  bằng xe jeep, cưỡi voi, đi bộ, đi thuyền vân vân..

Nhờ đó ông chụp được nhiều ảnh rất độc đáo với máy ảnh  Rolleyflex et Samflex để thỏa mãn sở thích chụp hình của ông. Đấy là những lời mở đầu được ghi lại trong cuốn sách mà ông dự định xuất bản khi ông ở tuổi 88. Nhưng không may ông qua đời khiến cô con gái của ông, bà Evelyne Duchaine và cô cháu ngọai bà Nadège Bourdoin không ngần ngại cứu vớt các tác phẩm ảnh nầy bằng cách cống hiến tất cả các phim âm bản cho bảo tàng Quai Branly (Paris) và  bảo tàng dân  tộc học ở Hànội. Nhờ vậy mới có cuộc trưng bày  để tưởng nhớ đến ông và để đáp lại sự hảo tâm của gia đình ông. Phải công nhận các tác phẩm của ông vẫn còn sống động và để lại cho những người đi xem như mình một niềm vui vô hạn.

Version française

Jean-Marie Duchange est né à Saint Nazaire (Loire Atlantique) en 1919. Bien qu’il ne soit ni ethnologue comme Georges Condominas ni photographe professionnel à cette époque, les œuvres photographiques que sa famille a offertes au musée du Quai Branly (Paris) et au musée d’ethnographie de Hanoï sont  rares et inestimables. Après 4 ans dans l’armée, il quitta l’armée et travailla 3 ans plus tard, de 1952 à 1955 au service de santé publique dans le sud de l’Indochine (Les Hauts Plateaux) du Vietnam, il avait l’occasion de voyager dans de nombreux endroits en jeep, à dos d’éléphant, à pieds, en pirogue  etc.

Grâce à cela, il prit de nombreuses photos très originales avec son appareil photo Rolleyflex et Samflex pour assouvir sa passion  pour les photos. Ce sont les premiers mots d’introduction trouvés dans le livre qu’il envisagea de publier à l’âge de 88 ans. Mais à cause de sa mort précipitée,  sa fille Evelyne Duchaine et sa nièce Nadège Bourdoin n’hésitèrent pas à sauver son travail en offrant tous les négatifs au musée  Quai Branly (Paris)  et  au  musée d’ethnographie de Hanoï. Grâce à ce don, il y a eu une exposition au musée d’ethnographie de Hanoï  en l’honneur de sa mémoire et en reconnaissance  de la générosité de sa famille. Il faut reconnaître que ses œuvres sont toujours vivantes et laissent à des visiteurs passionnés comme moi une joie incommensurable.

English version

Jean-Marie  Duchange 

Jean-Marie Duchange was born in Saint Nazaire (Loire Atlantique) in 1919. Although he was neither an ethnologist like Georges Condominas nor a professional photographer at that time, the photographic works his family donated to the Quai Branly Museum (Paris) and the Ethnographic Museum of Hanoi are rare and invaluable. After 4 years in the army, he left the military and worked three years later, from 1952 to 1955, in the public health service in southern Indochina (the Central Highlands) of Vietnam. He had the opportunity to travel to many places by jeep, on elephant back, on foot, by pirogue, etc.

Thanks to this, he took many very original photos with his Rolleiflex and Samflex cameras to satisfy his passion for photography. These are the first introductory words found in the book he planned to publish at the age of 88. But due to his sudden death, his daughter Evelyne Duchaine and his niece Nadège Bourdoin did not hesitate to save his work by donating all the negatives to the Quai Branly Museum (Paris) and the Ethnographic Museum of Hanoi. Thanks to this donation, there was an exhibition at the Ethnographic Museum of Hanoi in honor of his memory and in recognition of his family’s generosity. It must be acknowledged that his works are still alive and bring immeasurable joy to passionate visitors like me.

 

Mộc Châu (Plantation de thé)

Plantation de thé

Mộc Châu (Sơn La) được mệnh danh là Đà Lạt của miền Bắc. Cách Hà Nội 180 km về phía Tây Bắc, nơi được nổi tiếng chè và có nét độc đáo trong văn hóa của các dân tộc H’Mông, Thái, Dao, Mường…
 
Mộc Châu (Sơn La) est au Vietnam du nord ce que Dalat est au Vietnam du sud. Etant située loin de la capitale Hanoï de 180 km dans le territoire du Nord-Ouest, elle est réputée pour son thé et possède le trait caractéristique dans la culture des minorités ethniques Hmong, Thaï, Yao et Mường etc.
 

Moc Chau (Son La) in northern Vietnam is what Dalat is to southern Vietnam. Located 180 km away from the capital Hanoi in the Northwest region, it is famous for its tea and has distinctive features in the culture of ethnic minorities such as Hmong, Thai, Yao, and Muong, etc.

  • Cascade des Fées (Thác Nàng Tiên)
  • Forêt des pins  Bản Áng (Rừng thông Bản Áng)

[RETURN]

 

Thác Dải Yếm (Cascade Dải Yếm, Mai Châu)


Thác Dải Yếm

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Thác Dải Yếm được hình thành từ hai khe nước bo Tá Cáubo Co Lắm ở bản Vặt cách thác 600m về phía tay trái và cùng nằm trên QL43. Ngày xưa, nhiều người còn gọi thác này là Thác Nàng, Thác Bản Vặt, tuy nhiên cái tên được nhiều người biết đến nhất vẫn là Thác Dải Yếm. Cái tên thác đã gắn liền với sự tích về hai cô thôn nữ dũng cảm cứu chàng trai khỏi nước lũ. Nằm cách trung tâm thị trấn Mộc Châu khoảng 8km, làng nầy của người Thái được toạ lạc cách suối 600 thước  bên tay trái và trên quốc lộ 43. Thác Dải Yếm  còn là ngọn thác lớn thuộc địa phận xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Version française

La cascade Dãi Yếm se forme lors de la rencontre de deux cours d’eau, Bó Co Lắm  et Bo Tá Cháu dans le village de Vặt. Loin du centre-ville de Mộc Châu à peu près de 8km,  ce village des Thaïs  est situé  à 600 m de la cascade sur le côté gauche et sur la route nationale 43. Autrefois, beaucoup de gens appelaient également cette cascade Thác Nàng, Thác Bản Vặt, mais le nom le plus célèbre est toujours la cascade Dải Yếm dont  le nom est lié  étroitement à l’histoire de deux courageuses villageoises ayant sauvé un garçon lors d’une inondation. La cascade Dải Yếm est une chute d’eau importante appartenant à la commune de Mường Sang du district de Mộc Châu, dans la province de Sơn La.

English version

The Dãi Yếm waterfall is formed at the meeting point of two streams, Bó Co Lắm and Bo Tá Cháu, in the village of Vặt. About 8 km from the center of Mộc Châu town, this Thai village is located 600 m from the waterfall on the left side and along National Road 43. In the past, many people also called this waterfall Thác Nàng, Thác Bản Vặt, but the most famous name remains Dải Yếm waterfall, whose name is closely linked to the story of two brave village women who saved a boy during a flood. The Dải Yếm waterfall is a significant waterfall belonging to the commune of Mường Sang in the Mộc Châu district, Sơn La province.

Picture gallery

[RETURN]

Danse du lion ou de la licorne (Múa lân sư)


Version française
Version anglaise

Múa Lân Sư

Nhắc đến Tết không có ai có thể không nhắc đến múa Lân. Đây là môn nghệ thuật múa dân gian được thấy trên đường phố ở Việt Nam. Nó được gọi là múa lân ở trong Nam còn ở ngoài Bắc thì gọi là múa sư (tức là sư tử (hay  wǔshī ). Lân là con linh vật  đứng hàng thứ nhì  trong bốn con vật có sức mạnh siêu phàm hay tứ linh (long, lân, qui, phụng). Trong văn hóa Việt nam, chúng ta thường bị lầm lẫn giữa  con kỳ lân với con ghê. Đặc điểm để phân biệt giữa nghê và lân là ở bộ móng, nghê mang móng vuốt còn kỳ lân mang móng guốc. Thật sự khi gọi kỳ lân, tức là nói đến một cặp: con đực gọi là kỳ và lân là con cái. Múa Lân thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu hay khánh thành cửa hàng mới vì các loại thú nầy tượng trưng cho thịnh vượng và hạnh phúc. Con lân có cái đầu được trang trí  trông rất đẹp mắt và thân thể của nó được nâng lên bởi một số vũ công uốn lượn theo nhịp điệu âm thanh của các tiếng trống. Nó luôn luôn đi cùng với một vũ công bụng phệ, vui cười hay vẫy quạt, thường đeo mặt nạ  và mặc áo choàng màu vàng nghệ (Ông Địa). Đây là cuộc khiêu chiến giữa người và động vật, giữa Thiện và Ác, luôn luôn kết thúc bằng chiến thắng của con người trên động vật.

Danse de la licorne ou du lion.

En évoquant le Têt, personne n’oublie de mentionner la danse de la licorne ou du lion. C’est un art de la danse folklorique que l’on trouve dans les rues du Vietnam. On l’appelle la danse de la licorne  dans le Sud et la danse du lion dans le Nord (ou wǔshī bính âm). La licorne  occupe la deuxième place parmi les  quatre animaux au pouvoir surnaturel (tứ linh)(long, lân, qui, phụng). Dans la culture vietnamienne, on a l’habitude de confondre la licorne avec le chien-lion (con nghê).  La principale caractéristique permettant de faire la  distinction entre la licorne  et le chien-lion  réside dans les doigts de pied, la licorne étant armée  des sabots et le chien-lion des griffes. Quand on parle de la licorne (Kỳ Lân), on a affaire à un couple d’animaux : kỳ c’est le mâle tandis que Lân est une femelle. La danse de la licorne  est souvent pratiquée lors des fêtes traditionnelles, notamment le Nouvel An lunaire, la fête de la Mi-Automne ou l’inauguration d’un nouveau magasin (ou une boutique) car ces animaux sacrés symbolisent la prospérité et  le bonheur. Cet animal légendaire dont la tête est  décorée magnifiquement et dont tout  le corps est porté par plusieurs danseurs, ondule au rythme des sons des tambourins. Il est toujours accompagné par un autre danseur hilare et ventru agitant son éventail et portant une robe de couleur safran (Ông Ðịa). C’est la danse-combat entre l’homme et l’animal, entre le Bien et le Mal qui se termine toujours par le triomphe de l’homme sur l’animal.

When talking about Tet, no one forgets to mention the unicorn or lion dance. This is a folk dance art found in the streets of Vietnam. It’s called the unicorn dance in the South and the lion dance in the North (or wǔshī bính âm). The unicorn ranks second among the four animals of supernatural power (tứ linh)(long, lân, qui, phụng). In Vietnamese culture, the unicorn is usually confused with the lion-dog (con nghê).  The main distinguishing feature between the unicorn and the lion-dog is the toes, the unicorn being armed with hooves and the lion-dog with claws. When we speak of the unicorn (Kỳ Lân), we’re dealing with a pair of animals: kỳ is the male while Lân is a female. The unicorn dance is often performed at traditional celebrations such as Lunar New Year, Mid-Autumn or the inauguration of a new store , as these sacred animals symbolize prosperity and happiness. This legendary animal, whose head is beautifully decorated and whose whole body is carried by several dancers, undulates to the rhythm of the tambourine sounds. He is always accompanied by another hilarious, pot-bellied dancer waving his fan and wearing a saffron-colored dress (Ông Ðịa). It’s a dance-combat between man and animal, between Good and Evil, which always ends with the triumph of man over the animal.

Quartier piétonnier (Huế)

Khu phố Tây ba lô

Cũng như mọi thành phố, Huế cũng có phố đi bộ  hay thường gọi là khu phố Tây ba lô vì người Âu Châu hay thường cư trú ở nơi nầy trong thời gian viếng thăm cố đô Huế. Cũng có đường mang tên Phạm Ngũ Lão như ở thành phố Saïgon nhưng không có náo nhiệt và đông đảo người chi cho lắm.  Tuy nhiên nó  là nơi mà người du khách có thể tìm kiếm các trò vui chơi và giải trí về đêm giữa lòng cố đô trầm tư và sâu lắng. 

Comme toutes les villes du Vietnam, Huế possède également le quartier des routards européens  car ils y résident fréquemment lors de leur visite dans l’ancienne cité de Huế. C’est étonnant de trouver une rue nommée Phạm Ngũ Lão comme celle de  la ville de Saïgon, mais elle n’est pas assez animée et bondée de gens. Cependant, c’est un endroit où les touristes peuvent trouver des divertissements et peuvent trainer  une vie nocturne au cœur de l’ancienne capitale calme et contemplative.

Like all cities in Vietnam, Huế also has a backpacker district frequented by European travelers during their visit to the ancient city of Huế. It is surprising to find a street named Phạm Ngũ Lão like the one in Saigon, but it is not as lively or crowded. However, it is a place where tourists can find entertainment and enjoy nightlife in the heart of the calm and contemplative former capital.

[Return Huế]

Le pavillon Nhật Thành ( Nhật Thành Lâu)

Nhật Thành Lâu

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Công trình kiến trúc này được xây dựng vào năm 1841 dưới thời vua Thiệu Trị, lầu gồm có 2 tầng. Nơi nầy là Phật điện của nhà vua trong Tử Cấm Thành hay là kho bạc theo  lời của một tác giả. Không ai biết rõ sự bổ dụng nó trong Tử Cấm Thành. Vào thời kỳ cuối nhà Nguyễn thì nơi nầy mẹ vua Bảo Đại, bà Từ Cung và các bà trong nội cung hay thường lui tới đây để đọc kinh, cầu an và niệm Phật. Lầu Nhật Thành bị tàn phá rất nặng nề trong các năm 1947 và năm 1968 nên  chỉ còn lại phần nền của công trình. Bởi vậy năm 2018, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã cho phục dựng lại công trình này. Lầu Nhật Thành nằm ở vị trí của Minh Thận Điện thưở xưa, ở phiá đông thì có Càn Thành Điện và phía nam Thái Bình Lâu

Version française

Étant construite en 1841 sous le roi Thiệu Trị, cette œuvre architecturale se composait de 2 étages. Elle  n’avait aucune affectation précise dans la cité pourpre interdite. Selon certains, elle était le lieu de vénération du Bouddha par le roi ou la chambre forte royale selon la remarque d’un auteur dans son article. Vers la fin de la dynastie des Nguyễn, la mère du roi Bảo Đại, la reine Từ Cung et d’autres femmes du palais  y étaient venues souvent  pour lire des sutras, faire des prières ou vénérer Bouddha. Ce pavillon Nhật Thành qui  fut gravement endommagé durant les années  1947 et 1968 ne gardait que sa fondation. En 2018, le Centre de conservation des monuments de Huế décida de le restaurer. Étant situé à l’emplacement de l’ancien palais Minh Thận, Nhật Thành Lâu se retrouve à l’est avec le palais privé du roi, Càn Thanh et au sud avec la bibliothèque royale Thái Bình Lâu.

English version

This architectural work was built in 1841 during the reign of Emperor Thiệu Trị, and the tower has 2 floors. This place was the Buddha hall of the king in the Forbidden Purple City or the treasury according to an author. No one knows clearly its function in the Forbidden Purple City. In the late Nguyễn dynasty, this place was often visited by Emperor Bảo Đại‘s mother, Lady Từ Cung, and the ladies of the inner palace to read sutras, pray for peace, and chant Buddha’s name. Nhật Thành Tower was heavily damaged in the years 1947 and 1968, leaving only the foundation of the structure. Therefore, in 2018, the Hue Monuments Conservation Center restored this building. Nhật Thành Tower is located at the site of the former Minh Thận Hall, with Càn Thành Hall to the east and Thái Bình Pavilion to the south.

Galerie des photos

[Return Hue]

 

 

Nghinh Lương Đình (Pavillon de l’embarcadère royale)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nghinh Lương đình  được xây dựng ở bờ bắc sông Hương, trước mặt toà Phu Văn Lâu dưới triều vua Tự Đức vào năm 1852 và được trùng tu lại dưới đời vua Thành Thái nhưng bị cơn bão vào năm 1904 nên công trình bị tàn phá nặng nề.  Sau nầy được dưới thời ngự trị của vua Khải Định (1918)  được xây dựng lại và kết nối với bến thuyền liền nhau nhưng vẫn giữ chức năng cũ. Đây là  nơi nghỉ chân và hóng mát của nhà vua trước khi xuống thuyền rồng để du ngoạn trên sông Hương. Công trình nầy được nằm dài  trên trục  chính từ Kỳ Đài truớc cửa Ngọ Môn  đến Phu Vân Lâu và  có một kiến trúc theo kiểu phương đình. Một gian, 4 chái được nối dài ra ở phía trước và phía sau  với nhà vỏ cua   qua máng xối được cấu tạo từ vật liệu kim loại. Bốn mặt của gian chính giữa đều được để trống. Còn ở giữa  bờ nóc của gian chính thì có  lưỡng long chầu nhật .

Còn nhà vỏ cua thì ở bờ mái cũng có hình hồi long chầu mặt nguyệt  và ở cuối các bờ quyết  thì trang trí hình chim phượng. Các vì kèo gỗ được chạm trổ  một cách công phu ở trên mặt  với các hình ảnh mang các đề tài  bát bửu như: tù và, quạt vả, phát trần,  lẵng hoa và bầu rượu.  Mái nhà chính lợp ngói ống lưu ly vàng, hai nhà vỏ cua lợp ngói liệt men vàng.  Nghinh Lương đình  được xây dựng trên nền cao khoảng 90 cm cùng bó vỉa bằng gạch vồ và đá thanh.  Nơi phiá bờ sông thì có 13 bậc cấp dẫn xuống một hành lang xây sát mặt nước sông Hương. Nghìn Lương Đình là một trong hai công trình kiến trúc cùng Phu Văn Lâu không có nằm ở trong Đại Nội. Tuy nhiên hai công trình nầy được mọi người ở Việt Nam đều biết đến luôn cả du khách ở nước ngoài  vì hình ảnh của nó được in trên  tờ giấy 50.000 đồng Việt Nam.

Version française

Le pavillon Nghinh Lương a été construit devant Phu Văn Lâu (pavillon des Édits) sur la rive nord de la Rivière des Parfums sous le règne de l’empereur Tự Đức  en 1852. Puis  il  a été restauré à l’époque de l’empereur  Thành Thái . Puis il a subi  des dégâts importants  lors de la tempête  en 1904. Plus tard, sous le règne du roi Khải Đinh (1918), il a été reconstruit presque entièrement et relié à l’embarcadère tout en gardant son ancienne fonction. C’est le lieu de repos et de détente de l’empereur  avant de prendre une excursion en bateau sur la rivière des Parfums. Cet ouvrage architectural est situé sur l’axe principal de la tour du mât (Kỳ Đài) située en face de la porte principale Ngọ Môn jusqu’au pavillon des Édits (Phu Van) et possède une architecture du style de la maison communale. Une grand espace  entouré de 4 appentis, se prolonge en avant et en arrière par des maisons « en coquille de crabe » au moyen des gouttières de drainage en matériau métallique. L’espace central ne possède aucune porte  sur ses quatre côtés. Par contre  au milieu de son arête faitière,  on voit apparaître un globe enflammé (foudre)  vers lequel les deux dragons tournent la tête.

Quant à la maison en « coquille de crabe », sur le toit, on retrouve également un couple  de dragons rendant hommage à la lune et l’ornement d’un phénix au bout de ses extrémités. Les fermes de toit en bois sont minutieusement sculptées sur leur façade avec des motifs représentant  la série des huit joyaux: corne, éventail en forme de feuille de figuier, époussette, panier de fleurs et calebasse à vin.

Le toit principal est recouvert de tuiles « Yin et Yang » jaunes et les deux maisons en coquille de crabe ont leurs tuiles vernissées jaunes. Le pavillon  Nghinh Lương a été construit sur une plate-forme d’environ 90 cm de haut avec les dalles de trottoir en pierre « thanh ». Au bord de la rivière, il y a  13 marches facilitant la descente vers un couloir construit près de la surface de l’eau de la Rivière des Parfums. Le pavillon « Nghinh Lương » est l’une des deux œuvres architecturales avec le pavillon  Phu Van, qui ne font pas partie de la Cité pourpre interdite. Pourtant, ces deux joyaux architecturaux sont connus de tous les gens y compris les touristes étrangers  au Vietnam car leur image est imprimée sur le billet de 50 000 VND.

Version anglaise

Nghinh Luong Pavilion was built on the north bank of the Huong River, in front of the Phu Van Lau building during the reign of King Tự Đức in 1852 and was restored under King Thành Thái’s reign. However, it was severely damaged by a storm in 1904. Later, during the reign of King Khải Đinh (1918), it was rebuilt and connected to the adjacent boat dock but still retained its original function. This was the resting and cooling place for the king before boarding the dragon boat to cruise on the Huong River. The structure lies along the main axis from Kỳ Đài in front of Ngo Mon Gate to Phu Van Lau and features a pavilion-style architecture. It has one main hall and four wings extended at the front and back with crab shell-like houses connected through gutters made of metal materials. All four sides of the central hall are left open. In the middle of the ridge of the main hall, there is a motif of two dragons chasing the sun.

As for the crab shell houses, the gable ends also feature dragon motifs facing the moon, and at the ends of the ridge beams, phoenix bird decorations are displayed. The wooden rafters are intricately carved on the surface with images featuring the eight precious symbols such as a conch shell, fan, fly whisk, flower basket, and wine gourd. The main house roof is covered with yellow glazed tube tiles, while the two crab shell houses are covered with yellow glazed flat tiles.

Nghinh Luong Pavilion is built on a platform about 90 cm high, bordered with brick and Thanh stone edging. On the riverbank side, there are 13 steps leading down to a corridor built close to the surface of the Perfume River. Nghinh Luong Pavilion is one of two architectural works, along with Phu Van Lau, that are not located within the Imperial City. However, these two works are well known by people in Vietnam and even foreign tourists because their images are printed on the 50,000 Vietnamese dong banknote.

Galerie des photos

[Return HUE] 

Palais An Định (Cung An Định, Huế)


Palais An Định

English version
Version française 
Galerie des photos

Đây là  biệt cung của vua Khải Định khi ngài còn là  Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo dưới thời ngự trị của vua Thành Thái, cha của vua Duy Tân. Được  toa lạc bên bờ sông An Cựu, nay là số 97 đường Phan Đình Phùng ở thành phố Huế.  Cung nầy được ngài dùng tiền riêng tư để xây cất  làm nơi thư giản, tiếp khách và tổ chức các bữa tiệc hoàng gia. Cung nầy trở thành từ 1922 tiềm đế của Đông Cung Thái tử Vĩnh Thùy tức là vua Bảo Đại về sau. Công trình nầy được thực hiện bởi các tay nghề kỹ xảo trong số đó có  một người thợ mộc tên là Nguyễn Văn Khá và  một họa sĩ nổi tiếng Lương Quang Duyệt.  Cổng chính được trang trí  bằng đồ sành theo phong cách baroque.  Được  thấy ở  giữa  gờ  của mái cổng chính có sự kết hợp lưỡng long chậu nhật đi cùng với mô típ mây và có luôn cả các cột trụ kiểu Cô ranh tơ trong kiến trúc Hy Lạp. Ngoài cổng chính, quần thể kiến trúc còn có  đình Trung Lập hình bát giác, lầu Khải Tường, nhà hát Cửu Tư Đài, chuồng thú, hồ nước vân vân…

Lầu Khải Tường gồm có  ba tầng được xây dựng  trên nền đất có diện  tích  745 mét vuông và được trang trí rất công phu ở mặt tiền với các mô tip như  bắc đẩu bội tinh, thiên thần, bát bửu hoa văn vân vân…  theo phong cách  kiến trúc tân– cổ điển hỗn hợp cùng  các họa tiết  thường được thấy ở  trong văn hóa phương Đông như mô típ tứ linh (rồng, lân, qui, phụng). Còn bên trong của lầu đài thì ngoài sáu bích họa lộng lẫy kiêu sa sơn dầu treo trên tường,  còn thấy  ở  giữa đại sảnh  có một tượng đồng của hoàng tử Vĩnh Thùy  (tức là vua Bảo Đại) dưới ngọn đèn chùm đẹp lung linh. Các họa tiết  hoa văn ở  nơi nầy đều rất hiện đại trên vách tường và  thể  hiện phong cách phương  Tây khiến làm du khách  phải ngẫn ngơ không ít  trước cái đẹp lạ thường hiếm thấy ở các cung điện nhà Nguyễn.  Nhưng rất tiếc ngày nay toà nhà nầy bị hư  hỏng trầm trọng bởi  chiến tranh kéo dài từ bao nhiêu năm. Vả lại sau năm 1975  nó còn  là nơi khu nhà ở  tập thể dành cho các gia đình của các giáo sư ở  đại học Huế.

Từ  năm 2002, chính quyền Việt Nam phải nhờ đến sự hổ  trợ tài chánh và kỹ  thuật của nuớc Cộng hoà liên bang Đức cùng  các chuyên gia của hội đoàn trao đổi  văn hóa Leibniz để phục hồi lại cho cung An Định. Chính tại nơi nầy  năm 1945, sau khi vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị và trao lại ấn kiếm cho cách mạng tháng 8, mẫu hậu Từ Cung tức là mẹ của vua Bảo Đại cùng  Nam Phương hoàng hậu và  các con cháu hoàng thất phải dọn ra đây ở. Cung An Đình  được xem ngày nay là một di tích lịch sử của một quá khứ đầy biến động mà du khách không thể bỏ qua cũng như Tử Cấm Thành khi đến tham quan Huế.

[Return Huế]

Le palais An Định (Huế). 

C’est la résidence privée  du roi Khải Định à l’époque où ce dernier était encore Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo sous le règne du roi Thành Thái, père du roi Duy Tân. Situé sur la rive du fleuve  An Cựu, ce palais se trouve aujourd’hui au numéro 97 de la rue Phan Đình Phùng dans la ville de Huế.  Il a été construit par lui-même avec son propre argent  pour être à la fois un lieu destiné à se détendre, recevoir des invités et  organiser des banquets royaux. Il devint à partir de 1922 la résidence  du prince héritier Vĩnh Thùy, le futur roi Bảo Đại plus tard. Cet  ouvrage architectural a été réalisé par des artisans qualifiés, parmi lesquels  figuraient  un menuisier nommé Nguyễn Văn Khá et  un peintre connu sous le nom Lương Quang Duyệt.  Le portail  principal est orné d’éléments en céramique dans un style baroque. Au centre du faîte arêtière de ce dernier, on voit apparaître la combinaison d’un couple de dragons rendant leurs hommages au soleil reposant sur un lit de nuages et des piliers corinthiens dans l’architecture grecque. À part  ce portail principal, ce complexe architectural comporte  un pavillon octogonal Trung Lập dans la cour d’entrée, un palais Khải Tường à trois étages, un théâtre Cửu Tư Đài, un parc d’animaux, un lac etc.

Etant édifié sur le terrain d’une superficie de 745 m2, ce palais a été bien décoré laborieusement sur sa façade extérieure, des motifs tels que les insignes  de la légion d’honneur, les anges, les 8 joyaux agrémentés de fleurs etc. dans un style architectural néo-classique, mélangés avec ceux que l’on retrouve couramment dans la  culture orientale comme les  quatre animaux sacrés (dragon, licorne, tortue, phénix) etc. À l’intérieur du palais, outre les six superbes fresques murales peintes à l’huile, on trouve  dans le hall principal  une statue en bronze du jeune prince Vĩnh Thùy (Bảo Đại) sous un magnifique lustre scintillant.  Les motifs de décoration y sont très modernes  dans un style européen, ce qui ne  manque pas surprendre les visiteurs  en les amenant à découvrir l’exceptionnelle  beauté rarement trouvée dans les palais de la dynastie des Nguyễn. Mais c’est regrettable de voir aujourd’hui ce  bâtiment  dans un état de délabrement avancé en raison de la guerre qui a duré pendant de nombreuses années. De plus,  après 1975, il devint  l’endroit  où étaient logées plusieurs familles des enseignants de l’université de Hue.

Depuis 2002, le gouvernement vietnamien dût compter sur le soutien financier et technique de la République fédérale d’Allemagne et des experts de l’association d’échanges culturels de  Leibniz pour restaurer le palais An Định. C’était en 1945 qu’après  l’abdication du roi Bảo Đại et sa remise du sceau  et de l’épée à la révolution d’août, la reine mère Từ Cung (mère du roi Bảo Đại) et  la reine Nam Phuong accompagnées par  leurs  descendants déménagèrent  ici. Le palais An Dinh est considéré aujourd’hui comme un vestige historique d’un passé tumultueux que les touristes ne peuvent pas ignorer  comme la Cité Interdite lors leur visite à Hué.

[Return Huế]

English version

This is the private residence of King Khải Định at the time when he was still Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo under the reign of King Thành Thái, father of King Duy Tân. Located on the bank of the An Cựu River, this palace is now at number 97 Phan Đình Phùng Street in the city of Huế. It was built by himself with his own money to serve as a place for relaxation, receiving guests, and organizing royal banquets. From 1922, it became the residence of Crown Prince Vĩnh Thùy, the future King Bảo Đại. This architectural work was carried out by skilled artisans, including a carpenter named Nguyễn Văn Khá and a painter known as Lương Quang Duyệt. The main gate is adorned with ceramic elements in a baroque style. At the center of the ridge of this gate, one can see a combination of a pair of dragons paying homage to the sun resting on a bed of clouds and Corinthian pillars from Greek architecture. Besides this main gate, the architectural complex includes an octagonal pavilion Trung Lập in the entrance courtyard, a three-story palace Khải Tường, a theater Cửu Tư Đài, an animal park, a lake, etc.

Built on a plot of land measuring 745 m2, this palace was painstakingly decorated on its exterior facade with motifs such as the insignia of the Legion of Honor, angels, the 8 jewels adorned with flowers, etc., in a neoclassical architectural style, mixed with those commonly found in Eastern culture like the four sacred animals (dragon, unicorn, turtle, phoenix), etc. Inside the palace, besides the six superb oil-painted murals, there is a bronze statue of the young Prince Vĩnh Thùy (Bảo Đại) in the main hall under a magnificent sparkling chandelier. The decorative motifs are very modern in a European style, which surprises visitors by leading them to discover the exceptional beauty rarely found in the palaces of the Nguyễn dynasty. But it is regrettable to see this building today in a state of advanced dilapidation due to the war that lasted many years. Moreover, after 1975, it became the place where several families of teachers from Hue University were housed.

Since 2002, the Vietnamese government has had to rely on the financial and technical support of the Federal Republic of Germany and experts from the Leibniz Cultural Exchange Association to restore the An Định Palace. It was in 1945 that after the abdication of King Bảo Đại and his handing over of the seal and sword to the August Revolution, the Queen Mother Từ Cung (mother of King Bảo Đại) and Queen Nam Phương, accompanied by their descendants, moved here. The An Định Palace is now considered a historical relic of a tumultuous past that tourists cannot ignore, much like the Forbidden City during their visit to Huế.

Galerie des photos

[Return Huế]

 

Suối mơ (Ruisseau de rêve)

Version française

English version

Thác mơ là một địa điểm được ưa thích bởi người dân cư ở Lăng Cô, HuếĐà Nẵng. Nó nằm cách xa thành phố Huế cỡ chừng 65 cây số và 45 cây số với thành phố Đà Nẵng. Nhờ vị trí không xa chi cho mấy với hai thành phố nên thường thấy cư dân ở các thành phố nầy hay đến đây tham quan và thư giãn lúc cuối tuần, nhất là với thời tiết nóng oi của miền trung. Địa điểm nó còn hoang dã nên du khách có thể hoà mình  với cảnh vật thiên nhiên và nghỉ chân dưới các nhà chòi tre được dựng dọc theo dòng suối với tiếng nước  thì thầm trong vắt tựa pha lê.

La cascade de rêve (ou ruisseau de rêve) est un lieu de prédilection pour les habitants de Lăng Cô, Huế et Đà Nẵng. Elle est située à peu près 65 kilomètres de la ville de Huế et 45 kilomètres de la ville de Đà Nẵng. Grâce à son emplacement  pas trop éloigné de ces deux villes, il est fréquent de voir leurs habitants venir jusqu’ici pour se détendre surtout à la fin de la semaine, notamment sous  la chaleur suffocante dans le centre du Vietnam. L’endroit est encore sauvage si bien que  les visiteurs peuvent donc s’immerger dans le paysage naturel et  se détendre  sous les toits en bambou construits tout le long du ruisseau murmurant  aux eaux limpides comme du cristal.

Dream Waterfall (or Dream Creek) is a favorite place for the people of Lăng Cô, Huế and Đà Nẵng. It is located about 65 kilometers from Huế city and 45 kilometers from Đà Nẵng city. By its favourable geographic position not too far from these two cities, it is common to see their residents coming here to relax, especially at the end of the week, in the sweltering heat of central Vietnam. The place is still wild so visitors can immerse themselves in the natural landscape and relax under the bamboo roofs built along the babbling brook with crystal clear water.