Dynastie des Han orientaux (Đông Hán)

 

Dynastie des Han orientaux (Nhà Đông Hán)

titre_dynhan_9Au musée des arts asiatiques  Guimet (Paris)

English version

Vietnamese version

Chronologie des Han orientaux

icon_daihan

 Đông Hán

25-57: Règne de Guangwudi

57-75: Règne de Mingdi

75-88: Règne de Zhandi

88-106: Règne de Heidi

106: Règne de Shangdi

106-125: Règne de Andi.

125: Règne de Shaodi.

125-144: Règne de Chongdi.

145-146: Règne de Zhidi.

146-168: Règne de Huandi.

168-189: Règne de Lingdi

184: Révolte des turbans jaunes

189: Destitution de Shaodi

189-220: Règne de Xiandi.

190: Montée et puissance du général Cao Cao (Tào Tháo)

220: Mort de Cao Cao et de Xiandi.

Fin de la dynastie des Han

Première domination chinoise

Dans les territoires conquis par les Han, notamment dans le Sud de la Chine, la sinisation continua à battre son plein. C’est pourquoi les révoltes se succédèrent d’abord dans le royaume de Dian (Điền Quốc) (86, 83 av. J.C., 14 apr. J.C., de 42 à 45 ). Elles furent réprimées avec sévérité. Ces soulèvements étaient dûs en grand partie aux exactions des fonctionnaires Han et aux comportements des colons chinois de prendre possession des sols fertiles et de refouler les populations locales dans les coins perdus de leur territoire. De plus, ces dernières devaient adopter la langue, les coutumes, les croyances religieuses des fils des Han. En l’an 40, une grave rébellion éclata dans la province Jiaozhou (ou Giao Châu en vietnamien) incluant à cette époque une partie du territoire de Kouang Si (Quảng Tây) et de Kouang Tong (Quảng Đông). Elle fut menée par les filles d’un préfet local, Trưng Trắc (Zheng Cè) l’aînée et Trưng Nhị (Zheng Èr) sa cadette. Comme le mari de l’aînée Shi Suo (Thi Sách) s’opposait à la politique d’assimilation chinoise menée brutalement par le proconsul chinois Tô Định (Su Ding), ce dernier n’hésita pas à l’exécuter pour faire un exemple contre les insurgés yue, notamment les Vietnamiens. Cette exécution exemplaire révolta les sœurs Trưng et déclencha immédiatement le mouvement d’insurrection dans les territoires yue.

icon_tigre

Poids de natte

destiné à maintenir les bords de la natte grâce à son poids.

 

 

Les deux sœurs Trưng réussirent à y enlever 65 citadelles dans un laps de temps très court. Elles se proclamèrent reines sur les territoires conquis et s’établirent à Meiling (ou Mê Linh). En l’an 41, elles furent vaincues par le général Ma Yuan (Mã Viện, Phục Ba Tướng Quân) (Dompteur des flots) et préférèrent le suicide à la reddition en se jetant dans la rivière Hát. Elles devinrent ainsi le symbole de la résistance des Vietnamiens. Elles continuent à être vénérées aujourd’hui non seulement au Vietnam mais aussi dans certains endroits des territoires Yue de la Chine (Kouangsi et Kouang Tong). Ma Yuan commença à appliquer une politique de terreur et de sinisation à marche forcée en plaçant à tous les échelons de l’administration, des hommes de confiance chinois et en imposant le chinois comme langue officielle dans tout le territoire des Vietnamiens. C’est la première domination chinoise durant presque 1000 ans avant la guerre de libération entamée par le général Ngô Quyền. Entre-temps, Guangwudi (Quang Vũ Đế) réussit à apporter la prospérité et la stabilité dans son empire en réduisant l’impôt au niveau des récoltes et des bénéfices. Après sa mort, analogue à Wudi (Vũ Đế), son fils Mingdi poursuivit la politique d’expansion en lançant une offensive contre les Xiongnu septentrionaux (Hung nô) dans le but de libérer les états d’Asie centrale de la tutelle de ces derniers et de rétablir au profit de la Chine la sécurité de la Route de la Soie (con đường tơ lụa). Le général Ban Chao (Ban Siêu), frère de l’historien Ban Gu (Ban cố) (*) de cette époque, fut chargé de cette expédition militaire. Il réussit à atteindre la mer Caspienne et à soumettre les Yuezhi (Nguyệt Chi hay Nhục Chi) grâce au concours des Kusana.

© Đặng Anh Tuấn


(*) Auteur des Annales de Han (ou Hanshu) (Hán Sử)

Galerie des photos

guimet_han

Bai Yue (Bách Việt)

bachviet1

English version
Vietnamese version

Les Bai Yue étaient probablement les héritiers de la culture Hoà Bình  (9000-5600 av J.C.), une découverte extrêmement importante de la part de l’archéologue française Madeleine Colani dans la province Hoà Bình du Vietnam. Ils étaient un peuple d’agriculteurs avertis: ils cultivaient le riz en brûlis  et en champs inondé  et élevaient buffles et porcs. Au moment du contact avec les gens nomades du Nord d’origine turco-mongole, les ancêtres des Hán (ou Chinois), ils étaient appelés par ces derniers, sous le nom « les Yue ». Ceux-ci   vivaient disséminés au sud du bassin du fleuve bleu (ou Dương Tử Giang), de Zhejiang (Triết Giang) jusqu’au Jiaozhi (Giao Chỉ)(le Nord du Vietnam d’aujourd’hui)  avant l’ère chrétienne et  avaient l’habitude de se servir de la hache dans la riziculture et dans les combats. Les ancêtres des Vietnamiens (ou les Luo Yue) faisaient partie de ces Bai Yue, les propriétaires des tambours de bronze. icon_tambour

 

Tambour de bronze exposé au musée Branly (Paris)

Ils se consacraient à la riziculture et se distinguaient des Chinois habitués à cultiver le millet et le blé. Ils buvaient de l’eau infusée avec les feuilles  d’une  plante   connue sous le nom « théier (trà) » qu’ils cueillaient dans la forêt. Ils aimaient danser, travailler tout en chantant et alterner des répliques dans les chants. Ils se déguisaient souvent dans la danse avec les feuilles des plantes. On les retrouva à cette époque dans les provinces actuelles de la Chine du Sud: Foujian (Phúc Kiến), Hunan (Hồ Nam), Guizhou ( Qúi Châu), Guangdong  (Quảng Ðông), Jiangxi (Giang Tây) , Guangxi (Quảng Tây) et Yunnan (Vân Nam) ainsi que dans le nord du Vietnam actuel. Ils étaient issus de la civilisation de  Liangzhu au bas du fleuve Yangtsé (Dương Tử).

Caractéristiques des Bai Yue

1°) La pratique de couper court les cheveux et le tatouage.
2°) La construction des maisons sur pilotis.  (construction Ganlan).
3°) La tenue en pagne et turban.
4°) Le noircissement ou la mutilation des dents de devant (dents canines).
5°) L’utilisation des palourdes et des amphibiens  dans leur régime alimentaire.
6°) Le moulage et l’utilisation rituelle des tambours de bronze.
7°) La divinisation effectuée avec les os des oiseaux et des volailles en particulier.
8°) Le culte totémique ( oiseaux, reptiles, et amphibiens).
9°) La pratique des enterrements sur les falaises.
10°) La participation active du père  dans la naissance  et  l’éducation de l’enfant et le retour de la mère aux activités rizicoles.
11°)  L’utilisation  intensive des barques et l’expertise dans l’art de guerre  maritime.
12°) La technique de tissage hautement développée.

 Version vietnamienne

Đại tộc Bách Việt


Đại tộc  Bách Việt có lẽ họ là  nhóm bộ tộc  thừa kế của  nền văn hóa Hòa Bình (9000-5600 TCN), một khám phá cực kỳ quan trọng của bà Madeleine Colani ở tỉnh Hòa Bình (Việtnam) . Họ    chuyên sống  về  nông nghiệp:  họ thường đốt nương trồng lúa trên rẫy hay  trên nước và nuôi bò và lợn. Lúc họ tiếp xúc  với những bộ tộc du mục ở phương bắc  thuộc góc Thổ-Mông, tổ tiên người Hán (hay người Hoa) thì họ được gọi bỡi các nhóm người nầy với cái tên Yuê (hay Việt). Đó là tên ám chỉ những dân tộc sống  ở phía nam  sông xanh Dương Tử Giang,  từ Triết Giang đến Giao Chỉ (miền bắc của nước Việt Nam ngày nay) từ thời trước công nguyên    và    thường dùng loại rìu để canh tác và giao chiến. Bộ tộc Lạc Việt (hay Lo Yue), tổ tiên của người Việt, cũng  thuộc về đại tộc Bách Vịệt, chủ nhân của trống đồng.  Họ đến từ văn hóa Lương Chử ở hạ nguồn của sông Dương Tử. 

Khác hẳn với dân tộc Hoa trồng kê và lúa mì, họ thì sống chuyên  nghề trồng lúa. Họ thường uống nước đun với một loại lá cây họ hái ở trong rừng mà họ thường gọi là trà. Họ  thích nhảy múa,  thường cải trang với lá cây  và  hát  đối đáp trong lúc làm việc.   Thời đó, họ thường định cư ở các tỉnh hiện nay thuộc về miền nam của Trung Quốc: Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Đông, Giang Tây, Vân Nam và miền Bắc của nước Việt Nam.

Đặc tính của đại tộc Bách Việt

  1. Tục cắt tóc ngắn và xăm mình.
  2. Xây nhà sàn.
  3. Trang phục đặc trưng  với quần ngắn hay váy quấn và đầu đội khăn xếp .
  4. Tục nhuộm răng và nhổ răng ( răng nanh hoặc răng cửa trên).
  5. Chế độ ăn nhiều sò hến và ếch.
  6. Đúc và sử dụng trống đồng trong các nghi lễ .
  7. Bói bằng xương chim, đặc biệt là xương gà.
  8. Thờ vật tổ, đặc biệt là chim, bò sát, và cóc hay ếch.
  9. Tục táng trên vách đá.
  10. Tục lệ người cha tham gia quá trình đỡ đẻ và chăm sóc con nhỏ sau đó để người mẹ trở lại với việc làm đồng.
  11. Sử dụng nhiều đến thuyền bè và điêu luyện về thủy chiến.
  12. Kỹ thuật dệt phát triển cao.

[Return Vietnam des 54 minorités]

Áo dài (Tunique vietnamienne)

 

aodai

Version française

English version

Áo dài vẫn được xem là một trong những biểu tượng truyền thống của người dân Việt. Du khách nước ngoài đến Việt Nam có cơ hội nhìn thấy một phụ nữ mặc chiếc áo dài ở trên đường phố  hay là những ngày đầu năm Tết ở chùa hay nhà thờ. Đó là một chiếc áo dài bó sát bằng vải nhẹ, hở hai bên hông, mặc ở bên ngoài một quần ống rộng. Người du khách chắc chắn phải lặng người ngưỡng mộ trước vẻ đẹp thanh lịch hiện thân này. Không phải y phục nầy gợi lên sự ngưỡng mộ  mà đấy là mối quan hệ giữa người phụ nữ và chiếc áo dài hay là văn hóa. Tuy nhiên, áo dài chỉ có một lịch sử gần đây thôi. Nó chỉ có từ thế kỷ 18.

 Có ấn tượng trước  vẻ tao nhã của các trang phục Mãn Châu dưới thời nhà Thanh, một chúa Nguyễn tên là Võ Vương mới nghỉ ra  thiết kế ra một bộ trang phục cho dân tộc Việt lấy nguồn cảm hứng từ các mô hình Mãn Châu này. Phải mất một thế kỷ về sau, áo dài này mới được quần chúng chấp nhận dưới thời vua Minh Mạng.

Quelques tuniques sélectionnées

Trang phục này  trở thành là biểu tượng quốc gia với nhiều kiểu mẫu đa dạng không những về màu sắc mà cả hoa văn trang trí. Áo dài được người phụ nữ Việt Nam mặc nhiều nhất hiện nay trong những ngày lễ cổ truyền.

Version française

Áo dài est considérée toujours comme l’un des symboles du Vietnam traditionnel. Le touriste étranger qui débarque au Vietnam a l’occasion de voir une femme vêtue d’une « áo dài » dans la rue ou dans les premiers jours de notre nouvel an à la pagode ou à l’église. Il s’agit d’une longue tunique moulante en tissu léger, ouverte sur les côtés à partir de la taille et portée sur un pantalon large. Le touriste est muet sûrement d’admiration face à cette élégance incarnée. Ce n’est pas le costume qui provoque cette admiration mais plutôt la relation entre la femme et sa tunique ou sa culture. Pourtant l’áo dài n’a qu’une histoire récente. Elle ne date que du 18ème siècle.

Impressionné par l’élégance des costumes mandchous sous le règne des Qing, un seigneur Nguyễn  de nom  Võ Vương est venu de concevoir un costume national vietnamien en trouvant son inspiration dans ces modèles mandchous. Il faut attendre un siècle  plus tard pour que cette tunique soit adoptée définitivement dans les couches populaires durant le règne de l’empereur Minh Mạng.

Ce costume devient le symbole national avec des modèles de plus en plus variés non seulement  dans les coloris mais aussi dans les motifs de décoration. Il est le plus porté aujourd’hui par les Vietnamiennes dans les fêtes traditionnelles.

Musée de la tunique (Bảo tàng viện áo dài)

[Retour TRADITIONS]

Arbalète magique (Trong Thủy Mỵ Châu)

English version
Version française
Galerie des photos

Nhờ có nỏ thần ban tặng bởi một vị thần rùa vàng, vua An Dương Vương (Thục Phán) đã thành công trong việc đánh bại quân Tàu. Không thể đối chiến bình đẳng với An Dương Vương, tướng nhà Tần là Triệu Ðà (Zhao Tuo) phải xin cầu hòa và gửi con trai mình là Trọng Thủy (Zhao Shi) sang triều đình Âu-Lạc  để cầu hôn và cam kết giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Trọng Thủy đã thành công trong việc chinh phục được trái tim của cô con gái vua  An Dương Vương và từ đó trở thành cố vấn thân tín của vua. Dù có tình cảm và tình yêu cho người vợ là Mị Châu, Trọng Thủy vẫn không hề quên sứ mệnh mà vua cha đã giao cho chàng ta là làm  vô hiệu hoá vũ khí lợi hại mà nó giúp vua An Dương Vương chiếm được ưu thế về quân sự.
Nỏ thần này được cất giữ cẩn thận ở một nơi chỉ có vua và Mị Châu biết thôi. Sau nhiều lần van xin của Trọng Thủy, nàng cho  chồng xem vũ khí thần kỳ này mà lẫy nỏ là một móng vuốt của Rùa Vàng. Lợi dụng một lúc sơ hở của công chúa, Trọng Thủy  thay thế lẫy nỏ  bằng một móng giả tương tự. Ít lâu sau đó, chàng viện cớ sức khỏe của cha kém và xin An Dương Vương cho phép chàng trở về nước. Trước khi đi, chàng hỏi vợ « Làm thế nào chúng ta có thể tìm lại nhau được trong trường hợp chia tay đột ngột như vầy? ». Nàng đáp: « Chàng có thể dễ dàng phát hiện thiếp ra bởi vì trong trường hợp khẩn cấp, thiếp sẽ rứt lông ngỏng của chiếc áo khoác của thiếp để làm dấu trên  các con đường thiếp đi ngang qua ».

Chắc rằng nỏ thần không còn sức tàn phá như trước, Triệu Đà mở cuộc tấn công vào vương quốc Âu-Lạc. Luôn luôn tự tin vào sức mạnh của nỏ thần huyều diệu, vua An Dương Vương chạy tìm nó  để tiêu diệt kẻ thù. Nhận thấy nỏ thần  hết còn hiệu nghiệm, nhà vua bỏ chạy bằng cách nhảy lên ngựa cùng Mị Châu trên lưng hướng về phía biển. Đến gần bờ, vua  kêu lên « Rùa vàng ơi  đến giúp ta ». Rùa vàng lập tức xuất hiện trên  và chỉ tay trỏ về phía nhà vua mà nói rằng « Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó ». Nhà vua quay lại, thấy con gái với vệt lông trắng rải rắc trên con đường mà vua đã đi theo. Giận dữ, vua mới tuốt kiếm chém Mị Châu rồi theo thần Rùa Vàng xuống biển. Nhờ có lông ngỗng hướng dẫn, Trọng-Thủy tìm thấy xác vợ chết trên bờ bãi biển. Máu chảy xuống nước  bị sò nuốt chửng và biến thành ngọc trai lóng lánh. Tuyệt-vọng, Trọng Thủy đem xác vợ về Cổ-Loa rồi tự gieo mình xuống giếng gần mộ Mị Châu. 

[Return CONTES]

Version française
Grâce à l’arbalète  magique offerte par le génie Tortue d’Or, le roi An Dương Vương arriva à défaire l’armée chinoise. Ne pouvant pas lutter à armes égales avec ce dernier, le général chinois Triệu Ðà (Zhao Tuo) dut faire la paix et dépêcha son fils Trọng Thủy à la cour de Âu-Lạc en gage de bonnes relations entre les deux pays. Trọng Thủy arriva à conquérir le cœur de la fille du roi An Dương Vương et devint ainsi le conseiller intime du roi. Malgré l’affection et l’amour qu’il porta à sa femme Mỵ Châu, il ne perdit jamais pas de vue la mission dont l’avait investi son père: neutraliser l’arme magique permettant d’assurer la suprématie militaire  du roi An Dương Vương.
Cette arbalète était bien gardée dans un endroit connu seulement par le roi et sa fille. Celle-ci, après maintes demandes insistantes de Trọng Thủy, lui montra cette arme magique dont la gâchette était constituée  d’une griffe de la Tortue d’Or.  

Profitant d’un moment d’inattention de la princesse, Trọng Thủy réussît à décrocher la griffe de la Tortue d’Or et à la remplacer par une imitation similaire. Puis, peu de temps après, il prétexta la mauvaise santé de son père et demanda au roi de lui permettre de rentrer dans son pays. Avant son départ, il demanda à sa femme « Comment nous nous retrouvons en cas de séparation brusquée? ». « Tu peux me retrouver facilement car en cas d’urgence, je jetterai sur mon passage, les duvets blancs de mon manteau, lui répondit-elle.
Ayant convaincu que l’arme magique ne possédait plus les effets dévastateurs, le général chinois se lança à l’attaque du royaume Âu-Lac. Toujours confiant en la puissance de son arbalète magique, le roi An Dương Vương alla la chercher  pour détruire les ennemis. Ayant constaté l’inefficacité de son arme, le roi prit la fuite en sautant sur son cheval et en emmenant sa fille en croupe dans la direction de la mer. Arrivé près du rivage, il s’écria « Génie de la Tortue d’Or, venez à mon secours ». Celui-ci apparut aussitôt et pointa son index vers le roi en disant « L’ennemi est derrière vous, sur la croupe du cheval ».

Le roi se retourna, vit sa fille avec la traînée de plumes blanches semées sur la route. Furieux, il sortit son épée, tua Mỵ Châu et suivit le génie de la Tortue d’Or dans la mer. Guidé par les plumes d’oie, Trọng-Thủy vit le corps de sa femme morte étendu sur la plage. Le sang qui s’en échappa fut ingurgité par des huîtres et se transforma en des perles brillantes. Désespéré, Trọng-Thủy ramena le corps de sa femme à Cổ-Loa et se suicida en se jetant dans un puits près de la tombe de Mỵ Châu.

[Return CONTES]

Version anglaise

Thanks to the magic bow given by a genius, king An Dương Vương succeeded in defeating the Chinese army. Not being able to fight in weapons on the same footing with his army, general Triệu Ðà had to make peace and send his son Trọng Thủy to the court of Âu Lạc  to secure a good relationship between the two countries. Trọng Thủy succeeded in winning the heart of king An Dương Vương’s daughter and so became the close adviser to the king. Despite of the affection and love he brought to his wife, Trọng Thủy did not lose sight of his mission vested in him by his father: neutralize the magic weapon that helped assure king An Dương Vương supremacy. This miraculous device was well guarded at a place known only by the king and his daughter. The latter, after many insistences of Trọng Thủy, showed him the magic weapon whose the trigger was made of the Golden Turtle’s claw. Taking advantage of a moment of inattention of the princess, Trọng Thủy succeeded in unhooking the Golden Turtle‘s claw and replace it with an imitation. Then, shortly after that, using his father’s ill health as a pretext he asked the king for permission to return to his country.

Before his departure, he asked his wife  » How could we find each other in case of a sudden separation? ». « You could find me easily in emergency, I will throw on my way the goose down of my coat », she replied to him.

Convinced that the magic weapon no longer possessed its devastating quality, the Chinese general launched offensive attacks on kingdom Âu Lạc. Always confident in the power of his magic bow, king An Dương Vương went for his weapon to destroy his enemy. Realizing that the weapon had been detracted, the king fled on horseback taking his daughter with him behind, in the direction of the sea. Arriving near the shore, he called out : » God of Golden Turtle, please come for help! ». The god appeared at once and pointing his index finger at the king he said « The enemy is behind you, on the back of your horse ».

The king looked back, saw his daughter with a trail of white feathers scattered on the road he had taken. Furious, he pulled out his sword, killed Mỵ Châu and followed the god of Golden Turtle to the sea. Guided by the goose down, Trọng Thủy found the body of his wife, dead on the beach. The blood that flowed down was swallowed by oysters and turned into pearls. Desperate, Trọng Thủy took his wife’s body to Cổ Loa and committed suicide by jumping in a well near the tomb of Mỵ Châu.

[Return CONTES]

Galerie des photos

Nguyễn Thái Học (Yên Bái-VF)

Chàng thì tuổi trẻ tài ba
Chết vì đất nước đúng là nam nhi
Nàng thì thân liễu sá chi
Chết vì tình nghĩa đáng ghi muôn đời

Version vietnamienne

Contrairement à d’autres villes vietnamiennes, Yên Bái n’a aucun charme touristique. Elle n’est qu’une capitale provinciale, une ville fluviale située dans la vallée du Fleuve Rouge à mi-chemin sur la route menant de Hà-Nôi à la frontière chinoise Lào Cai. Malgré cela, elle continue à s’illustrer dans le passé par sa résistance armée animée par les nationalistes vietnamiens dans la lutte pour l’indépendance. Elle incarne non seulement l’espoir du peuple vietnamien de retrouver sa liberté par la force mais aussi l’intrépidité des nationalistes devant la mort après l’échec de leur révolte en 1930. Il faut se placer dans le contexte politique de cette époque pour connaître non seulement les causes de cette révolte mais aussi l’aspiration profonde du peuple vietnamien à l’indépendance après l’échec de Phan Chu Trinh de prôner la priorité du progrès global de la société sur l’indépendance politique, suivi par sa mort et la mise en résidence surveillée d’une autre figure de proue Phan Bội Châu à la capitale Huế par les autorités coloniales.

Malgré la mise en garde du colonel Parfait-Louis Monteil en 1924, peu de réformes étaient engagées en faveur des autochtones. Par contre, l’exploitation de la main d’œuvre à bon marché dans les plantations d’hévéa était au top de son efficacité et de son horreur. L’écrivain Roland Dorgelès en a parlé dans son ouvrage  » La Route Mandarine « . Cette terre vierge, quand elle s’ouvre sous le choc dégage une haleine mortelle. Autant d’allées tracées, autant de tombes ouvertes. Les hévéas grêles et bien en ligne, sortaient de terre,  comme des rangées de croix. Les morts se compteraient par dizaines de milliers pour cause de maladie ou de sous alimentation. C’est pourquoi on ne cessait pas de se plaindre à travers le poème suivant:

Kiếp phu đỗ lắm máu đào
Máu loang mặt đất máu trào mủ cây
Trần gian địa ngục là đây Ðồn điền đất đỏ nơi Tây giết người.

Le coolie a laissé tant de sang
Qui se répandait sur la terre et qui se mélangeait avec le latex de l’hévéa,
C’était ici l’enfer sur terre
Les plantations d’hévéas de terre rouge étaient l’endroit où les colons terriens tuaient des gens.

Mù Cang Chải (Yên Bái)

Pendant un demi-siècle, les colons terriens récupéraient du latex qu’ils transformaient en or. C’était dans ces plantations que se formait le germe de la révolte. Quelques uns comme Nguyễn Văn Viên arrivaient à sortir de cet enfer et rejoignaient ainsi le parti nationaliste vietnamien (Việt Nam Quốc Dân Ðảng ) dirigé par Nguyễn Thái Học. Pour montrer sa ferveur et trouver un écho favorable auprès des déshérités , en particulier des coolies des plantations, Nguyễn Văn Viên prit l’initiative, malgré la réticence de Nguyễn Thái Học, d’assassiner Bazin connu pour son zèle dans le recrutement des coolies et dans l’expédition de ces derniers dans les plantations d’hévéas du Sud Vietnam. La mort de ce dernier donnait aux autorités coloniales l’occasion de relancer la politique de répression tous azimuts.

Le parti nationaliste devint ainsi la cible privilégiée dans cette croisade. Il n’avait plus la possibilité de se mouvoir facilement. S’il ne réagissait pas, ce serait une mort lente car tous ses membres seraient capturés tôt ou tard par les autorités coloniales. S’il réagissait par la révolte, il savait que ce serait un suicide collectif, hasardeux et exemplaire. C’est pourquoi Nguyễn Thái Học avait l’habitude de dire souvent à ses compagnons de parti:


Ðại hà chi thanh, nhân thọ kỷ hà?
Ðợi sông Hoàng Hà trong trở lại, đời người thọ là bao?
En attendant que l’eau du fleuve Jaune devient limpide, combien d’années l’homme peut-il vivre?

Photo de Nguyễn Thái Học en prison.

Selon les Chinois, le fleuve Jaune ne retrouve sa limpidité que tous les trois cents ans. Nguyễn Thái Học savait très bien qu’il emmenait ses compagnons de parti vers une mort certaine. Il ne pouvait plus attendre. Mais cette mort semblait utile car elle rappelait au peuple vietnamien qu’il n’y avait pas de choix possible autre que la lutte. Elle marquait aussi le début d’une prise de conscience et le réveil de tout un peuple face à son destin qui était jusque -là dirigé par des héritiers indignes de la dynastie des Nguyễn (Khải Ðịnh, Bảo Ðại). La révolte de Yên Bái était un échec incontestable car la plupart des leaders nationalistes étaient capturés.

Par contre, elle jetait une base solide et durable dont le parti communiste vietnamien bénéficiait pour asseoir son autorité et sa popularité auprès du peuple dans les années à venir dans la conquête de l’indépendance. Elle sonnait aussi le glas d’un empire colonial qui avait perdu vainement tant d’occasions pour rétablir le dialogue et la coopération avec les autochtones. Cela se traduisait par la condamnation à mort de tous les leaders nationalistes. Nguyễn Thái Học était le dernier à être guillotiné. Avant son exécution, il était impassible. Malgré sa faiblesse, il tenta de crier à haute voix en français:

Mourir pour sa patrie
C’est le sort le plus beau
Le plus digne d’envie….

Puis il s’allongea sans émotion en face du couperet de la guillotine. « Vive le Vietnam » c’étaient les derniers mots entendus avant la chute du couperet de la guillotine. Son sang gicla partout sous un ciel assombri. Sa tête tomba dans un seau contenant de la sciure de bois. (17 Juin 1930). Il n’avait que 27 ans. Fidèle à la tradition vietnamienne, sa femme Nguyễn Thị Giang ne tarda pas à le suivre en se suicidant le 18 Juin 1930 à l’auberge où ils se rencontraient souvent avant leur mariage. Elle a laissé une lettre dont les phrases illustraient bien l’amour indéfectible qu’elle a porté pour son mari et pour son pays:

Sống nhục sao bằng sự thoát vinh
Nước non vẹn kiếp chung tình
………
Cuộc đời xá kể chi thành bại
Trai trung thì gái phải trinh

Mieux vaut mourir que vivre avec lâcheté
Je préfère éterniser mon amour pour toi et pour notre pays
….
Le succès et l’échec sont insignifiants dans la vie
Toi, tu choisis le dévouement et moi, je préfère la fidélité.

Les dépouilles des treize nationalistes vietnamiens furent enterrées le lendemain sur une colline proche de la gare de Yên Bái.

Si cette ville est moins connue que la plupart des villes vietnamiennes, elle incarne par contre quelque chose qu’aucune ville ne peut avoir. Elle est le symbole de la maturité et de la dignité retrouvée de tout un peuple face à son destin. Elle grandissait vaillamment dans le passé en même temps que le peuple vietnamien dans sa lutte pour l’indépendance.

Việt Nam Quốc Dân Ðảng

Héros du Vietnam (Anh hùng dân tộc)

Photo prise au musée d’histoire du Vietnam  (Saïgon)

French version

English version

histoire1

Các vị anh hùng dân tộc  Việt Nam

Trên con đường lịch sử của dân tộc Việt, danh sách các vị anh hùng nó dài đến mức mà ta không thể nêu lên được hết cả. Nhưng cũng không vì thế một người trai trẻ đất Việt lại không biết đến những bậc anh hùng như Trần Hưng Đạo,  Nguyễn Huệ và Lê Lai bởi vì các nhân vật này đều là một tấm gương mẫu mực để  mà chúng ta noi theo.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228- 1300)

Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Đối mặt với  quân Nguyên gồm có 500.000 chiến binh hiếu chiến của  Hốt Tất Liệt, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam ta khó mà có thể chống lại cuộc xâm lược tàn bạo này. Mặc dù vậy, Việt Nam đã hai lần đánh bại quân Mông Cổ vào năm 1257 và năm 1287 bằng những chiến công hiển hách trên sông Bạch Ðằng nhờ tài năng của tướng Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Theo các nhà sử học, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở châu Á và châu Âu đã thành công chống lại được cuộc xâm lược của người Mông Cổ vào thời điểm đó. Cũng không có gì ngạc nhiên cả nếu chúng ta hãy nhìn lại vào  tự truyện của vị tướng này. Có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần, ông là một nhân vật phi thường. Ông biết  chú tâm lúc bấy giờ đến  mọi lực lượng chính trị của đất nước, khơi dậy tinh thần đoàn kết và  sức mạnh của cả một dân tộc với quân binh Việt Nam thông qua các hội đồng nhân dân  (như  Hôi Nghị Diên Hồng) và có  được dưới quyền  các đấng nam nhi tài năng trong đó có một nhân vật nổi bật nhất  là Phạm Ngũ Lão. Nhờ mưu lược  của ông  mà quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt hoàn toàn quân Mông Cổ bằng cách đóng cọc ở giữa lòng sông Hồng khiến phá  vỡ  được  tất cả  thuyền bè  của chúng. Dù có những chiến công hiển hách nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn biết rằng khó có thể thắng được kẻ thù hùng mạnh như quân Mông Cổ.

Nhận thức được thực tế địa lý và nhu cầu chính trị, ông biết tránh việc cắt  đứt hoàn toàn mối quan hệ với nước láng giềng hùng mạnh bằng cách đề nghị Việt Nam tiếp tục triều cống để đổi lại  có  được một nền hòa bình lâu dài. Nhờ có cái nhìn sáng suốt  của vị tướng này mà Việt Nam tìm  lại được một thời kỳ hòa bình và độc lập. Vị tướng này được người dân Việt rất hâm mộ vì họ tìm thấy ở  nơi  ông các  đức tính của một chính trị gia lỗi lạc.  Hồi ức của ông được tôn vinh hàng năm tại đền Kiếp Bắc.

Những lời khuyên mà ông dành cho vua Trần Anh Tôn trước khi ông qua đời vào năm 1300 được xem đây là những  tài liệu mà người  dân Việt tham khảo nhiều lần trong cuộc đấu tranh giành độc lập:

Khi kẻ thù tiến tới với tiếng vang ầm ĩ  như lửa và gió, thì  rất dễ dàng đánh bại nó. Nếu nó dùng tính kiên nhẫn như con tằm gặm lá dâu mà không mưu cầu thắng lợi nhanh chóng, không cướp bóc dân chúng thì chúng ta không chỉ cần tướng giỏi mà còn phải biết soạn thảo một  chiến thuật tương xứng  cũng như ở  trong ván cờ.

Trong mọi trường hợp, quân đội phải đoàn kết cùng một lòng như cha con một nhà, đối xử  dân chúng phải có tình người thì mới có thể bảo đảm được góc rễ ăn sâu  và  cơ sở mới được bền lâu.

Nguyễn Huệ (1753-1792)

Quang Trung Nguyễn Huê quê gốc ở Tây Sơn, nơi tổ tiên ông đã đến định cư để lánh nạn  chiến  tranh  giữa Trịnh-Nguyễn. Ông đã cùng với hai người anh của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ dựng cờ  khởi nghĩa ở Tây Sơn, một vùng đất gần Quy Nhơn ở phía nam Việt Nam hiện nay. Tuy ở  độ trẻ tuổi nhưng ông đã đóng vai trò lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nầy mà còn là người điều hành công việc của Ðại Việt về sau khi diệt trừ được hai nhà Nguyễn và Trịnh.

Sự  thành công đầu tiên của ông là chiến thắng mà ông dành được trong công cuộc  chống lại quân Xiêm La với tốc độ thần sầu vào năm 1785 ở phía tây sông Cửu Long (Trận Rạch Gầm Xoài Mút, Mỹ Tho).  Vua Xiêm La đã gữi sang nước ta  một đạo quân nhầm để khôi phục lại ngai vàng cho Nguyễn Ánh.

Từ một đạo quân Xiêm gồm có lúc đầu 50.000 người chỉ còn lại 2.000 binh lính. Việc này chặn đứng ngay sự bành trướng của quân Xiêm về hướng Nam Kỳ.

Ông  được nổi tiếng phần lớn là do cách ông tiến hành cuộc đại chiến chống lại quân nhà Thanh vào năm 1788. Năm đó, được liên minh với vua bù nhìn Lê Chiêu Thống, quân Tàu kéo đến kinh đô Thăng Long mà không gặp  sự kháng cự nào. Tướng Ngô Văn Sỡ của Tây Sơn ở Thăng Long đành phải rút quân về Thanh Hóa. Nguyễn Huệ quyết định tấn công quân nhà Thanh vào ngày Tết khi kỷ cương có  phần lỏng  lẻo  ở quân xâm lược. Chỉ  trong 5 ngày, ông đã chiếm lại được kinh đô Thăng Long. Tựa như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ tỏ vẻ ra khiêm tốn trước một Trung Quốc có sức mạnh vô song dù thất bại khiến ông khôi phục lại được hòa bình ở biên thùy.

Trong những năm trị vì, ông đã thành công áp đặt được chữ nôm làm chữ viết chính thức để thoát khỏi sự thống trị của nền văn hóa Trung Quốc. Mặc dù ông có ý chí cải cách đất nước, nhưng ông không có đủ thời gian để mà hoàn thành. Ông mất đi vào năm 1792, để lại một người thừa kế chỉ có 10 tuổi. Nhờ đó mà  Nguyễn Ánh, người cuối cùng còn sống sót lại của nhà Nguyễn, mới chinh phục dần dần lại đất nước và trở thành sau này là hoàng đế  Gia Long.

Đối với người dân Việt, Quang Trung không chỉ là một vị vua cải cách mà còn là một trong những nhà chiến lược nổi tiếng nhất của Việt Nam.

Người anh hùng Lê Lai

Lê Lai ông là một chiến sĩ nông dân ở vùng đất  Lam Sơn. Ông tham gia vào nhóm quân  của Lê-Lợi. Có biệt danh là người anh hùng áo vải  vì xuất thân từ gốc gác bình thường, Lê Lợi chọn Lam Sơn làm nơi tập hợp các nghĩa quân trong cuộc kháng chiến chống lại sự đô hộ của Trung Quốc vào thế kỷ 15. Chính ở trong giai đoạn chiến đấu quyết định, Lê Lợi bị quân nhà Minh bao vây ở núi Chí Linh quyết tâm bắt cho được ông để dẹp tắt cuộc  kháng chiến.

Ông ta mới  có ý tưởng tìm kiếm một người chấp nhận ngụy trang  thay thế ông và rút ​​lui theo hướng khác để đánh lừa quân nhà Minh và để  ông tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng. Trong số quân lính của  ông, có một tên lính tên là Nguyễn Thân đã đồng ý thực hiện mưu  kế này. Quả nhiên, quân nhà Minh truy đuổi Lê Lợi giả, bắt và giết hắn đi. Nhờ có Nguyễn Thân, Lê Lợi sau mười năm đấu tranh, mới  dành được  chiến thắng và thành lập lên nhà Lê trị vì được  gần một trăm năm.

Cảm phục sự hy sinh của Nguyễn Thân chết thay thế ông cho sự nghiệp cao cả của dân tộc, Lê Lợi sắc phong cho Nguyễn Thân  được mang họ Lê  và có  thụy hiệu là Lai và truyền  lệnh cho hậu thế lưu truyền lại ngày sinh nhật của Lê Lai tương ứng với tháng tám âm lịch mỗi năm. Điều này nhắc nhở giới trẻ Việt Nam phải ý thức  có được  tinh thần đoàn kết cao thượng cá nhân cho một đại chính nghĩa mà Lê Lai là một minh chứng tối cao nhất.

Version française

Sur le chemin de l’histoire du Vietnam, la liste des héros est tellement longue qu’il est difficile de les citer tous. Mais il est impensable pour un jeune vietnamien de ne pas connaître les héros tels que Lê Lai, Trần Hưng Ðạo et Quang Trung Nguyễn Huệ car ces personnages illustrent chacun un modèle exemplaire à suivre.

Lý Thường Kiệt: vainqueur des Song et des Chams

Trần Hưng Đạo: vainqueur des Mongols (ou des Yuan).

Nguyễn Trãi: vainqueur des Ming de Chou Di.

Nguyễn Huệ: vainqueur des Qing et des Siamois (Thaïs)

Des paroles inoubliables

Mieux vaut être un fantôme au Sud que devenir un prince du Nord.

Trần Bình Trọng (le général des Trần capturé et condamné à mort par les Yuan)

La vie est un jeu de hasard. La chance est contre nous. Mieux vaut mourir maintenant pour ce pays et laisser l’exemple du sacrifice.

Nguyễn Thái Học (le leader nationaliste guillotiné par les colonialistes français).


Trời đất nể nang người khí khái
Nước non tây vị kể tài tình

Le ciel et la Terre ont des égards pour les hommes de caractère
Les Monts et les Fleuves favorisent les gens de talent et de cœur.


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

(1228- 1300)

La grande destinée appartient à des gens de talent et de cœur
Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Face à une armée mongole de 500.000 guerriers de Kubilai Khan, il est difficile pour un petit pays comme le Vietnam de résister à cette invasion barbare. Malgré cela, le Vietnam arriva à défaire les armées mongoles à deux reprises en 1257 et en 1287 par des victoires éclatantes sur le fleuve Bach Ðằng grâce au talent du général Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Au regard des historiens, le Vietnam est le seul pays d’Asie et d’Europe qui arriva à contrer l’invasion mongole à cette époque. Rien n’est étonnant si on jette un coup d’œil sur l’autobiographie de ce général. Étant un proche de la famille royale des Trần, il était un personnage hors du commun.

Kubilai Khan
Fondateur de la dynastie des Yuan
Petif-fils de Gengis Khan

Il sut canaliser à cette époque, toutes les forces politiques du pays, galvaniser l’esprit d’union et l’élan de tout un peuple avec l’armée vietnamienne à travers les assemblées populaires (Hôi Nghị Diên Hồng) et être entouré des hommes talentueux parmi lesquels figurait un personnage de valeur exceptionnelle de nom Phạm Ngũ Lão. Grâce au stratagème de celui-ci, l’armée populaire vietnamienne décima entièrement l’armée mongole en plantant dans le lit de la fleuve Rouge des pieux qui brisèrent toutes ses jonques. Malgré les victoires éclatantes, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn sut qu’il était difficile de gagner la guerre face à un ennemi aussi puissant qu’était l’armée mongole.

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Le fleuve Bạch Ðằng continue à être teinté avec du sang rouge.

Conscient des réalités géographiques et des nécessités politiques, il sut éviter de couper totalement les amarres avec son puissant voisin en proposant que le Vietnam continuait à verser des tributs en échange d’une paix durable. Grâce à la clairvoyance de ce général, le Vietnam retrouva une période de paix et d’indépendance. Ce général est très adulé par les Vietnamiens car on trouve en lui toutes les qualités d’un homme politique distingué. Sa mémoire est honorée tous les ans au temple de Kiếp Bắc.

Ses conseils qu’il a donnés au roi Trần Anh Tôn avant sa mort en 1300 servent maintes fois pour la plupart des Vietnamiens dans la lutte pour l’indépendance:

Quand l’ennemi s’avance à grand fracas comme le feu et le vent, il est facile de le vaincre. Quand l’ennemi s’avance à grand fracas comme le feu et le vent, il est facile de le vaincre. S’il use de la patience comme le ver de soie qui ronge la feuille du mûrier sans chercher une victoire rapide et sans dépouiller la population, il nous faut non seulement de bons généraux mais aussi une élaboration d’une tactique adéquate comme au jeu d’échecs.
De toute façon, il faut que l’armée soit unie, n’ayant qu’un cœur comme père et fils d’une même famille, que le peuple soit traité avec humanité pour pouvoir se garantir de profondes racines et d’une base durable.

Người anh hùng của dân tộc

Nguyễn Huệ

(1753-1792)

Quang Trung Nguyễn Huệ était originaire de Tây Sơn où étaient venus s’établir ses ancêtres pour fuir les guerres entre les Trịnh et les Nguyễn. Il diriga avec ses deux frères Nguyễn Nhạc et Nguyễn Lữ l’insurrection des Tây Sơn, une région se trouvant près de Quy Nhơn dans le sud du Vietnam d’aujourd’hui. Malgré son jeune âge, c’était lui qui joua le rôle de meneur dans cette révolte mais aussi dans la gestion des affaires du Ðại Viêt après avoir éliminé les Nguyễn et les Trịnh.

Son premier succès fut la victoire qu’il sut mener avec une rapidité effarante en 1785 dans l’ouest du Mékong contre les Siamois (Bataille Rạch Gầm Xoài Mút, Mỹ tho). Ceux-ci furent envoyés par le roi siamois pour rétablir Nguyễn Ánh sur le trône. De l’armée siamoise de 50.000 hommes au départ, il ne resta que 2000 hommes. Cela permit de couper net l’expansion siamoise en direction de la Cochinchine.

Sa renommée dut en grande partie à sa manière de mener la guerre éclair contre les Qing en 1788.

Cette année là, alliés avec le roi fantoche Lê Chiêu Thống, les Chinois arrivèrent devant la capitale Thăng Long sans aucune résistance, Ngô Văn Sỡ, le chef des Tây Sơn à Thăng Long ayant préféré de retirer ses troupes à Thanh Hoá. Nguyễn Huệ décida d’attaquer les Qing le jour du Tết où la discipline s’était relâchée chez les envahisseurs. En 5 jours, il arriva à reprendre la capitale Thăng Long. Comme Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ fit preuve d’humilité face à la Chine dont la puissance était incomparable malgré sa défaite, ce qui lui restaura la paix sur la frontière. Durant ses années de règne, il imposa le nôm comme écriture officielle pour s’éloigner de la domination culturelle chinoise. Malgré sa volonté de réformer le pays, il n’eut pas assez de temps pour le faire. Il mourut en 1792, ne laissant qu’un héritier de 10 ans.

Ceci permit à Nguyễn Ánh, le dernier survivant de la dynastie des Nguyễn, de conquérir petit à petit tout le Vietnam et de devenir plus tard l’empereur Gia Long.

Quang Trung n’est pas non seulement pour la plupart des Vietnamiens un roi réformateur mais aussi l’un des stratèges vietnamiens les plus connu.

Le héros Lê Lai

Lê Lai était un soldat paysan originaire de la région de Lam Sơn. Il était engagé dans la troupe de Lê Lợi. En raison de ses modestes origines, Lê Lợi, surnommé le héros à « l’habit de cotonnade », a choisi Lam Sơn comme centre de ralliement de ses partisans dans la résistance contre la domination chinoise au XVème siècle. C’était dans une phase de lutte décisive que Lê Lợi était encerclé au mont de Chí Linh par les Chinois résolus de le capturer pour décapiter la résistance. Il eut l’idée de chercher quelqu’un qui accepterait de se déguiser sous son apparence et de battre en retraite dans une autre direction pour tromper les Ming dans leur poursuite et de lui permettre de s’échapper ainsi et de continuer la lutte de libération.

Parmi ses troupes, il y avait un soldat de nom Nguyễn Thân qui consentit à jouer ce stratagème. Comme prévu, les Chinois poursuivirent le faux Lê Lợi, le capturèrent et le tuèrent. Grâce à Nguyễn Thân, Lê Lợi, après dix années de lutte, triompha et fonda la dynastie des Lê qui allait régner près de cent ans.

Ayant admiré  le sacrifice de Nguyễn Thân de mourir à sa place pour la grande cause nationale, Lê Lợi accorda à ce dernier la faveur de porter le nom patronymique royal Lê et le nom individuel Lai et ordonna à la postérité de perpétuer l’anniversaire de Lê Lai qui correspond au huitième mois lunaire de chaque année. Cela permet de rappeler aux jeunes vietnamiens le sens sublime de solidarité de l’individu pour la grande cause dont Lê Lai est la suprême illustration.

 

Histoire du Vietnam (Lịch Sử)

 

Vietnamese version

English version

Le mot Vietnam ne fut connu qu’au XIXème lorsque l’empereur Gia Long décida de rebaptiser le pays Nam Việt. Marco Polo l’a évoqué dans son récit de voyage intitulé Le livre des merveilles sous le nom Caugigui (Giao Chỉ Quán). Son histoire peut se résumer en quelques mots: combats pour l’indépendance, la conquête de nouvelles terres et l’unification du pays.

Les Vietnamiens apparurent pour la première fois à l’âge du Bronze (civilisation Ðồng Sơn). Au Xème siècle, ils réussirent à se libérer du joug des Han et ils commencèrent à entamer dès lors le mouvement Nam Tiến avec Lê Hoàn en tentant de progresser vers le Sud à partir du delta du Fleuve Rouge, le berceau de la nation vietnamienne. Celle- ci  poussa sans relâche de nouvelles cellules dans chaque parcelle de terre propice à son mode de culture. Elle s’appuya sur une multitude de petits foyers politiquement indépendants constitués par des soldats paysans et renforcés quelquefois par les troupes du pouvoir central, se comporta comme un gigantesque madrépore formant peu à peu son atoll, finissant par encercler et à assimiler le nouveau territoire  et agrandissant ainsi le Vietnam. Cela constitue un avantage indéniable pour une politique d’expansion mais cela suppose qu’il y ait  une autorité centrale toujours forte. Le sage Confucius avait déjà parlé de ces Vietnamiens dans son livre des Rites (ou Kinh Lễ). Grâce aux facultés préhensiles de leur gros orteil bien détaché de leurs autres doigts, ces Vietnamiens pouvaient traverser les rizières et escalader les montagnes sans jamais se lasser.

L’histoire du Vietnam ce n’est pas celle de dynasties ou de grands mouvements d’idées. Mais c’est l’histoire d’un peuple de paysans obstinés qui, de la frontière de Chine jusqu’à à la pointe de Cà-Mau, peine durement dans ses rizières et impose sa marque au paysage.

Au moindre relâchement de cette autorité, le pays s’émiette facilement. C’est l’une des raisons principales qui explique que l’histoire du Vietnam est une suite de troubles et de guerres éternelles. Le Vietnam  a l’avantage d’avoir une triple structure nationale cohérente: l’état bureaucratique construit sur le modèle confucéen autour de la fonction impériale, détentrice du mandat céleste, la famille et le village, conservatoires d’une civilisation paysanne vécue par chacun des Vietnamiens comme un attachement total aux forces du sol et aux ancêtres. Cette politique de grignotage de vers à soie a permis la lente absorption de l’espace occupé par les autres peuples indochinois khmer et Cham. Les vestiges de ces derniers trouvés actuellement dans le centre du Vietnam (Phan Thiết, Ðà-Nẳng etc.. ) et dans le delta du Mékong témoignent bien de cette conquête.  

L’attachement à l’indépendance a été maintes fois prouvé dans le passé et dans la guerre du Vietnam. Il lui faut de longs siècles de combats, de guerres, de douleurs et de secousses avant d’acquérir enfin aujourd’hui la taille d’un petit dragon en Asie. On trouve dans l’histoire du Vietnam  la grandeur d’un peuple vivant avec sa  dignité et trouvant sa noblesse dans sa pauvreté et ses souffrances. On y trouve deux mille ans de lutte constante contre l’eau et la nature, ce qui traduit non seulement un attachement profond à cette terre mais aussi un accord intime et profond de ces paysans avec cette nature. Paul Mus n’a pas hésité de le souligner dans son ouvrage intitulé « Vietnam, sociologie d’une guerre, Paris, le Seuil 1952« . Cet accord s’est révélé si intime que, partout où ces circonstances se sont réalisées aucun peuple n’a réussi à résister  à la poussée des Vietnamiens, pas plus qu’aucune force étrangère n’est ensuite venue à bout de leur accrochage sur le terrain.

Malgré l’occupation pendant un millénaire par les Chinois, les Vietnamiens, imprégnés de leur culture, ont conservé leur langue bien qu’elle soit  transcrite en chinois et romanisée plus tard après l’arrivée du jésuite Alexandre de Rhodes. Si les Vietnamiens n’ont refusé aucun apport de l’étranger, c’est qu’ils ont réussi à le « vietnamiser », à garder tout ce qui est cher à tout peuple du monde, les traditions. Ce sont celles qui sont transmises de génération en génération par des hommes frêles, les pieds enfouis dans la boue des rizières.

 

Comment ne pas s’attacher à ce Vietnam, ce pays perdu où le sacrifice n’est pas un vain mot. Ce sacrifice, on l’a trouvé maintes fois dans les annales de l’histoire du Vietnam. Mieux vaut être un fantôme au Sud que devenir un prince du Nord avait déclaré le général Trần Bình Trọng avant d’être exécuté par les Mongols en 1257. La vie est un jeu de hasard. La chance est contre nous. Mieux vaut mourir maintenant pour ce pays et laisser l’exemple du sacrifice, avait dit le leader nationaliste Nguyễn Thái Học avant d’être guillotiné le 17 juin 1930 à Yên Bái.

Comment effacer dans la mémoire collective le visage innocent du jeune empereur captif Hàm Nghi, exilé à 18 ans en Algérie, les larmes aux yeux?. Comment oublier la mort tragique de l’empereur exilé Duy Tân (un accident d’avion à OuBangui-Chari en Afrique) dont le retour annoncé aurait pu changer probablement en 1945 les événements regrettables de l’histoire du Vietnam durant les dernières décennies?

Comment ne pas regretter cette terre natale qui n’est pas pourtant tendre? C’est l’impression donnée par l’écrivain Huỳnh Quang Nhường dans son best-seller Mon pays perdu (The land I lost) édité par Castor Poche Flammarion.

 Un pays que j’aime arrive-t-il à exister encore au fil de son histoire?

                    –Citadelle en colimaçon et son mythe (Cổ Loa thành và huyền thoại)
                    –Arbalète magique (Huyền thoại Trọng Thủy et Mỵ Châu)

 

 

Nan Yue (Nam Việt)

namviet
Version vietnamienne 
English version

Le royaume de Nan Yue dont le nom signifie littéralement « le pays des Yue du sud » était  à l’origine de celui du Vietnam. Il occupait entre le IIème  et le Ier siècle avant Jésus-Christ, un territoire couvrant les provinces actuelles du Guangdong (Quảng Ðông), Guangxi (Quảng Tây), HaiNan (Hải Nam) et le royaume de Âu Lạc, l’ancien pays des Vietnamiens. Ce dernier appartenait au roi An Dương Vương et  était annexé par le général Qin Zhao Tuo (ou Triệu Ðà ou Triệu Vũ Vương en vietnamien), le fondateur du royaume de Nan Yue. Aux dires des Vietnamiens, la disparition de leur pays est liée étroitement à la légende de l’arbalète magique.

Cette disparition est due en fait à cette époque  à la division des Yue et  à la manière  adoptée par Triệu Ðà pour mener  une guerre éclair contre An Dương Vương tout en faisant lui  miroiter des compromis territoriaux. Une fois réunies ces provinces sous sa bannière, Zhao Tuo fixa son siège à Panyou (Phiên Ngung) non loin de Guangzhou devenue aujourd’hui  l’actuelle Canton. Il divisa le royaume de Âu Lạc en deux commanderies, l’une connue sous le nom de Giao Chỉ et constituée essentiellement de la région du Nord Vietnam et l’autre sous le nom Cửu Chân regroupant toutes les autres provinces du centre Vietnam (Thanh Hoá, Nghệ An etc..). Selon la chercheuse française Maud Girard-Geslan (1), la population est constituée des non Hans  appartenant au groupe Bai Yue auquel sont rattachés les Luo Yue (Lạc Viet) et Xi Ou (Tây Âu).

     Vương Quốc  Nam Việt

A la chute des Qin (206 avant Jésus-Christ), il se proclama roi de Nanyue et prit le titre de Wu Wang, puis  celui d’empereur en 187. Il ne cessa pas de défier l’empire des Hán en le harcelant à maintes reprises et en occupant les hameaux du comté de Chang Sa appartenant à la dynastie des Han après que l’impératrice douairière Lu Zhi (Lã Thái Hậu) eut décidé de couper les relations commerciales avec le Nanyue. À cause de l’humidité du climat,  l’armée chinoise tomba malade et ne réussit pas à descendre dans le sud de la Chine. Elle fut obligée d’abandonner le projet d’annexion. Après le décès de  sa mère,  l’impératrice Lu Zhi et son intronisation en l’an 180 avant J.C., l’empereur Han Wen Di tenta  de  convaincre Zhao Tuo.  Il ordonna à ses fonctionnaires d’entretenir avec soin et de faire des offrandes sans cesse aux tombes des ancêtres  de ce dernier à Zhengding et il envoya en même temps sur les conseils de son premier ministre Cheng Ping (Trần Bình) l’ambassadeur  Lu Jia (Lục Giả)  pour convaincre Zhao Tuo d’accepter de se soumettre à la dynastie des Han et d’abandonner son titre d’empereur en reprenant celui du roi des Yue.   Zhao Tuo connut peut-être à cette époque le rapport des forces qui ne lui était pas favorable avec la population de l’empire des Han estimée à 50 millions d’habitants par rapport à celle de son royaume (1 million d’habitants). Il décida de reprendre le titre de roi des Yue et accepter d’être sous le giron de  l’empire des Han. Il était officiellement roi sur les papiers lors de l’échange des ambassadeurs mais dans son  royaume il continuait à se comporter comme un empereur jusqu’à la fin de sa vie car les pays aux alentours, les royaume des Man Yue et des Xi Ou de l’Ouest acceptaient d’être sous sa protection. Grâce à la clairvoyance et le courage politique, il réussit à regrouper tous les petits états Yue et à les transformer  en un royaume fort et unifié des Yue face au péril des gens du Nord.

Il était apprécié par la plupart des historiens vietnamiens tels que Lê văn Hưu de l’époque des Trần dans son ouvrage intitulé « Le livre complet sur l’histoire du Grand Viet ») ou dans la  » Grande déclaration sur la pacification des Chinois » de Nguyễn Trãi de l’époque des Lê postérieurs »: les dynasties Triệu, Đinh, Lý, Trần se succédaient pour édifier le pays. Zhao Tuo était considéré ainsi comme le premier roi vietnamien depuis qu’on avait l’histoire écrite. Selon l’écrivain vietnamien Hà văn Thùy, Zhao Tuo a le mérite de laisser aux Vietnamiens un héritage précieux. Il réussit à créer et à consolider l’esprit d’union des Vietnamiens afin d’éviter la sinisation durant presqu’un siècle. C’est grâce à lui qu’il y avait la base solide pour les futures  révoltes des sœurs Trưng, Triệu Ẩu, Lý Nam Đế , Mai Hắc Đế, Phùng Hưng  avant la réussite de Ngô Quyền dans la guerre de libération. La révolte des sœurs Trưng reçut à cette époque l’écho favorable non seulement dans le territoire des Vietnamiens mais aussi dans la région Liangguang (Guangdong)  jusqu’à  Hai Nan. C’est dans le sud de la Chine que lors de sa visite avec  l’équipe médicale française entre les années 1979-1989,  le docteur vietnamien Trần Đại Sỹ a relevé la présence de plus de 200 sites où la vénération des sœurs  Trưng (Zheng Cè et Zheng Er) était visible avec leurs autels.  Le  royaume de Nanyue ne peut pas être absent dans le parcours de la lutte d’indépendance des Vietnamiens.  Quoique Zhao Tuo fût le général de l’armée des Qin, il épousa une femme vietnamienne Trình Thị issue de Đồng Xâm (Thái Bình). Son fils Trọng Thủy, son petits-fils Triệu Muội, son arrière petit-fils Anh Tề tous avaient plus ou moins du sang Yue dans leurs veines. Ils avaient aussi un attachement profond à leur pays. Ils étaient  fiers  d’être « Enfants du Dragon, Grands Enfants de l’Immortelle ». Ils méritaient d’être rois de la dynastie des Yue du Sud.

Sa renommée était si grande que dans les écrits chinois de l’époque, son nom comme son royaume, fut cité à maintes reprises. Il décéda en l’an 137 avant J.C. Ses descendants devaient régner sur ce royaume durant au moins un siècle à travers cinq générations. Son successeur immédiat était Zhao Mei, son petit-fils, plus connu sous le titre d’empereur Wen de Nanyue. Sa tombe, creusée au flanc de la colline de Xianggang, près de Canton, fut  découverte en 1983 par une équipe d’archéologues cantonais. Sous l’influence de sa mère Cù Thị d’origine chinoise, l’avant-dernier empereur de cette dynastie décida de céder son royaume à l’empire des Han. Étant mis au courant de ce projet, son premier ministre vietnamien Lử Gia décida de l’éliminer ainsi que sa mère et d’introniser à sa place son demi-frère connu sous le nom de « Dương Vương« . Prétextant l’usurpation du pouvoir, les Han envahirent le royaume et l’annexèrent en l’an 111 avant J.C. malgré la résistance héroïque de Lữ Gia. Dès lors, le pays des Vietnamiens  passa sous la domination chinoise. La propagation de la culture chinoise ne se faisait pas d’une manière pacifique durant presque un siècle. Elle était marquée par une série de révoltes sanglantes suivantes:

  • Révolte de deux héroïnes Trưng Trắc (Zheng Cè) l’aînée et Trưng Nhị (Zheng Èr)  durant les années 40-43 après J.C.
  • Révolte de l’héroïne Triệu Ẩu en l’an 248.
  • Révolte du héros Lý Bôn (ou Lý Nam Ðế) durant les années 544 – 602.
  • Révolte dirigée par Mai Thúc Loan (ou Mai Hắc Ðế) en 722.
  • Révolte du héros Phùng Hưng (ou Bồ Cái Ðại Vương) en 791.

 Cela conduisait à la fin à la victoire écrasante sur le fleuve Bạch Đằng avec le général Ngô Quyền  en l’an 938 et terminait la première domination chinoise durant presque 1000 ans.

  Dynastie des Yue du Sud

  • Triệu Đà:  Zhao Wu Di  (Triệu Vũ Đế) 203-137 avant J.C.
  • Triệu Muội: Zhao Wen Di (Triệu Văn Đế) 137-122 avant  J.C.
  • Triệu AnhTề: Zhao Yinqi (Triệu Minh Vương) 122-113 avant J.C.
  • Triệu Hưng: Zhao Xing (Triệu Ai Vương) 113-112 avant J.C.
  • Triệu Kiến Đức: Zhao Jiandé (Triệu Dương Đế) 112-111 avant J.C.

Paris le 12/11/2020

Nước Nam Việt

Nam Việt được gọi  là « nước của người Việt ở phía nam » có nguồn gốc đến nước Việt Nam và bao gồm từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam  và nước Âu Lạc, một quốc gia cổ của người Việt.  Nước  nầy có vua tên là An Dương Vương, bị thôn tính bởi tướng  nhà Tần Triệu Ðà hoặc Triệu Vũ Vương, người sáng lập vương quốc Nam Việt. Theo người Việt, sự biến mất của nước Âu Lạc có gắn liền với truyền thuyết về nỏ thần. Trên thực tế là do sự chia rẻ giữa người Việt và  cách hành sự của Triệu Đà trong một cuộc chiến chớp nhoáng chống lại An Dương Vương  bằng cách hứa giải về  lãnh thổ. Sau khi các tỉnh này được thống nhất dưới ngọn cờ của ông, Triệu Đà đóng đô tại  Phiên Ngung không xa Quảng Châu mà ngày nay được gọi là Canton. Ông đã chia Âu Lạc thành ra hai quận, một quận được gọi là Giao Chỉ và chủ yếu nằm ở miền bắc Việt Nam và một quận dưới tên Cửu Chân gồm  tất cả các tỉnh khác ở miền trung Việt Nam. (Thanh Hoá, Nghệ An vân vân…). Theo nhà nghiên cứu người Pháp Maud Girard-Geslan (1), cư dân ở nơi nầy không phải là người Tàu mà thuộc về dòng đại tộc Bách Việt trong đó có người Lạc Việt  và Tây Âu.

Khi nhà Tần bị diệt vong (năm 206 TCN), Triệu Đà tự xưng vương lập ra nước Nam Việt dưới tên là Triệu Vũ Vương rồi sau đó xưng Triệu Vũ Đế vào năm 187 TCN. Ông không ngừng thách thức đế chế  nhà Hán bằng cách đánh chiếm  các ấp của quận Trường Sa thuộc về nhà Hán sau khi Lã Hậu cắt đứt buôn bán với Nam Việt. Nhưng vì thời tiết oi bức binh sĩ của  nhà Hán đổ bệnh và không thể đi xuống phương nam khiến cuộc xâm chiếm nước Nam Việt bất thành. Sau khi Lã Thái hậu qua đời và sau khi  lên ngôi  năm 180 TCN thì Hán Văn Đế cố gắng thuyết phục Triệu Vũ Đế.  Ông sai quân chăm nôm mồ mả và lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Đà ở Chân Định và gửi sứ giả  Lục Giả theo lời chỉ bảo của Trần Bình sang Nam Việt để thuyết phục Triệu Vũ Đế trở lại làm vương của nhà Hán. Có lẽ Triệu Đà thấy sức mạnh của nhà Hán lúc bấy giờ với số dân 50 triệu nên ông buộc lòng qui phục lại nhà Hán và trở  lại xưng vương (tương kế tựu kế).   Nhưng chỉ vương với nhà Hán trên giấy tờ luc trao đổi sứ thần chớ ở Nam Việt ông vẫn là hoàng đế ở phương Nam vì các nước như Mân Việt, Tây Âu Lạc cũng chịu qui phục với Nam Việt. Nhờ sự sáng suốt khéo léo chính trị, ông thành công trong việc thống nhất được các tiểu quốc người Việt để tạo thành một nước Việt hùng mạnh để chống họa đến từ phương bắc. 

Ông được nhiều sử gia nước Việt khen ngợi như Lê Văn Hưu (đời Trần) trong « Đại Việt Sử ký toàn thư » hay trong « Bình Ngô đại cáo » của Nguyễn Trãi (đời nhà Hậu Lê):Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.  Như vậy Triệu Đà được thừa nhận là một ông vua đầu tiên dựng nước ta từ khi có sử. Theo nhà văn Hà văn Thùy thì Triệu Đà có công để lại cho người dân Việt một di sản qúi báu. Ông tạo nên và củng cố tinh thần người dân Việt  tránh sự hán hóa có được gần một thế kỷ. Chính nhờ ông mà có nền tảng cho các   cuộc khởi nghĩa về sau của hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, Lý Nam Đế , Mai Hắc Đế, Phùng Hưng trước khi Ngô Quyền  thành công  trong công cuộc giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng  được  sư hưởng ứng vào thời đó  không những ở Việtnam mà luôn cả vùng Lưỡng Quảng sang tận  đến Hải Nam. Chính ở vùng phiá nam Trung Quốc, qua cuộc viếng thăm của bác sỹ Trần Đại Sỹ cùng phái đoàn ủy ban y học của Pháp trong những năm 1979-1989, thì có  ghi nhận đến 200 địa điểm có đạo thờ vua bà (Hai bà Trưng).  Không thể  thiếu Nam Việt trong cuộc hành trình giành độc lập của người dân Việt.  Dù Triệu Đà võ tướng nhà Tần nhưng có vợ  Trình Thị người Giao Chỉ (Đồng Xâm, Thái Bình) nên con  Trọng Thủy, cháu Triệu Muội luôn cả  Anh Tề cũng có một phần máu Việt trong người. Họ cũng có sự gắng bó mật thiết với  đất nước. Họ không thẹn con Rồng cháu Tiên và cũng xứng đáng làm vua chúa của một triều đại Việt Nam.

Tiếng tăm  của ông lừng lẫy đến nỗi ông được nhắc đến nhiều lần nhất là là vương quốc của ông trong các tác phẩm Trung Hoa thời bấy giờ. Ông qua đời vào năm 137 TCN. Con cháu của ông tiếp tục cai trị vương quốc này cũng gần một thế kỷ qua năm thế hệ. Người kế vị ngay sau  ông là  Triệu Muội (Zhao Mei), cháu trai của ông, con Trọng Thủy được biết đến nhiều với tên là  Triệu Văn Đế của nước Nam Việt nhờ cuộc khám phá lăng mộ của ông vào năm 1983 bởi một nhóm nhà khảo cứu người Quảng Đông. Mộ nầy nằm dưới độ sâu 20 thước ở dưới chân núi Tượng Cương ở thành phố Quảng Châu. Bị  ảnh hưởng của mẹ Cù Thị  là người gốc Hoa, vị hoàng đế áp chót của triều đại này đã quyết định nhượng lại vương quốc của mình cho đế chế nhà Hán dưới thời cai trị của Hán Vũ Đế. Được biết rõ  dự án này, tể tướng Lử Gia  quyết định loại bỏ vua nầy và mẹ của ông và đưa anh trai cùng cha khác mẹ với ông là « Dương Vương » lên làm vua. Dựa cớ soán ngôi, người Hán mở ra chiến lược  xâm lược và thôn tính vương quốc nầy vào năm 111 TCN bất chấp sự kháng cự anh dũng  của Lữ Gia cùng người Việt. Từ đó về sau, đất nước của người dân Việt bị Trung Quốc cai trị. Việc truyền bá văn hóa Trung Hoa  không diễn ra một cách bình yên trong suốt một nghìn năm  đô hộ này. Nó  được đánh dấu bằng một loạt các cuộc nổi dậy đẫm máu sau đây:

  • Cuộc khởi nghĩa của hai nữ anh hùng Trưng TrắcTrưng Nhị trong những năm 40-43 SCN.
  • Cuộc khởi nghĩa của nữ anh hùng Triệu Ẩu năm 248.
  • Cuộc khởi nghĩa của anh hùng Lý Bôn (tức Lý Nam Ðế) trong những năm 544 – 602.
  • Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan (tức Mai Hắc Ðế) lãnh đạo năm 722.
  • Cuộc khởi nghĩa của anh hùng Phùng Hưng (hay Bồ Cái Ðại Vương) năm 791.

và dẫn đến chiến thắng vẽ vang trên sông Bạch Đằng với Ngô Quyền vào năm 938 và kết thúc gần thiên niên kỷ Bắc thuộc.

Tombe à linceul de jade du roi
Triệu Văn Đế (Zhao Mei)


Bibliography
(1) Maud Girard-Geslan: La tombe à linceul de jade du roi de Nan Yue à Canton In: Arts asiatiques. Tome 41, 1986. pp. 96-103.
Hà Văn Thùy:  Hành trình tìm về côi nguồn . Nhà xuất bản Văn Học
Lê Văn Hưu:  Đại Việt Sử ký toàn thư

Royaume de Văn Lang (Nước Văn Lang)

English version
Version française
Galerie des photos

Văn Lang thực sự  chỉ lại thời kỳ  huyền thoại của mười tám vị vua Hùng hay Lạc Vương (2879-257 TCN) hay 2622 năm. Đây là một truyền thuyết nhắc đến sử thi của các vua Hùng. Vương quốc này nằm ở lưu vực sông Dương Tử và được đặt dưới quyền cai trị của một vị vua Hùng. Người này được chọn vì lòng dũng cảm và công đức. Ngài chia vương quốc của mình thành các quận và ủy thác cai trị  cùng những người anh em của mình thường  được gọi là « Lạc Hầu » (hầu tước). Các con trai của ngài được phong làm Quan lang, các con gái thì  được gọi là Mỵ nương. Dân chúng thì  được  gọi là « Lạc Việt« . Họ có  thói xăm  mình. Tập tục “man rợ” này, thường được nhắc đến trong các biên niên sử của Trung Hoa. Nếu chúng ta dựa vào các văn bản của Việt Nam thì nhằm bảo vệ người tránh  được sự tấn công của các giao long.  Đây là lý  do người Hoa thường gọi họ là Qủi.

Khố và búi tóc là trang phục thông thường của dân tộc này thêm đó còn có các đồ trang trí bằng đồng. Người Lạc Việt hay nhuộm  răng đen, nhai trầu và giã gạo bằng tay. Người dân thường  trồng lúa trên những cánh đồng ngập nước. Họ sống ở vùng đồng bằng và ven biển trong khi ở vùng núi Việt Bắc ngày nay và ở một phần lãnh thổ tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay thì là nơi sinh sống của người Tây Âu, tổ tiên của người Tày, Nùng và Choang. Các dân tộc hiện đang sống rải rác ở Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Vào thời điểm đó, người dân Việt sống bằng nghề đánh cá và canh tác. Họ đã biết dùng vỏ cây để may quần áo, nấu rượu cần, biết làm nương rẫy, ăn cơm tẻ hay cơm nếp, ở nhà sàn để tránh thú dữ vân vân…

Từ những tập tục này, mới có nhiều truyện cổ tích dân gian như chuyện bánh chưng bánh dày, sự tích trầu cau”, chuyện “Sơn Tinh  Thủy Tinh ” vân vân… Cũng có một phần hiện thực trong lịch sử của vương quốc này. Thành Cổ Loa nằm ở huyện Đông Anh cách Hà Nội 16 cây số  về phía Tây Bắc, các nha chương  thuộc về văn hoá Phùng Nguyên được tìm thấy ở  các làng Xóm Rền và Phùng Nguyền  và  các đền thờ  các vị vua Hùng là bằng chứng hiển nhiên trong con mắt của các nhà sử học.

Version française 

Văn Lang désigne en fait l’époque semi légendaire de dix huit rois Hùng ou Lạc Vương (2879-257 avant J.C.) soit 2622 ans. C’est une légende relatant l’épopée des rois Hùng. Ce royaume était situé dans le bassin du fleuve Yang tsé (Sông Dương Tử) et était placé sous l’autorité d’un roi Hùng. Celui-ci était élu pour son courage et ses mérites. Il partageait son royaume en districts confiés à ses frères connus sous le nom « Lạc hầu » (marquis). Ses enfants mâles avaient le titre de Quan lang et ses filles celui de Mỵ nương. Son peuple était connu sous le nom « Lạc Việt« . Ses hommes avaient coutume de se tatouer le corps. Cette pratique « barbare », révélée souvent dans les annales chinoises, était si l’on croit les textes vietnamiens, destinée à protéger les hommes des attaques des dragons d’eau (con thuồng luồng)(ou giao long). C’est peut-être pour cette  raison que les Chinois les désignaient souvent sous le nom Qủi (démons). 

Pagne et chignon constituaient le costume habituel de ce peuple auquel étaient ajoutées des parures en bronze. Les Lạc Việt se laquaient les dents en noir, chiquaient du bétel et pilaient du riz à la main. Agriculteurs, ils pratiquaient la culture du riz en champs inondé. Ils vivaient dans les plaines et les régions littorales tandis que dans les régions montagneuses du Việt Bắc actuel et sur une partie du territoire de la province chinoise actuelle de Kouang Si vivaient les Tây Âu, les ancêtres des groupes ethniques Tây, Nùng et Choang disséminés actuellement dans le Nord Vietnam et en Chine du Sud.

A cette époque, le peuple vietnamien vivait de la pêche et de la culture. Il savait déjà utiliser les écorces des arbres pour confectionner les vêtements, faire de l’alcool de riz , pratiquer la culture sur brûlis, s’alimenter du riz ordinaire ou du riz gluant, se loger sur pilotis pour éviter les animaux sauvages etc… De ces mœurs, sont nés bien des contes populaires vietnamiens (l’histoire du gâteau de riz gluant, celle du « Bétel et de la Noix d’Arec« , celle du « Génie des Monts et celui des Mers » etc..).

Il y a une part de réalité dans l’histoire de ce royaume. Les ruines de la citadelle Cổ Loa (Citadelle en colimaçon) située dans le district de Ðông Anh à 16 km au nord-ouest de Hanoï, les lames de jade (nha chương) datant de la culture de  Phùng Nguyên dans les villages Xóm Rền et Phùng Nguyên et le temple de ces rois Hùng témoignent de vestiges indiscutables au regard des historiens.

 

Galerie des photos(Temple des rois Hùng)

HUNG_VUONG

No Images found.

[Return CIVILISATION]

Con Rồng cháu Tiên (Version française)

English version

Lạc Long Quân- Âu Cơ

Autrefois, le Vietnam était un pays mi-sauvage, mi-cultivé, infesté de bêtes fauves qui cohabitaient avec l’homme dans des cavernes profondes de la forêt. Vivait alors un jeune homme nommé Lạc Long Quân intelligent et doté de pouvoirs extraordinaires. Dans ses veines coulait un sang mêlé du sang des Dragons du pays Bách Việt. (Bai Yue). Dans ses pérégrinations par monts et par vaux, il arriva à la région maritime du Sud Est du Lạc Việt. Voyant la population décimée par un monstre marin, il saisit un javelot qu’il rougit au feu et le lança dans la gueule du monstre. Il le tua sur le coup. Il coupa son corps en trois morceaux qu’il jeta dans les trois endroits différents. Le premier morceau fut jeté dans une montagne nommée  nommée Cẩu Đầu Sơn, le tronc du corps dans une autre montagne  Cẩu Đầu Thủy et la queue dans une île connue sous le nom de  Bạch Long Vỹ.

Le peuple Lạc Việt étant une fois en paix, le héros s’achemina vers la région de Long Biên dont les habitants étaient terrorisés par un renard devenu un monstre. Celui-ci se transformait souvent en jeune homme pour entrer dans les villages et enlever les femmes et les jeunes filles. Lạc Long Quân dut batailler trois jours et trois nuits avant d’abattre le monstre et d’entrer dans sa caverne pour libérer les survivantes. Arrivé à la région Phong Châu, il affronta le monstre des arbres tellement féroce qu’il dut recourir à son père Kinh Dương Vương pour le chasser dans le sud. Après avoir ramené la paix dans ces trois régions, il fut ému de compassion pour le peuple si malheureux et si simple. Il décida d’y rester pour le protéger et lui apprendre à cultiver le riz, à couper les arbres pour construire les maisons destinées à le protéger contre la pluie, le vent et les bêtes sauvages. Le peuple le vénérait et le considérait comme son chef. Il l’éduquait aux vertus familiales des parents et d’époux. Il était vénéré par ce peuple comme son père biologique et comme  celui qui lui engendrait la vie.

Avant de revoir sa mère au Palais des Eaux, il recommanda à son peuple, en cas de malheur, de l’appeler bien fort: Père. Et il revint aussitôt. Quelque temps après, le Seigneur des Hautes Régions du Nord, Ðế Lai, à la tête de ses troupes, envahit le Lạc Việt en emmenant avec lui sa ravissante fille du nom de Âu Cơ. Ðế Lai opprima et rançonna la population. Il obligea cette dernière à lui fournir la viande et le riz pour son armée. Dans sa détresse, le peuple appela: Père, revenez vite pour nous sauver. Lac Long Quân fut sur place, mais il ne trouva pas Ðế Lai. Seule Âu Cơ était là, en promenade au milieu de ses servantes. Ébloui par sa beauté, il emmena Âu Cơ dans son palais. Âu Cơ elle-même, charmée par le jeune homme, consentit à vivre désormais avec lui. Ðế Lai, revenu en colère, envoya ses troupes pour assiéger la ville.

Mais Lac Long Quân commanda aux bêtes sauvages de le repousser. Incapable de lutter contre un gendre aussi puissant, Ðế Lai se retira du Lạc Việt , laissant sa fille sur la terre étrangère. Après quelque temps, Âu Cơ mit au monde une grande poche d’où sortirent cents œufs  donnant  naissance à cent garçons robustes comme leur père. Quand vint le jour de séparation  et de retour auprès de sa mère, Lạc Long Quân dit à sa femme Âu Cơ: « Vous êtes de la race des fées. Je suis de celle des Dragons. Nous ne pouvons pas rester ensemble toute la vie. Vous avez besoin de vivre en altitude. J’ai besoin de vivre au bord de la mer. Vous restez ici ainsi avec cinquante enfants. J’emmène les cinquante autres dans la région maritime pour  nous y installer. Depuis, Âu Cơ restait dans les montagnes avec ses cinquante enfants. Ceux-ci devenaient ainsi les ancêtres de tous les peuples vivant de nos jours sur les hauts plateaux et dans les montagnes (ce sont les montagnards et les minorités ). Quant à Lac Long Quân, il descendit avec ses enfants dans la plaine, au bord de la mer. Il leur apprit à défricher pour y fonder un royaume. Son fils aîné devint ainsi le premier roi du Vietnam et prit le nom dynastique de Hùng Vương et appela son pays Văn Lang.

C’est pourquoi les Vietnamiens sont fiers d’être « Enfants du Dragon, Grands Enfants de l’Immortelle » (Con Rồng Cháu Tiên).